tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
02.06.2009
Viễn Phương
Đàn vịt màu xanh rêu

Đã khuya lắm rồi!


Đêm im ắng lạ.


Không như mọi đêm không gian luôn rền rỉ tiếng u u xa xăm của những viên đạn pháo bay qua để mất hút phía chân trời.


Không như mọi đêm, không gian ầm ầm tiếng bom B52 làm chuyển rung mặt đất.


Không như mọi đêm, lũ máy bay ném bom trộm như một đám côn đồ gầm rú, lao vút qua xé nát bầu trời.


Đã khuya lắm rồi. Dưới hầm sâu, chị Sáu vẫn còn nằm trăn trở.


Một mảnh trăng sáng lóa lọt qua miệng hầm bò mấp mé đến chân giường.


Đêm nay ngoài trời chắc trăng sáng lắm. Mong ước làm sao được đi dưới ánh trăng, được sánh vai cùng bước trên vạt cỏ non tơ, đẫm sương với người mình thương nhớ.


Chị Sáu nghe tim như thắt lại.


Chị nghiêng mình, nằm áp má xuống manh chiếu lạnh ngắt.


Hai dòng lệ nóng tuôn trào.


Chị Sáu là y sĩ, trưởng trạm Quân y huyện Củ Chi. Chồng chị tập kết ra Bắc năm 1954. Chị vào vùng Đất Thép tiếp tục chiến đấu.


Mười lăm năm đằng đẵng trôi qua. Đã trôi qua cả một thời xuân sắc.


Chị Sáu ngày nay không còn cái vẻ đẹp rạng rỡ, tươi mát của một thời con gái, nhưng chị có được cái nét đẹp đằm thắm trang nghiêm, của một người phụ nữ ba mươi, vẻ đẹp đậm đà trầm lặng của một người đàn bà đã trải qua nhiều xa cách, khổ đau, đợi chờ, thương nhớ.


Tất cả những thương bệnh binh, ai đã qua trạm xá này đều giữ một cảm tình sâu đậm nơi cô y sĩ tận tụy đẹp xinh dịu dàng và trầm lặng.


Anh em đồng chí thường đến thăm chị, mang đến đây tấm lòng quý mến, yêu thương của những trái tim bè bạn.


Bấy giờ đã vào thời cao điểm của chiến tranh - Củ Chi là vùng tự do oanh kích. Đất Củ Chi đã bị hủy diệt hoàn toàn. Vườn tược, xóm làng giặc ủi trắng mênh mông. Trường học, chùa chiền, nhà cửa đều bị tàn phá tiêu điều. Mặt đất đầy những hố bom toang hoác.


Mọi sinh hoạt đã chuyển sâu vào lòng đất.


Trong hoàn cảnh ấy, chịu trách nhiệm điều hành một trạm quân y với thường xuyên đôi ba chục thương, bệnh binh quả là một việc không đơn giản. Càng không đơn giản đối với một người phụ nữ chân yếu tay mềm.


Chị Sáu tất tả suốt ngày. Gạo thóc, cơm nước, thuốc men, mổ xẻ, chuyển thương, chống càn, dựng cứ. hầu như không lúc nào chị được nghỉ ngơi. Đêm về, dưới ngọn đèn leo lét, chị ngồi im lặng, theo dõi tiếng pháo bầy, tiếng bom trộm, tiếng B52, tiếng máy bay trinh sát xẻ nát bầu trời, chị toan tính dự đoán tình hình và hoạch định các ứng phó với những trận càn lớn nhỏ một sớm một chiều xảy ra như cơm bữa. Những buổi trưa, trời nắng gắt, cái nắng như thiêu vùng nhiệt đới, khi mọi người đều say ngủ, chị Sáu vẫn ngồi im lặng nhìn sững ra cánh đồng trơ trụi, mặt đất cháy đen. Trên đầu máy bay trinh sát vẫn quần đảo kiên trì. Thỉnh thoảng một quả pháo vút bay qua rồi nổ ầm đâu đó. Nắng. Cái nắng đổ lửa, cái nắng như đốt như thiêu ụp xuống một vùng đất đang bốc cháy, thành tro, thành than. Ngoài trời từng lượn nắng hừng hực như ngọn lửa tràn qua, lướt qua cánh đồng mênh mông, hiu quạnh, đen ngòm thuốc pháo.


Những lúc này mới thấy thèm khát làm sao, quý báu biết bao nhiêu một màu xanh, màu xanh biêng biếc của táng cây, màu xanh êm đềm của vạt cỏ, màu xanh mát dịu của vầng trăng, màu xanh yên ả của bầu trời. Nhưng mặt đất thì cháy đen và bầu trời thì mịt mờ chất độc. Giữa lúc ấy thì cơn mưa đầu mùa ập đến. Gió cuồng, sấm nộ chớp giật, mưa tuôn. mưa tuôn xối xả ào ạt suốt một buổi chiều. Nước chảy cuồn cuộn, ập vào hầm thương binh, hầm mộ ngập, bếp Hoàng Cầm ngập, các công sự ngập, tràn cả vào địa đạo. Rồi cơn mưa bỗng dưng tạnh hẳn. Đất trời như tươi tỉnh lại.


Hai ngày sau, khắp mặt đất đã phủ một màu xanh. Hạt lúa, hạt bắp, hạt đậu, hạt mè rơi vãi khắp nơi qua những trận càn đều đã nảy mầm, nứt mộng - Cây chết, cỏ cháy cũng đã đâm chồi. Rau sam, rau dệu, rau dền cũng nảy tược và những rặng tầm vông khô cũng đổi sắc, xanh dần.


Màu xanh đang vươn lên, đất đai như sống lại.


Chính giữa lúc ấy thì chị Sáu nhận được một tin mừng. Chồng chị sắp trở về Nam. Được tin, chị Sáu sững sờ, im lặng mà nước mắt chảy ròng ròng.


Từ hôm ấy, chị như sống lại, như trẻ ra, mắt lại long lanh và đôi má xanh xao lại ửng hồng hạnh phúc. Chị sống lại như mặt đất cằn cỗi sau trận mưa to lại xanh cỏ, xanh chồi. Cũng như mấy ngàn đêm qua, những đêm này chị lại thao thức, nhưng không phải thao thức với đôi mắt lo âu, đăm chiêu, thờ thẫn mà chị thao thức với ánh mắt rực sáng chong vào đêm tối. Chị mỉm cười, tin tưởng ở hạnh phúc ngày mai - Chị thao thức để nguyện cầu, và bà con đã ban cho chị cái biệt danh là cô Sáu Nguyện, cô Sáu Nguyện cầu.


Cô Sáu nguyện cầu cho chồng đi đến nơi về đến chốn, vì cô biết con đường Trường Sơn hiểm nguy vạn dặm biết bao người ra đi mà chẳng biết đến bao giờ mới trở về.


Chị rùng mình nghĩ đến những nấm mồ hoang lạnh trên đỉnh Trường Sơn âm u mịt mù mây trắng. Chị ứa nước mắt nghĩ đến những xác người chết khô trên những chiếc võng mắc giữa rừng, chết vì kiệt sức, chết vì đói, chết vì một cơn sốt ác tính đột xuất và bạo tàn. Và những nắm xương rải rác, rã tan, chết vì biệt kích, vì đạn bom, vì thú rừng, vì rắn độc. Chị ứa nước mắt và âm thầm cầu nguyện.


Chị gặp nhiều người đi tới nơi, về tới chốn. Đã có những chiến sĩ “mùa thu” về đến đất Củ Chi này nhưng hầu như tất cả đều xanh xao, vàng vọt, gầy mòn, héo úa, thân dại ma tàn, cơ thể đầy vi trùng thương hàn, sốt rét, với những trận đau dai dẳng thập tử nhất sanh kéo dài hàng quý, hàng năm “Nhưng không sao, chị lại mỉm cười, ánh mắt long lanh hy vọng, miễn là về tới. Miễn là về tới!”.


*


*           *


Một sáng vào khoảng vừa ráo biệt kích, sương rừng vừa tan, chị Sáu cùng Ba Thu đi ra Đồng lớn thăm các má. Chiều về chị mang theo một chiếc lồng nhỏ đựng năm con vịt vừa mới nở, năm con vịt nhỏ xíu, xinh xắn như năm nhúm bông gòn các má mới cho.


Chị đặt chiếc lồng vịt ngoài cửa hầm, lấy cành cây che lại. Mỗi ngày chị cho chúng mấy nhúm cơm. Đàn vịt con lao nhao lít nhít kêu chíp chíp nghe cũng vui tai, nhất là ở cái xứ từ lâu đã vắng tiếng gà gáy, chó sủa này. Nửa đêm ầm ầm pháo nổ, chúng giật mình thức dậy đòi ăn, kêo lao nhao chíp chíp làm chị cũng tỉnh giấc thức theo. Chị vuốt ve chúng và cũng cảm thấy đỡ cô đơn giá lạnh giữa đêm dài. Đàn vịt lớn sởn sơ. Mỗi bữa ăn, hai chén cơm đầy chúng chỉ lua qua là hết sạch chẳng thấm vào đâu. Ở chiến trường ác liệt này hột cơm hột gạo quý hơn vàng. Giặc bao vây tra xét, nhân dân chỉ tiếp tế được từng lon, từng nắm. Thương bịnh binh lắm hôm còn húp cháo loãng, gạo cơm đâu mà nuôi lũ vịt nhóc vô tích sự này.


Chị đành phải thả chúng ra cho chúng đi tự túc. Chúng lội xuống những mương, những rãnh, những hố, những hào đầy nước mưa, nước mội, mặc sức vẫy vùng. Trong hố bom thiếu gì ếch nhái, nòng nọc, cá con, rồi rong rêu, cỏ dại. Bơi lội đã rồi chúng chạy lên bờ rượt bắt con cào cào, con châu chấu, con mối cánh, mối càng, bới đất kiếm con trùn, con dế, con ốc, con cua dồn căng nhóc bầu diều. Chúng tung tăng suốt ngày và chúng lớn nhanh như thổi. Mới đó mà lông trắng đã phủ kín mình. Cong trống đã mọc lông theo([1]). Nhìn đàn vịt mập ú, núc ních chạy tới lui chị mỉm cười: “Anh ấy về tới đây, có cái mà bồi dưỡng. lại còn phải ra mắt bạn bè”.


Bạn bè của chị đông lắm. Nghe tin anh ấy sắp về ai cũng mừng cho chị, đòi chị phải ăn khao và làm đám cưới lại.


Thời buổi chiến tranh, không ai “huấn luyện” mà bầy vịt tự nhiên rất đỗi khôn ngoan. Dù lặn lội mò tìm ở đâu, nghe “Ầm” tiếng pháo nổ gần là chúng cắm cổ hè nhau xếp hàng một chạy vào hầm, ngã bổ vào lòng chị Sáu miệng la vang cạp cạp. Anh chị thương binh cười ngất, quên cả đau, nhưng Chín No, du kích ấp lại không bằng lòng. Anh nói với chị Sáu cà lăm cà lập:


- Nè! Nè! Chị Sáu! Chị nuôi chi cái thứ chỉ điểm đó. Chị coi chừng! Nghe pháo nổ bầy vịt nó cắm cổ kêu quạt quạt chạy thẳng vào hầm. Lông nó trắng như bông. Đầm già([2]) thấy được thì kể như tiêu cái cứ nầy đó - Tiêu cái ấp này nữa không chừng. Thứ đồ “vịt chỉ điểm”, chị nuôi chi cho tốn công, tốn gạo?. Cho em đi. Em làm một bữa. “nhậu quắc cần câu”. Tám Đực, Sáu Cù, Tư Beo, Ba Tộ. số du kích nói chung đều đồng ý như thế. Nhưng các má thì phản đối thẳng thừng. Các má bênh vực chị Sáu: “Thôi bây! Để nó nuôi lớn, ít bữa chồng nó về thì có cái bồi dưỡng. Tội nghiệp tụi nó bây.”. Các má còn “ý kiến” thêm: “Mà giặc nó có đánh bom thì du kích tụi bây mới có dịp mà lập công trạng chớ!”.


Tuy được các má binh nhưng chị Sáu nghe du kích nói cũng giật mình. Đúng là nguy hiểm thật. Bọn giặc chú ý vùng này lắm. Máy bay trinh sát quần đảo suốt ngày cắt ngang xẻ dọc bầu trời. Con sáo sậu rỉa lông làm rung cành trúc nó cũng lia cho mấy loạt, con cá tràu quẫy đuôi làm xao mặt nước nó cũng bắn hỏa tiễn “Cảo. đùng”. Nói chung bất cứ cái gì biểu hiện còn có sự sống trên đất này là nó hủy diệt. Một bầy vịt năm con, mập ú, lông trắng toát như mây, xếp hàng một cắm cổ chạy thằng vào mé rừng chồi bảo sao nó không để ý. Nó mà phát hiện ra thì tan nát hết. Đâu chỉ hỏa tiễn, phản lực thôi mà dám cả B52, kỳ cho tan nát hết.


“Phải tính thôi!” - Chị Sáu suy nghĩ. Nhưng tính sao đây? Cho du kích làm thịt thì chị không nỡ - Không phải chị tiếc. Có thứ gì mà chị tiếc với anh em du kích; nhưng bây giờ đối với chị, bầy vịt trắng đẹp khôn ngoan này đã nảy sinh một tình cảm máu thịt rồi. Chúng nó cũng sống gian khổ như mình, cũng chịu đạn bom với mình, cũng đem đến cho mình niềm vui và sự an ủi. Chúng vô tội và vô tư như thế thì ai nỡ giết nó ăn thịt cho đành.


Chị lặng thinh suy nghĩ.


*


*           *


Căn cứ chúng tôi đóng bên cạnh trạm quân y. Chúng tôi thuộc bộ phận văn nghệ nông thôn T4([3]). Chúng tôi đóng sát một bên trạm xá cũng là có ý để nhờ vả khi gặp lúc bố càn thắt ngặt.


Cơ quan chị Sáu thuộc quân y. Người ta là “nhà binh” cái thế mạnh lắm. Cần xây dựng cứ, đào địa đạo, huyện đội huy động vài chục dân quân du kích dễ như không. Họ đào một hơi vô tới xương sống, chứa mấy chục người mà không được. Còn anh em chúng tôi, văn nghệ sĩ, “kỹ sư tâm hồn”, cái tiếng thì nghe “cao quý”, “sang trọng” thật, nhưng cái thế thì yếu xìu. Gọi là tiểu ban văn nghệ cấp thành mà cơ quan chỉ le ngoe vài mống.


Ông Bảy Tranh tuổi ngoài lục tuần, ngày ngày lấy uống trà “quạu” làm việc tiêu sầu. Cô Tám Hạnh, ngoài thành mới vô, tướng học trò trói gà không chặt, có lẽ bị suy dinh dưỡng hay sao mà ốm cà tong cà teo như cò ma đỉa đói. Ông Ba Phến thì từ ngày cha mẹ vợ con ông bị trái bom đìa chết hết đến nay thì ông trở nên lặng lẽ, thỉnh thoảng ứa nước mắt khóc thầm, tối ngày cứ lo ủ phân trồng rau muống “cải hoạt” cho anh em. Nói ngay, ông trồng rau muống có trình độ lắm. Ít ai bằng. Còn lại ông Tư Họa, thằng Sự, thằng Long và tôi, bốn anh em cũng chỉ có da bọc xương, nỗ lực đào suốt tuần cũng chửa rồi cái “miệng thí”([4]). Thôi thì ở ghé với chị Sáu mình cho tiện. Có bố càn, chui nhờ địa đạo “Cơm vắt nước chai”, sẵn chị Sáu lo cho mấy chục thương binh thì lo cho chúng tôi luôn cũng chẳng bận rộn thêm gì. Thôi thì đành cam bề “tùng quân nương bóng cát đằng” vậy.


Được cái là chị Sáu cũng sẵn sàng đùm bọc, mà anh chị em văn nghệ sĩ ăn ở thì ai cũng quý cũng thương - vả lại anh em chúng tôi đều là người “cao thượng” chẳng ai thèm quan tâm hoặc tự ái gì về cái việc vặt: “ăn theo” phụ nữ này.


Cơ quan chúng tôi đa số là họa sĩ: ông Bảy Tranh, ông Tư Họa, ông Ba Phến đều là họa sĩ - Tám Hạnh và thằng Sự cũng mới chập chững vào nghề vọc màu, cầm cọ. Một tối, chị Sáu lọ mọ qua hầm chúng tôi. Uống cạn chén nước hà thủ ô thơm phức do anh Bảy Tranh sao chế, chị khen ngon hơn trà “Long tỉnh” rồi chị mới chậm rãi vô đề.


Chị hỏi ông Bảy Tranh:


- Dạ, không biết chú Bảy làm cái nghề vẽ vời mà có dư màu không vậy?.


- Màu gì? - Anh Bảy hỏi lại.


- Màu vẽ. màu dầu, màu nước, màu sơn gì đó. em không biết.


Thằng Sự mau miệng:


- Dưới hầm kho thiếu gì, màu nào cũng có, mua về để vẽ tranh, mà có vẽ được cái gì đâu. Bom pháo nó đánh thun đầu. Có ra khỏi hầm được đâu mà vẽ.


Tư Họa cười xã giao (chắc tính còn nhờ vả về lâu):


- Chị Sáu đã cần thì không cũng phải có. Sự mầy xuống kho lục tìm cho chị Sáu vài ống màu đi em.


- Màu gì chị Sáu? Bộ chị muốn chuyển ngành sang hội họa sao? - Tôi hỏi.


Chị Sáu mỉm cười, bí mật:


- Màu xanh. xanh da trời, xanh nước biển, xanh cẩm thạch, xanh lá mạ, xanh rêu.


- Có cần cọ không cô Sáu? - Anh Bảy hỏi.


- Dạ! Có càng tốt.


Thằng Sự đem màu và cọ lên. Chị Sáu cám ơn rồi cầm lấy hấp tấp ra về.


Chúng tôi bàn tán đến nửa đêm: không biết chị Sáu định làm gì? Không lẽ vẽ tranh? Có lẽ vẽ khẩu hiệu - Nhưng vẽ khẩu hiệu sao không lấy màu đỏ, màu vàng - Khó hiểu thật.


Ầm! Hầm hố rung chuyển, đất cát rơi ào ào. Lại bom trộm nổ gần.


- Tắt đèn bây! - Anh Bảy ra lịnh.


Đêm ấy, chị Sáu thức gần tới sáng. Chị pha màu, xanh đậm, xanh dợt, xanh lá cây, xanh da trời, xanh đọt chuối. Chị sơn hết bộ lông mấy con vịt. Bây giờ mỗi chiếc lông con vịt là một cái lá, mỗi chiếc lông vịt là một cọng rong. Chị làm rất kỹ lưỡng, rất tỉ mỉ, rất công phu. Trời sáng chị thả bầy vịt ra; trạm quân y đều cười ngả nghiêng ngã ngửa, mặc dù nội quy cơ quan tuyệt đối cấm gây tiếng động, sợ e có cây nhiệt đới([5]) hoặc biệt kích ở gần. Bầy vịt núc ních chạy xàng xê, thổn thện, nhưng bây giờ không còn là bầy vịt trắng “chỉ điểm” nữa, mà là một bầy chim lạ, sắc lông màu xanh rêu, màu cỏ úa. Bầy vịt luồn trong cỏ, lặn dưới ao, lẫn lộn với rau nhúc, rau muống, rau mác, lục bình, có trời mới phân biệt rõ đâu là chim, đâu là cỏ.


Chị Sáu cười rạng rỡ đắc chí: “Chị đã cứu được bầy vịt khôn ngoan”.


Nhưng Chín No thì vẫn trành tròn:


- Vịt cỡ nầy vừa lứa áp chảo là số “dách”, nấu cháo cũng ngon. để ít bữa nó già. dai nhách. (Bộ răng của ổng không được tốt).


Từ đây bầy vịt được sống những tháng ngày yên ổn, thoải mái, ít bị ai dòm ngó, phê phán, khen chê.


Nhưng vài hôm, chị Sáu phải “tân trang” lại chúng một lần, vì thứ màu nội hóa này dễ phai lắm mà bầy vịt thì cứ lặn hụp suốt ngày.


*


*           *


Bầy vịt vẫn lớn sởn sơ.


Chị Sáu vẫn nguyện cầu chờ đợi. Tin tức về anh Sáu vẫn biền biệt mây trời.


Thời gian cứ trôi qua trong bão tố chiến tranh.


Giặc giã. đạn bom, may rủi. số phần. cái sống, cái chết, cái mất, cái còn ai lường trước được.


Chỉ mấy tháng qua mà bên quân y đã mất ba người: anh Tư Giám, anh Tám Đoàn, cô Ba Thu.


Cơ quan tôi cũng nhiều thay đổi. Anh Bảy Tranh, cô Tám Hạnh phải về R vì sức yếu. Tư Họa, thằng Sự đã hy sinh trong một chiều săn biệt kích.


Mùa mưa đã qua.


Trời rao rao gió bấc.


Chiến dịch mùa khô của giặc bắt đầu.


Trạm quân y đã mấy lần bị bom pháo bố ruồng, tơi bời tan tác.


Bầy vịt đã già.


Chị Sáu vẫn nguyện cầu, hy vọng.


Một ngày. bầy vịt ra đi ăn từ hừng sáng, nhưng đến chiều chỉ về có ba con, còn hai con không thấy bóng.


Chạng vạng, chị Sáu và cơ quan chạy bổ đi tìm.


Gốc chuối, bờ tre, rừng chồi, ven suối.


Cuối cùng phát hiện được xác chúng nằm chết cứng bên cạnh một hố bom đìa, thịt da bầm tím.


Bà con bàn tán: “Chúng ăn phải chất độc hóa học của Mỹ rồi”.


Nhớ lại năm ngoái, máy bay Mỹ có thả xuống đây nguyên một thùng chất độc. Hơi độc cuốn theo chiều gió bay đi làm ngạt thở cả xóm, cả làng. Du kích đào huyệt chôn vùi nó đi và xúc đất đổ lên. Tưởng đã ổn rồi, không ngờ năm nay trời mưa già, chất độc lại xì lên và mấy con vịt xấu số này ăn phải.


Chị Sáu buồn bã ẵm hai con vịt chết về nhà. Chín No lọ mọ đi theo xin xác. Chị Sáu không cho, vì sợ e chất độc từ vịt lây sang người.


Nhưng chị Sáu không cho còn vì một lẽ khác: làm sao có thể ăn thịt được những con vật đã suốt một đời đồng cam cộng khổ cùng sinh cùng tử với mình. Chị đào huyệt chôn chúng sau căn hầm của chị.


Thời gian ảm đạm trôi qua.


Cách độ một tháng sau, vào giữa trưa, trong lúc mọi người đang ăn cơm thì bỗng nghe tiếng kêu quang quác. Bầy vịt từ bưng cắm cổ chạy về. Chúng vừa chạy vừa la thất thanh mình đầy khói lửa.


Hai con vịt bốc cháy như hai cây đuốc. Con thứ ba vô sự nhưng kinh khiếp hãi hùng.


Anh em ráp vào, tiếp dập tắt lửa. Đôi vịt bị phỏng quá nhiều. Tìm nguyên nhân: thì ra có mấy trái bom lân tinh giặc ném ngoài biền năm trước, bùn cát lấp lên, ngọn lửa đã tắt từ lâu rồi. Nhưng khi bầy vịt rúc rỉa moi lên, lân tinh gặp khí trời lại ầm ầm bốc cháy. Hai con vịt không chạy kịp bị cháy khắp mình. Chị Sáu hết lòng chữa trị. Nhưng chất lân tinh độc lắm. Lửa đã tắt rồi, nhưng lân tinh vẫn ăn khuyết sâu vào xương thịt. Hai con vịt được xức thuốc, băng bó nằm một chỗ cứ kêu chíp chíp suốt ngày. Đôi mắt mờ cứ ứa lệ nhìn về chị Sáu. Một đêm gần sáng nó bỗng vùng dậy quằn quại giẫy giụa đập cánh kêu la chạy bổ vào lòng chị Sáu rồi ngã ra tắt thở. Chị Sáu đầm đìa nước mắt, chị lại ôm xác hai con vịt đem chôn phía sau hầm, bên cạnh những nấm mộ cũ. Con vịt còn lại, từ ấy tỏ ra âu sầu buồn bã. Nó ít đi kiếm ăn, thường nằm lì lịch trong bóng tối. Thỉnh thoảng nó đi ra một thoáng rồi lại trở vào nằm lặng lẽ ở chân giường chị Sáu. Nó không kêu la, không chạy giỡn như trước kia. Nó ốm dần, kiệt dần, lả dần.


Rồi một sáng, nó ra đi trước mặt trời.


Đến trưa, đến tối, không thấy nó về. Chị Sáu, anh chị em túa ra đi tìm kiếm. Nhưng vô ích. Nó đã ra đi mãi mãi không bao giờ còn trở lại. Có lẽ nó đã chết vì một loạt đạn vu vơ hay vì kiệt sức ở một bờ ao, lạch nước nào.


Bầy vịt màu xanh rêu đã chết hết rồi.


Tin anh Sáu vẫn phương trời biền biệt.


Chị Sáu vẫn tháng năm cầu nguyện, đợi chờ.


Đợi chờ mãi.


Đợi chờ mãi.


Mái tóc bạc dần.


Chiều chiều mây trắng bay qua.


 


Tháng 9-1992


 


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 







([1]) Lông theo: lông mọc ở đuôi cong vút lên khi vịt biết đạp mái.




([2]) Đầm già: máy bay chuồn chuồn, trinh sát.




([3]) T4: tên bí mật để gọi khu Sài Gòn - Gia Định.




([4]) Miệng thí: miệng đào để moi đất, xong rồi lấp bỏ.




([5]) Cây nhiệt đới: loại khí tài để thu tiếng động in hình một cái cây, giặc thường thả trong rừng để dò tìm cơ quan, bộ đội. Thu xong, cây nhiệt đới lại phát sóng báo về Trung tâm chỉ huy.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »