Đường về miền Tây, qua khỏi cầu Bến Lức độ bảy, tám trăm thước, phía bên trái, nhìn vào trong xa lộ trên cây số thấy một rặng cây xanh xanh, có mấy hàng dừa lão phất phơ. Đó là xóm Cầu Sa. Sau đợt 1 Tổng công kích Mậu Thân, anh em văn nghệ I.4([1]) chúng tôi rút về nằm quanh vùng đó chờ vào đợt hai.
Núp trong xóm nầy nhìn ra lộ 4, xe hơi chạy thấy rõ mồn một, ước chừng mình nín thở chạy một hơi cũng ra tới lộ.
Có những sáng, nhìn ra thấy xe hơi đậu dồn hàng dây cả trăm chiếc thì biết là hồi hôm du kích đã đấp mô trên lộ. Phải đợi đến 9, 10 giờ, xe nhà binh lên ủi sạch mô thì xe bộ hành mới dám chạy. Chạy ẩu, mìn nổ “hị” một cái, lấy rổ quảo mà lượm thịt.
Tối tối, lính “hoàng gia” (tức là lính bảo vệ thành ủy chỗ ông Trần Bạch Đằng([2]) kéo ra chọc phá các bót Lò Gạch, bót Cầu Xáng. Gọi lính hoàng gia vì lính nầy ăn mặc đàng hoàng tươm tất trông khác hẳn du kích tay lấm chân bùn ở đây.
Lính hoàng gia mặc toàn đồ ni lông (chẳng qua là để cho mau khô) nhưng đặc biệt là xài toàn súng “cảo”([3]). B41, B42, K59, “con dòng con cởi”([4]).
Bởi vậy trong dân gian đã có câu ca dao nói cạnh khóe:
K năm tư hứa với em rồi,
Gặp K năm chín em hồi K năm tư.
Lính hoàng gia tối nào cũng kéo ra chọc phá bót. B41, B42 nổ ầm ầm như sấm dậy mà cái bót cũng cứ đứng trơ trơ. Chẳng qua chọc phá cho nó mất ngủ chơi và cho nó nể mình, chứ hình như “lính hoàng gia” bắn cũng ít khi trúng lắm.
Anh em văn nghệ chúng tôi lúc ấy vừa R vừa I, vừa nội thành, ngoại thành tổng cộng chỉ có mấy người: Anh Nguyễn Văn Bổng, anh Rum Bảo Việt, anh Hoàng Hà, anh Lữ Phương, anh Lê Văn Thảo và tôi. Ngoài ra là anh chị em bảo vệ giao liên, bàn đạp trẻ tuổi, xông xáo nhất là Lê Văn Thảo. Có Lê Văn Thảo đỡ lắm. Lữ Phương ở thành mới vào, mang cái va ly “to tổ bố”.
Tôi nói với Thảo: “Tôi coi tướng ổng về sau nầy làm lớn, rán vác va ly cho “ổng” nương nhờ tấm thân”.
Thảo cười hề hề. Nói chơi vậy chớ không vác va ly tiếp ổng, ổng vác đâu có nổi. Các chân ổng bị đụng xe gãy sao đó, bây giờ yếu xìu, lội ruộng đi mình không còn té lên té xuống. Hồi đó anh em thương nhau lắm, còn hơn ruột thịt.
Chúng tôi ở trong nhà dân. Trước mặt là quốc lộ 4, con lộ chiến lược, đồn bót giăng giăng.
Còn phía sau nhà là dòng rạch nhỏ, cái cánh tay của sông Vàm Cỏ thò vào ôm vòng con xóm nhỏ. Anh em bàn bạc với nhau: bữa nào lính bót nó hứng, nó đi bố đường xuồng, đánh từ dưới rạch hất lên thì mình chỉ còn có một nước là co giò chạy thẳng ra lộ. Đóng quân gì kỳ cục quá, rõ là không rành binh pháp Tôn Tử.
Lại bàn với nhau: “Nói chơi vậy chớ tụi lính gác” nầy “sức mấy” mà dám bố đường xuồng. Nó đi xuồng, mình hè nhau ào xuống nhận chìm xuồng, trấn nước tụi nó cũng chết hết”.
Sáng bữa đó, như thường lệ, tôi ngồi núp gốc dừa nhìn ra lộ, canh chừng mấy thằng lính bót, sợ nó bố ẩu. Mình phải luôn cảnh giác. Tôi ngồi rình chăm chú, nai nịt hẳn hoi.
Bỗng tôi nghe tiếng chân chạy chộp rộp rồi tiếng la bài hải nhưng như nghẹn lại vì cố gắng hãm thanh: “Giặc bố. Trời ơi! Giặc bố!”.
Tôi giật nẩy mình.
Bỗng tiếp theo nhiều tiếng kêu “Giặc bố. Bố xuồng! Bố xuồng!”.
Tôi chạy vào nhà, chụp cái “bòng đồ”. Ngó lại, anh Nguyễn Văn Bổng, anh Rum Bảo Việt đã xuống tới gần bờ lá. Tôi vụt chạy theo. Rồi chợt nhớ, tôi phóng vô, ngó qua coi anh em có ai bỏ quên cái gì không? Kỵ nhất là bỏ quên đồ “quốc cấm” như bòng bị, súng ống, tài liệu, dép râu. Giặc mà phát hiện được nó đốt nhà, tiêu diệt.
Nghe kể có lần, giặc vô đột ngột quá, anh em vụt chạy, lính quýnh bỏ quên cái “đài”, đang phát thời sự Tiếng nói Việt Nam. Ông chủ nhà không biết vặn tắt, ông quýnh quáng đem nhét vô lu gạo đậy nắp lại, rồi đốt cây nhang cầm vô xá xá, vái lầm thầm: “Ông thương con thì ông đừng có la nữa. Ông mà la, tụi lính nó nghe được, nó đốt nhà con.”.
Vậy mà linh. Cái đài nó nín khe. Tới trưa giặc rút về, nó mới khọt khẹt nói lại. (Chẳng qua là hết giờ phát thanh, nó nín).
Tôi chạy xuống tới đám dừa thì thấy đủ mặt hết. Ở đâu ngày thường không gặp mà chừng có động về đông dữ vậy kìa?
Văn phòng, quản trị, giao liên, bàn đạp, tuyên huấn, báo chí, văn nghệ, kinh tài, bảo vệ đủ ban bệ hết.
Trời đất ơi! Đám lá nhỏ xíu, con chó nằm ló đuôi mà ngồi lợp, đông như đi coi hát bội.
Thấp thoáng, ai ngồi núp bên kia mà da thịt trắng hếu.
- “Ai đó” - Tôi hỏi nhỏ.
Cậu bảo vệ cũng trả lời nho nhỏ: “Mấy ông cọp”.
Trong rừng có trật tự, thứ lớp. Lớn nhất là chúa sơn lâm.
Ở đây, anh em cũng phân ra làm thứ lớp trật tự. “Cọp” là cỡ ông Tư Ánh([5]) trở lên. “Nai, mểnh” là cỡ ông Tám Nhàn, ông Sáu Chiến. Nhỏ hơn là “chồn cheo”.
“Cọp” thì được ưu tiên mỗi ông một cái mái vú chôn dưới đất làm HBM (hầm bí mật) vì ở đây đất thấp. Đào xuống độ hai lưỡi xuổng là nước trào lên. Phải có cái lu cho “Cọp” khỏi ướt lông.
Còn như nai, mểnh, chồn cheo thì tự do, tự lực, bờ mương, gốc dừa thiếu gì đó, muốn nấp ở đâu tùy hỉ.
Ông Tám Nhàn đâu mất kìa? Tôi ngó dáo dác. Kìa, ổng đang đeo trên đọt cây để quan sát tình hình. Ông nầy xông xáo lắm.
Còn ông Sáu Chiến nữa, cũng mất tiêu. Tôi ngóng nhìn. Bỗng “bịch! Bịch”.
Cái gì? Tôi nghe đau điếng! Trực nhìn lên thì thấy ông Sáu Chiến đang đánh đu trên ngọn cây bần. Còn bẻ trái bần liệng chọc người ta, tưởng mọt chê thụt. Thấy tôi giật mình, ông che râu cười.
- Lảng xẹt! Giặc bố mà còn giỡn!
Lê Văn Thảo đang ngồi xếp đồ trong bòng. Trời đất! Giặc giã tới nơi mà còn sắp bòng. Nó vô rượt chạy xịt khói bây giờ! Tôi tính bò qua cự, nhưng khựng lại vì thấy Thảo đang xếp cái bòng của Lê Anh Xuân.
Lê Anh Xuân vừa mới hy sinh mấy bữa nay. Xuân, Hồng Tân và Thảo đi chiến trường. Gặp trận càn Xuân và Tân hy sinh. Thảo thoát được, còn giữ mấy cái bòng. Giặc tới vác hai ba cái bòng chạy gì nổi nên Thảo soạn ra xếp đồ vào một mối, đồ đạc mỗi người một ít.
Giặp lúc bất trắc, cuối cùng thì vác một cái bòng mà chạy. Kỷ vật cố giữ, áo quần đành bỏ.
Tôi đứng nhìn: Một nhúm tóc thề, một chiếc găng tay nhỏ, một quyển sổ con, tôi quay đi, gạt thầm nước mắt.
Bỗng nghe chộn rộn lao xao. Rồi ai đó ào ào chạy tới.
Cái gì? Biến rồi chăng. Tôi đứng dậy thủ thế.
Một đám các ông, các bà chạy tới. Ai cũng có vẻ đẹp đẽ, sang trọng. À! Các anh chị trí thức, tư sản bên “liên minh”. Ở thành phố vô, chưa quen chạy bố nên giờ nầy mới tới, chậm chạp quá!
Ông nào cũng quần áo bùn sình, đầu cổ ướt mem, mệt thở hào hển. Ông thì tét móng giò, ông thì sưng ống quyển, chẳng ông bà nào được lành lặng nguyên vẹn hết.
Có tiếng xì xào: “Hình như lính tới”. Mọi người im lặng, căng thẳng.
Trên cây, ông Tám Nhàn, ông Sáu Chiến vẫn đánh đu dòm dòm ngó ngó mà chẳng thấy có gì cho rõ, cũng chẳng biết thằng giặc ở đâu.
15 phút qua!
Nửa giờ qua! Rồi một giờ qua.Vẫn im lìm, căng thẳng.
Bố ráp gì mà êm rơ vầy?. Nắng lên rồi, nóng quá!
Buồn ngủ quá. Thần kinh căng thẳng là hay buồn ngủ lắm.
Bỗng có tiếng kêu: “Giặc rút rồi! Lên! Giặc rút rồi nghen!”.
Mọi người thở phào nhẹ nhõm tỉnh ngủ liền. Tiếng cười nói râm ran. Ông Sáu Chiến, ông Tám Nhàn thong thả tuột xuống.
Báo động thật hay giả? Ai biết?
Giặc đi bộ hay đi xuồng? Làm sao biết?
Giặc có vô hay không?
Nào ai biết?
Thôi thì kể như nó có vô. Nó đi đường xuồng. Nó vô rồi nó sợ mình quá. Nó hoảng, nó rút! Nó chạy không kịp thở. Phải rồi! Chắc vậy!
Tôi hứng khởi, sáng tác ngay bài thơ, còn nhớ tới bây giờ, xin chép lại:
Giặc bố! Trời ơi giặc bố xuồng
Bụi bờ gai gốc thảy đều tuôn
Bắt ông cọp “lớn” dồn vô khạp
Xua lũ cheo gầy phóng xuống mương
Chị nọ vấp cây nhào lỗ trán
Anh kia đụng đá té bung sườn.
Thấy êm. lén lén mò ra bám
Nó sợ ta nên nó đã chuồn!
1968
Khoái nhất là câu chót “Nó sợ ta nên nó chuồn”. Vậy mới thấy khí thế tổng tấn công ào ạt chớ!
Tháng 12-1991
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|