tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
24.06.2009
Viễn Phương
Văn nghệ xuống đường

Xuất phát từ Bố Bà Tây chiều 30 Tết, đêm ấy chúng tôi đón giao thừa trên đường hành quân, giữa một cánh đồng hoang mênh mông, rải rác mấy cụm rừng chồi.


Đơn vị chúng tôi gồm toàn lính mới tập hợp từ các cơ quan khối Tuyên huấn R và I([1]) tuyên truyền, báo chí, văn nghệ thông tấn, đài; cộng thêm một số thanh niên Việt kiều yêu nước từ Campuchia mới xuống còn lớ ngớ chưa hề biết chiến trường lửa đạn là gì.


Tiểu đội văn nghệ chúng tôi gồm có họa sĩ Hoàng Anh, họa sĩ Trang Phượng, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn Lê Văn Thảo, nhà văn Lý Bích Quang, nay là ông Nhất Tiếu, tục gọi là ông Ba Lý, cô Mười Hương tức nữ ký giả Thu Sương và tôi, ngoài ra còn một số nữ giao liên CK([2]) để khi vào thành phố đi móc ráp cơ sở văn nghệ nội thành.


Những anh em khác bên cánh điện ảnh như đạo diễn Mai Lộc, nhà quay phim Vũ Sơn đã vác máy đi vào trước. Các anh cần lấy những thước phim lịch sử. Anh Nguyễn Văn Bổng, anh Rum Bảo Việt đã nhập thành bằng đường CK để lo chỉ đạo mặt trận văn nghệ nội thành.


Đoàn quân im lặng đi trong đêm, sương sa lác đác, hơi lạnh thấu xương. Đoàn quân đi quá chậm. Chú giao liên nóng ruột lúc thì giục giã, lúc thì động viên - Chỉ về một ánh đèn leo lét xa xa như một ngôi sao nhỏ, chú nói:


- “Đó là quán cà phê, nước đá, ở đó có bán bánh kẹo thuốc trà đầy đủ. Ráng đi đến đó nghỉ xả hơi! Ai muốn mua gì mua, món gì cũng có chỉ sợ không đủ tiền”.


Anh em nghe nói đều phấn khởi, quên cả cơn buồn ngủ, hăng hái bước nhanh.


Quán là một căn lều nhỏ giữa đồng, tứ bề lộng gió. Chủ quán là đôi vợ chồng nông dân trạc ba mươi tuổi, xem ra quen cày cuốc hơn bán buôn.


Đặt quán trên “đường dây” là để đón khách qua đường, hằng đêm đôi ba chuyến, mỗi chuyến chỉ năm ba người “khách viễn phương” đi công tác xuyên dọc khắp miền đất nước.


Đêm nay thấy đoàn quân rần rần rộ rộ ùa vào, chen lấn nhau mua trà, mua thuốc, kêu nước đá, cà phê ầm ĩ, anh chị ra vẻ lúng túng, lóng cóng cả tay chân.


Bỗng nghe tiếng nạt: “Thôi! Buôn bán gì mà lôi thôi, chậm chạp quá chừng! Để tôi làm cho!”.


Tôi lách chen vào thì thấy nhà văn Nguyễn Quang Sáng lưng mang ba lô, bên hông kè kè khẩu súng ngắn với “gô” chao, đang một mình tả xông hữu đột: tay đập nước đá rốp rốp rồi xúc đường, nặn chanh xịt xirô. Anh làm rành rẽ nhanh nhẹn chẳng thua bất kỳ một tay chủ quán lành nghề nào. Anh Nguyễn Quang Sáng luôn luôn là một con người rất năng động. Ông bà chủ quán chỉ còn việc lo thu tiền đút túi. Nhờ vậy mà chẳng mấy chốc anh em tùy theo túi tiền mà có đầy đủ mỗi người một ly đá chanh, ly cà phê sữa hay ít ra cũng có được miếng kẹo gừng, cục nước đá cầm tay để nếm mùi “thành thị” vì mấy năm trường ở chốn rừng sâu nước độc, cà phê nước đá cũng quên vị, quên mùi.


*


*           *


Qua kinh Ba Ren, đi dọc kinh Bo Bo băng qua Tháp Mười, hai ngày sau, chúng tôi đã vượt qua các vùng hoang dã mênh mông và đổ xuống vùng dân cư trù phú.


Phải đi qua các xã An Thành, Tân Bửu, Tân Kiên, Tân Nhựt của tỉnh Long An, vượt sông Vàm Cỏ rồi mới đột nhập Phú Lâm mà tiến vào thành phố. Những ngày này bầu trời vắng hẳn bóng phi cơ. Họa sĩ Hoàng Anh thắc mắc: “Tình thế ngặt nghèo như vầy, sao máy bay nó không hoạt động?”. Ai đó trả lời: “Sân bay đã bị ta chiếm lĩnh cả rồi. Đại quân đang ghìm đầu nó xuống, máy bay nào mà cất cánh lên được?”.


Anh em nghe nói càng thêm phấn khởi.


Các cánh quân đổ về rần rần rộ rộ. Vũ khí mới chông, nước thép xanh lè, sáng giới - B40, B41 điệp điệp trùng trung. AK, K54, K59 con dòng, con cởi([3]).


Bỗng tôi sực nhớ câu hát bội của ông Dương Tử Giang thời chống Pháp:


“Quân đi chật núi, chật núi.


“Ngựa uống nước cạn sông, cạn sông.


Quả là quân ta đi chật sông, chật núi. Đồng bào đón đưa đen nghen hai bên đường vừa phấn khởi, vừa xúc động.


Có những ông già, mái tóc bạc phơ từ trong nhà sầm sầm chạy ra đứng nhìn đoàn quân rồi bỗng cất tiếng khóc hu hu như con trẻ, nói qua dòng nước mắt đầm đìa: “Từ cha sanh mẹ đẻ mới nhìn thấy cảnh này. Các con ơi! Thấy cảnh non nước như vầy, có chết cũng hả lòng, hả dạ”.


Vẫn còn trong ngày Tết, bánh trái chất đầy bên đường. Các má, các em trao bánh cho từng người. Không nhận các em buồn, các má giận.


Đêm mùng bốn Tết đoàn quân tiến về Tân Nhựt. Ruộng lầy tới háng, sông rạch chằng chịt, cầu khỉ cheo leo.


Đến điểm tập kết đã gần bốn giờ sáng.


Vừa vào nhà dân thì máy bay địch lên. Chúng thả trái sáng trắng trời và đánh bom dữ dội một vùng lân cận.


Hoàng Anh đến bên tôi, ngồi chồm hổm xì xào:


- Nó đánh bom dữ quá!


Tôi im lặng, nhưng trong lòng đã thấy có điều gì không ổn. Máy bay oanh kích ban đêm là điều chẳng bình thường.


Vừa chợp mắt, bỗng được lịnh kêu dậy: Phải dời qua bên kia rạch, ra ngoài lá ém quân.


Chúng tôi mắt nhắm mắt mở xuống xuồng.


Trời vừa hửng sáng.


Ông Ba Lý tức nhà văn Nhất Tiếu ngồi dựa gốc cây bần ổi bập bập điếu thuốc rê bị ngập nước đêm hôm khi ông té cầu khỉ. Cô Mười Hương lui cui chùi khẩu súng ngắn bê bết bùn sình. Ông Hoàng Anh rà rà vặn đài tìm buổi phát thanh tiếng Lào buổi sáng. Nhưng cái “trăn-sito” bị nhúng nước đêm qua khi lội rạch chỉ “khẹt khẹt” mà không nói được tiếng nào. Họa sĩ Hoàng Anh biết tiếng Lào nhấp nhem nhưng anh thích nghe phát thanh tiếng Lào lắm. Chỉ cần nghe được âm hưởng tiếng Lào là anh cảm thấy như được gần gũi người vợ Lào trẻ trung, hiền thục mà vì một hoàn cảnh éo le, anh chưa gặp lại trước lúc lên đường vào chiến đấu miền Nam.


Mặt trời đã nhú lên rực rỡ. Sương đêm chưa ráo. Sao có một bầy trực thăng vần vũ bên kia cánh đồng?


Ông Lý Bích Quang nhìn tôi như dọ ý.


Tôi gượng pha trò: “Không có sân đậu, bay quầng quầng một hồi cạn xăng rớt hết bây giờ”.


Không ai cười hưởng ứng. Mọi người lộ vẻ lo âu.


Bỗng nghe tiếng nổ đùng đùng dữ dội.


Rồi tiếng la bài hãi thất thanh “Tàu vô! Tàu vô!”.


Tôi vụt đòn bánh tét, xóc ba lô lên vai - chạy thí mạng. Mới tới khi hôm, có biết phương nào, hướng nào.


Rồi bỗng nghe đùng đùng! Ầm ầm ầm! Rốp rốp rốp. tiếng nổ như núi lở trời sập. chung quanh lửa chớp đỏ trời. Bầy trực thăng đã ào qua phóng hỏa tiễn, bắn đại liên, trung liên ào ạt. Nó dọn bãi đổ quân. Chết sống gì cũng phải chạy. Tôi chạy càn trong lửa đạn.


Bỗng có tiếng ai la: “Chạy đi đâu vậy? Hướng đó tàu vô”. Tôi liền quay ngoắt chạy trở lại. Trực thăng vẫn bắn theo ven lá. Một số chạy bung ra ngoài ruộng. Tôi nhào đại xuống rạch. Giặc sắp đổ quân. Chạy ra ruộng khác nào nhào vô hàm cọp.


Quân mình lọt trọn trong vòng vây nó rồi. Tôi vội cởi ba lô để lên bẹ dừa nước, moi bùn phủ kín, lấy lá tấp lên, rút súng ngắn lên đạn, sẵn sàng chiến đấu.


Tiểu đội tôi, anh chị em mỗi người chạy tản một nơi - B40, B41 đâu mà không nghe bắn phát nào để tàu nó vô sát rồi mới la hoảng.


Thì cũng tại lính “thập phương bá tánh” mới gom về chưa kịp rèn luyện chiến đấu.


Còn anh em văn nghệ chúng tôi chỉ có súng ngắn mà lại chuyên đánh giặc bằng ngòi viết. Gặp trường hợp nầy thì “dĩ đào vi thượng” mà thôi.


Nhìn dưới rạch, thấy có người đang lặn lội. Xem kỹ, có ông Tư Đạt (sau là Phó tư lệnh Thành phố) ông này là cán bộ quân sự kinh nghiệm chiến đấu cùng mình. Nằm chung với ổng cũng vững dạ.


Tôi lại gần định bám theo ông.


Bỗng có tiếng la hãi hùng the thé của phụ nữ:


- Nguy rồi! Chết rồi các đồng chí ơi!


Tất cả đều giật mình nhổm dậy.


Một chị phụ nữ áo quần đầu cổ ướt mem, chỉ tay bờ rạch la chói lói:


- “Nó kìa! Nó kìa!”.


Ngỡ là giặc đến. Chúng tôi khoát tay ra dấu im lặng.


Nhưng chị vẫn la bài hãi:


- Không phải! Không phải! Nó kìa! Nó kìa!


Cái gì không chịu nói mà cứ “Nó kìa! Nó kìa” hoài!


Tôi lại ra dấu cho chị im lặng, rồi nhẹ nhàng đưa tay vẹt mấy tàu dừa nước.


Trời đất! Nó kìa! Nó nằm một đống lù lù! Vằn vện! Nó nằm chình ình một đống như con khủng long, như con ma mút! Nó chết rồi nhưng. tôi bỗng thét to:


- Nguy rồi! Các cha ơi! Chiếc trực thăng nó rớt hồi nào ngay trước mặt mình nè! Nó nằm chình ình một đống khói lên nghi ngút đây nè!


Nghe tiếng ai như tiếng đại tá Tư Đạt:


- Ở đây không ổn rồi! Thế nào nó cũng đổ quân tiếp cứu tụi này!


- Chạy!


- Chạy!


Cả nhóm lao xao.


Tôi nhào qua chụp cái ba lô, nhưng chợt nghĩ: “Chạy giặc mà quảy cái ba lô thì chạy sao cho nổi”. Tôi đạp nhấn chiếc ba lô xuống bùn, rồi nhảy lên bờ.


Nghe tiếng trực thăng bạch bạch trên đầu. Súng nổ rền tứ phía. Lửa chớp đỏ bốn bên. Súng địch có, súng ta có, súng máy bay có, súng tàu có.


Ngó quanh quất, người ta chạy đâu mất hết rồi. Tôi tốc chạy dọc theo bờ lá.


Trực thăng vẫn trên đầu. Mặc kệ mầy. Mầy giỏi mầy bắn đi, đừng hòng bắt sống. Tao đã ở tù tụi bây một lần rồi. Thà chết chứ không để tụi bây bắt sống tra tấn lần nữa. Cứ bắn đi tao chết thì thôi. Tao chưa chết, tao còn chạy. Mầy vô tao ăn thua đủ với mầy. Tao còn đủ hai băng K59.


Tôi vừa chạy vừa suy nghĩ, bất kể súng đạn. Trên bờ đắp chỉ còn mình tôi chạy sãi. Bỗng nghe tiếng quát: “Ông già! Chạy đâu dữ vậy?”. Tôi nhảy trái xuống rạch cái đùng, ghìm súng: - “Địch hay ta? Ba bốn đứa lố nhố.”.


Mặc đồ chính quy ni lông đen. Nón tai bèo, dép râu, súng AK. Đúng “đằng mình” rồi. Vậy mà còn la hét làm tôi giật mình, nhảy té muốn lọi giò. Tôi phát quạu, hét lại:


“Chạy giặc chớ chạy đâu?”.


Mấy cậu du kích đưa tay chỉ chỉ phía trước nói:


- “Chạy giặc thì cũng chạy vừa vừa chớ. Thấy cái gì kia không? Chạy gì dữ vậy?”.


Tôi nhóng lên nhìn: cái gì in cái bót.


Tôi hỏi nho nhỏ: “Cái bót hả?.”.


Mấy đứa nhỏ cười: “Chớ còn cái gì nữa! Không cản lại chắc ông nhào vô đó luôn!”.


Nó nói đúng! Hú hồn!


Bây giờ tôi mới chợt nghĩ: có lẽ tụi trực thăng nó thấy tôi chạy thẳng vô bót, nên chỉ rượt bắn cầm chừng. Nó mà quyết tâm cả chục chiếc siết bắn, dễ gì mình thoát nổi.


Tôi xuống giọng dả lả:


- Mấy em làm gì xớ rớ ở đây?


Mấy đứa nhỏ lại cười:


- “Ém bót” chớ xớ rớ gì “tía”!


Tôi cười mơn:


- Cho qua “ém” với! Qua cũng có súng đây. Mấy đứa nhỏ nhìn kỹ tôi như dò xét, rồi nhìn nhau. Hồi lâu, một thằng chắc là chỉ huy lên tiếng:


- Bác muốn ở đây thì ở. Nhưng chiều thế nào ở đây cũng có nổ đó.


Nổ thì nổ. Tôi sợ gì? Dân chiến trường mà! Hồi sáng tới giờ tại nó đánh “ẩu” nên tôi giật mình, với lại địa bàn mới, đường sá không thuộc, còn bây giờ có du kích, tôi thật vững tâm.


Một cậu gỡ đòn bánh tét đeo tòn teng bên hông như trái lựu đạn vừa lột lá vừa hỏi tôi:


- Ông già ăn sáng chưa?


Tôi cằn nhằn:


- Ăn uống gì? Tối đi suốt đêm. Sáng mới mở mắt nó đã từ trên trời nhảy xuống!


- Vậy thì ăn với tụi cháu cho vui.


Tụi trẻ nó nhiệt tình. Mình người trưởng thượng cũng không khách sáo. Một cậu giải thích:


- Ở đây bây giờ thì yên. Sát bót nên không có bom pháo gì hết. Xế chiều kìa! Hoặc bọn đi bố kéo vô đây để lên trực thăng rút, hoặc bọn trong bót mò ra “ăn hôi”. Tụi cháu “giả!”.


Rồi nhìn quần áo tôi đầy bùn sình nó thương hại:


- Thôi bác đi tắm rửa đi rồi nghỉ ngơi cho lại sức.


Tôi ngần ngại:


- Giặc giã tứ phía. có sao không?


Nó cười hiền lắc đầu:


- Bây giờ không có sao hết. Tụi cháu canh cho.


Đó! Du kích như vậy đó. Tụi nó nắm được quy luật của giặc nên lúc nào cũng chủ động, thảnh thơi. Tôi xuống rạch tắm rửa, giặt quần áo, lau sơ khẩu súng.


Ngoài kia súng vẫn nổ dữ dội. Ruột tôi nóng như hơ. Súng đạn như vầy, không có hầm núp, “chém vè” mà chịu, không biết từ sáng đến giờ may rủi thế nào.


Ba giờ chiều. Tiếng súng ngoài mặt trận thưa dần.


Chú trinh sát trên cây tuột xuống:


“Trong bót tụi nó rụt rịt rồi nghen”.


Anh em chuẩn bị súng ống, phân ra phục kích. Liền khi đó, ba quả mọt chê 60 ly nổ liền nhau ngoài bờ rạch.


Tụi trong bót bắn cối thăm dò. Hai mươi phút trôi qua. Vẫn im lìm. Cậu trinh sát lại leo lên cây, vừa chửi thề: “Đ.M. sao êm rơ”. Độ tàn điếu thuốc, cậu tuột xuống:


- “Nó sợ thun đầu rồi không dám ló ra đâu.”.


Ngoài mặt trận trực thăng đáp xuống ào ào. chắc nó bốc quân.


Nửa giờ sau không khí im ắng lạ thường, chỉ thỉnh thoảng vài quả pháo nổ vu vơ.


Tôi giã từ các cậu du kích. Mấy cậu còn dặn dò:


- “Nắm tình hình thật kỹ nghen bác - Coi chừng “bừa rụng răng”([4]).


*


*           *


Giặc rút thật rồi.


Anh em “chém vè” dưới rạch từ sáng đến giờ trồi lên, lôi thôi, lếch thếch như chồn hôi.


Nghe nói chết nhiều lắm. Lại nghe có một ông già văn nghệ hy sinh. Tôi rụng rời - Ai? Ai?


Đoàn tôi có ba ông già: ông Lý Bích Quang, tức ông Nhất Tiếu, ông Hoàng Anh và tôi. Thật ra ông Hoàng Anh đâu đã già, có lẽ chưa đến bốn mươi, nhưng đầu tóc anh bạc trắng. Tôi thì còn đây. Vậy thì ai chết?


Thôi! Chắc ông Lý Bích Quang rồi. Ông già lù khù chậm chạp lắm. Quấn điếu thuốc rê cũng tốn mười lăm phút. Mấy bữa rày hành quân đêm ngày, ông mệt trắng đờ con mắt. Lại ghiền trà nữa. Tội nghiệp ông già quá. Tôi rưng rưng nước mắt.


Mấy cô giao liên núp sau cây rơm lớn lần lượt chui ra, lạnh run rẩy, mặt tái xanh, môi tím ngắt. Mùa gió bấc mà!


Họa sĩ Trang Phượng vừa đến. Anh buồn rầu cho biết họa sĩ Hoàng Anh đã hy sinh. Anh bị thương nặng ngay từ loạt hỏa tiễn đầu. Cái hàm dưới của anh bể nát, máu trào xối xả. Anh không còn nói lời nào được nữa. Phải để anh nằm lên xuồng kéo đi. Máu ra nhiều quá, nhưng anh vẫn còn tỉnh, đôi mắt đờ dại của anh vẫn nhìn bạn bè, đồng chí như cầu cứu như kêu thương. Nhưng máu ra không cầm được. Máu chảy ngập khoang xuồng. Đến xế qua thì anh tắt thở.


Tôi đến thăm anh lần cuối.


Anh nằm kia trên vạt cỏ xanh, cỏ xanh mùa xuân. Anh nằm ngay ngắn, phủ trùm chiếc võng ni lông màu xanh nước biển. Phía trái là vạt lúa chín vàng đã bị quân thù dẫm nát. Tôi giở chiếc võng nhìn mặt anh. Mái tóc anh bết máu, màu trắng bạc đã trở thành tím sẫm.


Đôi mắt anh vẫn hé mở, nhìn tôi, vẫn vẻ tinh nghịch cũ.


Bỗng dưng tôi thấy anh tươi trẻ lạ lùng.


Chiếc đài bán dẫn để cạnh anh từ sáng đến giờ chưa tắt, bỗng khọt khẹt lên tiếng, một tràng tiếng Lào “Tini.”.


Anh Trang Phượng với tay định tắt nhưng tôi ngăn lại:


“Đừng! Hãy để anh nghe!”. Đây là tiếng nói vô cùng yêu dấu của quê hương người vợ mới cưới của anh, người vợ mà mãi mãi anh không bao giờ còn gặp lại.


Lê Văn Thảo cũng vừa đến. Thảo cho biết số anh em mang đồ nặng chạy dạt ra ruộng bị bắn chết nhiều vì sa lầy. Đó là những anh em ở Đài Phát thanh hay Thông tấn xã - Anh em cõng trên lưng cả một cái đài dự phòng về thành phố.


Thấy tôi sạch sẽ, khô ráo, ai cũng khen. Thật ra về cái môn chạy giặc, chém vè này tôi cũng khá. Không khá làm sao sống nổi trên vùng đất Củ Chi hủy diệt. Nhưng thoát được trận nầy chẳng qua là số phận may rủi.


Chúng tôi bàn việc chôn cất Hoàng Anh. Bỗng có lịnh phải qua sông lập tức. Bây giờ mới sực nhớ ông Nguyễn Quang Sáng chạy lạc đâu sao chẳng thấy về. Không biết lành dữ thế nào?


Lịnh phải qua sông tức khắc vì nếu chậm trễ, tàu giặc hàn sông thì không đi được nữa. Mà ở đây quân thù bốn mặt, tấn thối lưỡng nan thật vô cùng nguy hiểm.


Lịnh thúc hối: “Phải qua sông tức khắc! Tử vong để lại địa phương lo phần hậu sự. Phía trước đang cần”.


Tôi vội vã cùng anh chị em lên đường. Cái “bòng” đồ đạc nhận dưới rạch cũng không lấy kịp. Thôi! Chiến thắng rồi sẽ tính. Chỉ tiếc trong bòng có một tập thơ - bản thảo. Nhưng không sao? Nơi trang đầu tôi có viết mấy dòng gởi gắm: “Nếu tôi hy sinh, xin gởi tập thơ nầy về địa chỉ.”.


Thôi! Giải phóng Sài Gòn rồi sẽ tính.


Hoàng hôn chập choạng. Chúng tôi lên đường.


Tiếng súng nổ rền xa xa.


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 







([1]) R: Trung ương cục. I: Khu Sài Gòn Gia Định.




([2]) Giao liên công khai.




([3]) Con dòng con cởi: Khẩu súng vác vai, khẩu súng mang bên hông.




([4]) Bừa rụng răng: mưu kế của giặc, sau khi rút quân còn ém lại một số để phục kích ta.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »