tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
11.06.2009
Viễn Phương
Mặt đất mùa xuân (1)

Ông Sáu Chí cười khà khà, hàm râu trên nhúc nhích: “Thằng Mỹ chó đẻ mầy tính đẩy lùi tụi tao về thời đồ đá hả? Được! Tao sẽ cất cái nhà cho mầy dòm “lé” con mắt đục. mày biết tay!”.


Đó là câu nói đầu tiên của ông Sáu Chí khi cơ quan quyết định tạm giã từ những căn hầm sâu, ẩn trong lòng đất và vươn lên, cất nhà trên mặt đất núp dưới cây rừng.


Ôi! Có ai thấu được nỗi ước ao thầm kín của chúng tôi, những người bám trụ trên đất thép Củ Chi, suốt sáu bảy năm dài phải sống trong hầm sâu, trong địa đạo.


Có những buổi trưa, trong lòng đất tối, nhìn ra khoảng trời xanh đầy nắng ấm và lòng tôi thèm muốn vô cùng được ngồi trên mặt đất, dưới một tán cây, nghe gió thổi lao rao qua mái tóc, qua trái tim mình. Nhứt là những đêm trăng, thèm khát làm sao được cùng người thương ngồi dưới trăng xanh trên bãi cỏ non, nhìn những làn mây mỏng bay qua, nghe sương lạnh từ từ thấm ướt mái đầu mình, thân áo mình, thịt da mình. Ôi! Sung sướng làm sao được sống những ngày bình yên trên mặt đất.


Những nỗi ước ao đơn giản ấy cứ ngày đêm giằng xé trái tim tôi cho đến một ngày. một ngày lịch sử. Cái ngày Mỹ xuống thang, ngụy xuống thế, chiến trường thưa pháo vắng bom, chúng tôi từ hang sâu trồi lên mặt đất cất được mái nhà. Ôi! Cái ngày vô cùng hạnh phúc.


Và trong tâm hồn tôi, tôi thấy trên vùng đất hủy diệt nầy, trong khu rừng hủy diệt nầy, ngày hôm nay, mỗi ngôi nhà nho nhỏ mọc lên là một đóa hoa tươi báo hiệu mùa Xuân, một mùa Xuân Chiến Thắng. Và đóa hoa đẹp nhất rừng là ngôi nhà ông Sáu Chí.


Một căn hầm vuông tượng, mỗi cạnh độ ba thước, chiều sâu không quá một thước hai, trên cất cái nhà một căn hai chái lợp tranh mát rượi. Bộ cột bằng cây săn đá róc vỏ trắng phau. Vách dùng bằng tranh đánh thật khéo. Cọng tranh nhỏ, vuốt kỹ, đánh con thiệt đều, ngó mát con mắt.


Để ngăn nước mưa chảy xuống, quanh miệng hầm ông be một cái bờ bề ngang độ ba tấc. Ông lấy thước đo, lấy ván làm “bai” tô cái bờ thẳng băng như sợi chỉ giăng, góc cạnh bén ngót như thềm gạch.


Nền và vách ông đầm dẽ chặt, rồi ông lấy ve chai ghè, chà láng o đen mun, đặt bàn chân nghe mát rượi như nền xi măng. Trên miệng hầm bước xuống, phía tay mặt, một cái giường tre kê sát vách. Vạt giường bằng tre già, mỗi miếng độ hai phân, lên nước bóng dờn màu đỏ au, chưa nằm đã thấy mát. Bên trái là cái võng ni lông màu xanh lợt. Phía cuối hầm, ở giữa là cái bàn con, mặt bên bằng tre già, trên có để cái đèn vỏ bom bi màu vàng, và một bình bông bằng vỏ đạn hai mươi ly, trong cắm mấy đóa hoa mua tím nhạt. Giữa bàn là cái bình trà màu gan gà và mấy cái chung mắt trâu để trong chiếc dĩa trẹt lòng. Cái điếu cày có hai chân đỡ, nằm ghếch mỏ như khẩu súng thần công.


Lủng lẳng ngoài hiên, mấy giò phong lan đang độ nở hoa tỏa hương ngào ngạt.


Những cây gõ, cây bằng lăng, những bụi tre hoang, cây cao su che rợp bóng trên đầu, nhưng mặt đất thì được dọn kỹ lắm. Ngoài một số cây để lại trang trí như cây sim, cây sầm, cây chùm đuông, cây ngành ngạnh, mấy bụi mua đang ra hoa tím, mấy dây nhãn ngát hương, kỳ dư những cây cỏ dại đều được dọn sạch, mặt đất trống trơn.


Dưới bóng tre ông kê mấy cái bàn thấp, mấy cái ghế con, nơi ấy khách văn chương có thể uống trà đàm đạo.


Rải rác trong khu vườn, nơi nầy là trái bom năm trăm ký cưa hai cắm xuống đất, trên trồng mấy cụm mười giờ. Đây là trái bom của Út Đực cưa lấy thuốc để làm mìn gạt đánh xe tăng năm trước. Nơi kia là chiếc nón sắt Mỹ lủng mấy lỗ giữa trán, còn sót lại sau trận càn “xêđaphôn”, bây giờ ông đổ đất trồng vạn thọ, rồi vỏ đạn pháo cực nhanh nuôi dây trầu bà, rồi bửng xe tăng kê làm bàn đánh cờ tướng.


Nhưng đặc biệt là ngay trước nhà, bên cạnh hố bom đìa là một chiếc trực thăng còn nguyên vẹn. Chiếc trực thăng này rớt ngoài biền không biết tự hồi nào du kích không hay. Có lẽ trực thăng rơi nhiều quá, du kích đếm không xuể nên còn bỏ sót. Tụi thằng Lâm, thằng Thạnh, thằng Sáng ra sông mò cá ngó thấy nó chạy về rủ thêm Mười Lê, Mười Tâm, thằng Tường, thằng Thắng ra khiêng nguyên chiếc đem về để trong cứ coi chơi.


Chiều chiều, thằng Thạnh nhỏ ra quay cái chong chóng cho động cơ nổ lạch cạch rồi ao ước: “Trông mau tới ngày giải phóng chú cháu mình đổ xăng cỡi trực thăng bay thẳng về Sài Gòn chơi!”.


Đó là cảnh nhà ông Sáu Chí. Ông mê nhà còn hơn dân ghiền mê rượu. Có những đêm trăng, một hai giờ khuya ông còn thức đi săm sỏi tỉa tót mấy cây sim, cây sầm, giò lan, chậu kiểng.


Rồi ông động viên mấy đứa nhỏ: “Tết nầy tao “móc” khách thành vô đông lắm, toàn khách trí thức văn nghệ sĩ. Tụi bây ráng o nhà cửa cho đẹp để người ta thấy dân kháng chiến mình sống có văn hóa”.


Đẹp nhứt là nhà ông Sáu Chí nhưng độc đáo nhứt phải nói là nhà ông Ba Trà. Ông Ba Trà ở tù Côn Đảo mới về. Gặp lúc cơ quan hè nhau xây cứ, ông tuyên bố: “Tôi cất một cái nhà vô cùng độc đáo, không cần đinh, không cần dây, chỉ cưa ngàm lắp mộng thôi mà nó vững như trời tròng”. Và ông bắt tay vào việc. Chỉ với một lưỡi cưa cùn và cây rựa mẻ, lục như cái trành bầm mà ông cũng dựng được ngôi nhà cao ráo, mát mẻ, đặc biệt là không cần đinh, không cần dây chỉ cưa ngàm vô mộng. Có điều nhà của ông cất hơi quá khổ nên trông giống cái nhà thờ. Nhưng có hại gì? Như thế càng tăng thêm vẻ đa dạng của kiến trúc giải phóng mình.


Còn nhà tôi, xin miễn nói nhiều. Cái tính tôi từ trước vốn thích giản dị, vậy mà ông Sáu Chí cứ nói tại tôi ít chịu làm siêng. Không siêng mà tới bây giờ bản thảo của tôi chất cầu tới đầu. gối. Nhưng thôi, cãi cọ chi cho thêm mất đoàn kết.


Đốn đủ sáu cây cột rồi, róc vỏ chi cho mệt, tôi chôn sâu xuống đất. Gác đòn dông, đòn tay, mấy cây rui, mấy cây mè, xong tôi tủ lên ba tấm ni lông nóc, thêm hai tấm ni lông dừng làm vách nữa là xong cái nhà. Rồi tôi ra rừng chặt một cái cây có chà có gạc hẳn hoi vác về cắm sâu trong góc nhà. Đó là cái móc để máng khăn, áo, bình toong, xanh tuya, cạcbin, súng ngắn v.v. Tôi bện một cái giàn sát trên mái để bòng bị, bản thảo, tài liệu. Những thứ nầy phải giữ kỹ, tôi gác trên cao để ngừa mối.


Xong tôi nhồi đất gò mối với nước muối nắn ba ông táo. Cái bếp lò quan trọng lắm. Hằng ngày phải nấu nước hà thủ ô uống cho bổ khỏe và đen tóc, rồi còn luộc sữa, pha trà, rang đậu phộng nhai cho đỡ buồn. Kháng chiến bạc đầu chớ đôi khi cũng nhớ vợ, thương con buồn lắm. Thỉnh thoảng tôi cũng nấu mì con tôm, nấu chè đậu xanh bồi dưỡng.


Chưa đầy tuần lễ tôi đã hoàn thành cơ ngơi nhà cửa. Sau đó, tôi nằm lắc võng làm thơ, bài thơ “Tình nghĩa đồng bào” tôi đã hứa với bên tòa báo.


Nhà của tôi đầy đủ tiện nghi như vậy, còn chê chỗ nào được nữa chớ? Vậy mà thỉnh thoảng ông Sáu Chí qua trước nhà tôi, đứng chắp tay sau đít nhìn vào nhúc nhích bộ râu cười mỉm, vẻ khinh thị.


Nhưng ông trời ở cao mà con mắt sáng lắm.


Một đêm tối trời, đã khuya lắm rồi mà tôi còn nghe tiếng ông bước đi lạc xạc, thỉnh thoảng khọt khẹt ho hen.


Tôi bước qua, rọi đèn pin thấy ông đứng lom khom trên miệng hầm.


- Sao khuya quá rồi mà chưa đi ngủ?


Ông trả lời lừng khừng:


- Ờ. chưa ngủ.


Rồi ông tiếp:


- Ờ. có con rắn hổ nó phóng vô nhà mình.


Tôi bước tới, rọi đèn xuống hầm.


- Thì đuổi nó lên rồi đi ngủ chớ.


Ông chỉ xuống gầm giường:


- Nó chui vô đống “từ khí”. đuổi không được.


Tôi cúi nhìn xuống. Trời đất quỷ thần ơi! Dưới gầm giường ông lổn nhổn một đống đồ phế thải: vỏ bom dầu, xích xe tăng, thùng bom bi mẹ, bàn nện bom napan, vỏ đạn pháo các cỡ, bom bi lép, nón sắt lũng, nòng súng hư, thùng đạn đại liên bể, băng đạn sét, ống hỏa tiễn. vân vân và vân vân.


- Trời ơi! “Cái thứ đồ đồng nát lạc xoong” nầy mà ổng chất chi dưới hầm cho chật chội, mất vệ sinh?


- Ậy! Để trên nó ăn cắp hết!


- Ai ăn cắp của ông? Ăn cắp chi ba cái thứ “chổi cùn giẻ rách” đó?!


- Ý! Hiếm lắm đó! Mấy cái vỏ bom xăng lớn thì thằng Mười Lê nó lấy gò chảo gò nồi, vỏ nhỏ thì thằng Ninh nó lận muỗng, lận đĩa. Ống hỏa tiễn bom bi thì thằng Tường thằng Thắng nó đem làm ống trúm đặt lươn - Còn bom bi lép thì tụi thằng Sáng, thằng Lam nó trút thuốc pháo làm đèn đem tặng mấy con y tá dưới trạm quân y hết. Không tin, qua nhà tụi nó coi, y như cái xưởng Ba Son, nó gõ đục cóc ken tối ngày. Còn mấy cái bàn nện, thằng Thạnh con nó dám ăn cắp đem bán lấy tiền mua thuốc ARA. Tao nghe nói lúc này chệt Sài Gòn vô mua tới ba bốn trăm đồng một cái. Xe tăng, thiết giáp, phản lực, trực thăng nó còn cưa bán. Đống từ khí này, bỏ trên một buổi nó lấy tiêu hết.


- Thì cho tụi nó chớ ông để làm chi?


- Ý! Cho sao được. Tao để dành trang trí nhà cửa chớ!


Tôi lắc đầu:


- Thôi! Qua nhà tôi ngủ chớ không lẽ thức tới sáng.


Ông cười mơn:


- Cậu xuống tháo cái võng giùm mình.


Tánh ông sợ rắn.


Đó là chuyện cái nhà ông Sáu Chí. Còn cái nhà ông Ba Trà mới “độc đáo nữa”.


Bữa đó có cô Tám, em ruột ông ở thành phố thăm. Cô Tám cũng còn trẻ, mặt hoa da tuyết lại thêm có giọng hát hay. Mấy thằng thanh niên tới lui chạo rạo.


Sau chầu cà phê sữa tối, tôi tuyên bố giải tán, ai về nhà nấy, để anh em người ta tâm sự. Trời bắt đầu chuyển mưa, giông gió ào ào. Mấy trận mưa cuối mùa, sấm sét dữ lắm. Rồi mưa trút trắng rừng.


Khoảng mười giờ đêm, trong cơn mưa ào ạt, tôi đang thiu thiu bỗng nghe tiếng la bài hãi:


- Bớ! Bớ!


- Tiếp các cha ơi! Tiếp! Tiếp!


Tôi bấm đèn pin, đội mưa gió chạy sang.


- Cái gì? Cái gì? Rắn rít hay heo rừng, chàm oạp tấn công. Nhưng không!


Trước mặt tôi là một cảnh tượng lạ kỳ hết sức. Hai anh em ông Ba Trà mình mẩy ướt như chuột lột, mỗi người ôm một gốc cột rị lại. Còn cái nhà thì phần trên nó ngả ẹo ngang. Gió giật mấy tấm ni lông, nóc bay phất phới như chim trời vỗ cánh. Mấy thằng thanh niên thì đứng ngoài mưa ôm bụng cười lăn cười lộn. Tới chừng tôi cất tiếng nạt: “Nhào vô tiếp bây!”, tụi nó mới sực nhớ, nhào vô.


Thì ra tại cái nhà cất theo lối độc đáo, không có đinh, không có dây, chỉ toàn cưa ngàm lắp mộng. Hồi đó cây tươi, ngàm, mộng nó khít khao chắc chắn, bây giờ cây khô nó tóp lại, lỏng ngàm, hở mộng hết. Hai anh em cột võng nặng, đưa tới đưa lui nó lung lay nhúc nhích. Nhà cao lêu nghêu, gặp cơn gió mạnh, cái giàn trên nó ẹo ngang luôn. Hai anh em bị giàn nóc sụp đè, la chói lói. Tôi cũng cố nén cười: “Thôi, hai anh em qua nhà tôi nghỉ đỡ, tôi qua nhà ông Sáu Chí”.


*


*           *


Hồi chiều tôi xuống quán Chín No mua được hộp sữa con chim với gói trà “Củ Măng”. Tôi có kêu mấy đứa nhỏ qua làm kẹo uống nước chơi.


Thằng Ninh có tài làm kẹo sữa ngon lắm. Nó bắc chảo lên đổ vô chút xíu mỡ rồi trút trọn hộp sữa vào. Nó ngồi khuấy riết cho tới lúc sữa đổi màu, cô lại. Để nguội, ăn vừa thơm vừa béo y như kẹo Tây.


Thằng Lam nhìn cái nhà tôi một hồi rồi lên tiếng:


- Nhà chú Sáu bầy hầy quá mức.


Thằng Tường bổ sung:


- Ai chứ ông Sáu em thì xập xệ từ hồi nào tới giờ.


Tôi đánh trống lảng:


- Tao trồng mấy dây “hủ qua” tây ngoài sân gần có trái rồi đó bây.


Thằng Thạnh không tha:


- Nhà ông Sáu anh ngó mát con mắt. còn nhà ông Sáu em ngó xốn con mắt quá!


Tôi chống chế:


- Tại tao không có hoa tay bây!


Mấy đứa nhỏ lao nhao:


- Biết tại chú mắc làm thơ.


- Mà ai biểu chú làm.


- Chú “ừ” một tiếng, tụi cháu lo hết.


Tôi nghĩ bụng: có được cái nhà như ông Sáu Chí ở cũng khoái chớ! Nhưng còn mại hơi.


- Tụi bây lo ruộng nương, còn lo đánh giặc chống càn không xiết, rảnh đâu mà lo nhà cửa.


Mấy đứa nhỏ lại lao nhao:


- Thì tranh thủ chớ!


- Miễn là chú ừ đi!


- Tụi cháu làm cho chú coi.


- Thì “ừ!” - Tôi gật đầu, rồi khích thêm - Tụi bây tranh thủ chắc tới Tết mời rồi.


Thằng Tường vỗ cây cột, trề môi:


- Ở nhà như vầy, khách thành vô họ cười chú rồi cười lây luôn cả tụi cháu nữa.


Tôi nói cố lì:


- Tại tao thích vậy bây. Róc hết vỏ cây cột trơn lu coi vô duyên, mà cột võng trợt lên trợt xuống hoài.


Mấy đứa nhỏ cười cái rần.


*


*           *


Còn một tháng nữa tới Tết.


Cơ quan bận rộn tíu tít.


Chị Bảy, cô Xuân thì lo củng cố giàn giao liên “CK” rà lại đường cũ, soi đường mới để rước khách vào ăn Tết cho được an toàn. Năm nay dự kiến đón nhiều khách lắm.


Mười Lê, Mười Tâm thì lo mua sắm thức ăn dự trữ. Tết nhứt, lại có khách quý ở thành vào, phải ăn uống cho đàng hoàng tươm tất chớ. Lại còn phải mua sắm nhiều thứ. Bốn chục khách là phải có bốn chục cái mùng, bốn chục cái võng, bốn chục tấm đắp, bốn chục bộ quần áo, bốn chục cái khăn choàng. Mọi thứ đều phải lo cho chu đáo.


Ông Sáu Chí thì suốt ngày lui cui nhà cửa. nhà cửa!


“Ăn ở phải cho có văn hóa”. Ông lập đi lập lại và cứ đòi “giải thể” cái nhà tôi.


Mấy đứa nhỏ thì lo trâu lo ruộng vất vả tối ngày. Lại còn phải lo chống càn nữa. Tụi ngụy đã rệu lắm rồi, nhưng thế nào nó cũng cố mở “trận càn tất niên” để phá cái Tết của chúng tôi. Tụi nầy, đánh chết cái nết không chừa. Lại phải moi thêm địa đạo, khách đông lắm. Tội nghiệp mấy đứa nhỏ, thật bù đầu, bù cổ.


Chỉ mình tôi là được ở không, nằm lắc võng ráng lo sáng tác cho ra bài thơ “Tình nghĩa đồng đội” để kịp đăng báo Tết. Mình lao động trí óc anh em người ta cưng lắm.


Trong lúc ấy thì cơ quan lại có việc không vui. Sáng nay trước khi đi ra xóm Trại móc hàng, Mười Lê khều tôi ra, nói nhỏ:


- Anh Sáu ráng thuyết phục động viên cho thằng Tường nó nhận khuyết điểm đi. Đây thuộc phẩm chất cán bộ. Phải làm cho rõ trắng đen, để lâu không có lợi.


Tôi lắc đầu:


- Ông là Bí thư chi bộ. Ông nói có phải thuận hơn không?


Mười Lê nài nỉ:


- Biết vậy rồi! Nhưng cái thằng này nó hay “cày” lắm. Nó “cày” còn mạnh hơn máy cày “Mắc-Cọc-Míc” của Huê Kỳ nữa. Mà tánh tôi, thì “cọc”. Nó cày một hồi tôi đổ “cọc” hư bột hư đường hết. còn anh thì.


*


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »