tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
02.07.2009
Viễn Phương
Cô gái giao liên

Mưa dầm ướt lá rau sam


Giấu cha giấu mẹ, em làm giao liên.


 


Ngôi nhà ba gian cột tre, mái lá nép sau vuông rào trúc xanh um mát rượi.


Trước nhà là một ô sân nhỏ mặt quét láng trơn, sạch bóng. Giữa sân có chiếc bàn ông thiên đơn sơ gồm một cây cột vuông và một miếng ván đóng lên trên, ngay ngắn. Giữa bàn có nhiều chiếc lư hương làm bằng lon sữa bò và ba cái chung nhỏ đặt trên cái dĩa con dùng để cúng nước.


Quanh chân bàn ông thiên, mấy khóm vạn thọ, mấy bụi bông điệp trổ hoa đỏ vàng. Gần thềm nhà mấy cụm bông lài tỏa hương ngào ngạt.


Sau nhà, vườn thuốc nam xanh um dược thảo: nào cỏ mực, câu kỷ, mã đề, ké đầu ngựa, mía lau, nào rau đắng đất, cỏ màng chầu, hà thủ ô, xuyên tâm liên, liên tiền thảo.


Vườn thuốc nam lúc nào cũng tươi tốt và lúc nào cũng có đầy đủ những dược liệu cần thiết để chữa trị những bịnh cảm mạo thương hàn của bà con lối xóm.


Đó là nhà của thầy Ba Hơn, vị lương y của xã Tân Phú Trung, ấp Bến Đò này. Thầy hốt thuốc rất mát tay, chỉ với những cây cỏ quanh nhà thầy đã chữa trị hầu hết các chứng thông thường của bà con cô bác.


Bà con quý mến thầy không chỉ ở tài trị bịnh mà còn ở tấm lòng nhơn đức của thầy. Đối với những gia đình neo đơn, nghèo khó thầy hốt thuốc không lấy tiền.


Thầy thường nói làm thầy thuốc là cốt để cứu nhơn độ thế, chớ không lấy nghề thuốc để làm giàu.


Thế nên, nhà thầy Ba rộn rịp sáng chiều. Rất đông khách đến nhờ tay phục dược. Khách đến hốt thuốc không chỉ là người ở ấp, ở xã này mà còn rất nhiều người từ xa nghe danh tìm đến.


Gần đây, thầy Ba Hơn nhận thấy trong số khách đến tìm thầy xem mạch hốt thuốc có nhiều người lạ, hình như không phải là dân của địa phương này. Họ cũng là những nông dân tay lấm, chân bùn nhưng sao trong lời ăn giọng nói của họ có cái gì vững vàng chững chạc và trong mắt họ, thỉnh thoảng lại lóe lên những tia sáng dịu dàng. Họ khác hẳn những nông dân bình thường ở đây, lúc nào như cũng nặng những niềm u uất.


Những người khách lạ ấy sau khi hốt thuốc thường hay bước trái ra sau xem vườn thuốc nam rồi thuận chân đi thẳng ra nhà anh Dâu cùng nhau thầm thì trò chuyện.


Anh Dâu là con trai thứ tám của thầy Ba. Anh đã có vợ, vợ anh là cô Bảy Lánh người xã Phước Vĩnh An.


Trước đây vợ chồng anh Dâu ở chung với cha mẹ, nhưng khi vợ chồng anh có con thì thầy Ba cho anh ra ở riêng. Thầy Ba cho con ra riêng không phải vì thiếu thốn hay vì cửa nhà chật chội mà chỉ vì thầy muốn gầy dựng cho con, muốn tập cho con lo lắng làm ăn, muốn tạo cho con sanh cơ lập nghiệp. Thầy Ba rất mừng vì thấy con dâu mình chí thú làm ăn và giao du với những người tử tế, nhưng thầy cũng rất lo âu vì thầy thấy mang máng rằng bạn bè của con đều có vẻ khác thường, không giống như những người nông dân chất phác an phận thủ thường quanh quẩn nơi đây.


Tình hình lúc này khó khăn lắm, nhiều người làm quốc sự bị bắt.


Cô Bảy Lánh, con dâu thầy Ba cũng đã bị bắt mấy lần trong những năm 1936-1938 vì đi biểu tình chống bầu cử hội đồng, chống thuế chợ. Nhưng rồi địch không tìm ra bằng chứng để buộc tội chánh trị nên chúng đành phải thả cô.


Tình hình lộn xộn trong xã ấp hiện nay, cộng với sự xuất hiện hầu như thường xuyên của những người lạ mặt khiến thầy Ba có phần lo lắng.


Một hôm, thầy kêu con dâu vào to nhỏ:


- Nè con, chuyện quốc sự là chuyện của người tài cao trí rộng. Vợ chồng con có tham gia hay không, ba cũng chẳng tìm hiểu làm gì. Nhưng chuyện quốc sự cũng là chuyện vào tù ra khám, tan nát cửa nhà. Vợ chồng con phải quan tâm cho lắm.


Cô Bảy không biết trả lời làm sao cho phải, cũng không nỡ nói dối cha, nên chỉ một mực cúi đầu dạ dạ vâng vâng.


Thực ra vợ chồng cô Bảy Lánh đã hoạt động cách mạng từ lâu rồi.


Ở xã Tân Phú Trung này, từ năm 1930 đã có người cộng sản.


Ông Bảy Sáng, bà con của cô Lánh là một trong những người cộng sản đầu tiên ở vùng này. Chính ông đã tới lui dìu dắt vợ chồng cô Bảy Lánh vào con đường cách mạng. Năm 1932, anh Dâu, chồng cô Bảy được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Lúc ấy cô Bảy còn là quần chúng ngây thơ, nhưng ông Bảy Sáng và anh Dâu cũng tìm cách dẫn dắt cô vào con đường hoạt động. Bước đầu ông Bảy Sáng nhờ cô Lánh đưa thơ mật xuống Bà Điểm - Hóc Môn.


Đường tuy có xa, phải đi bộ cả ngày nhưng cô Lánh nào có quản ngại gì, cô luôn luôn vui vẻ nhận công tác và luôn luôn làm tròn nhiệm vụ. Ông Bảy Sáng rất tín nhiệm cô.


Chỉ có một điều trở ngại lớn cho cô là những việc làm này đều phải giấu gia đình bên chồng. Lúc ấy anh Dâu và cô Bảy vẫn còn sống chung với cha mẹ chồng. Gia đình ông bà Ba Hơn là một gia đình nền nếp nghiêm nhặt. Lấy lý do gì để có thể vắng nhà đi công tác? Điều thật là khó xử. Mỗi chuyến đi thơ như thế phải mất cả ngày đường. Thuở ấy, cách đây gần bảy mươi năm, đường sá giao thông đâu phải thuận lợi như bây giờ. Quốc lộ Một, con đường huyết mạch xuyên Đông Dương chỉ là một con đường thô sơ vừa trải đá, hai bên đường lau sậy um tùm. Đi suốt buổi mới gặp một người nông dân, mặt mày hốc hác, áo quần rách rưới đi bẫy cò bẫy cưỡng. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe ngựa lộc cộc, khập khà khấp khễnh chở mấy người đi buôn bán ở chợ Hóc Môn về. Họa hoằn mới gặp một chiếc xe hơi chở mấy ông Tây bà đầm đi du ngoạn. Trên đường, gặp con trăn, con trúc nằm ngang giữa lộ, hoặc gặp từng bầy heo rừng kéo nhau đi kiếm trái cầy, trái cám ven lộ là chuyện rất thường. Mới đầu, thân gái một mình, gặp bầy heo rừng nanh dài cả tấc miệng nhai xàm xạp, cô Bảy kinh hoàng bỏ chạy trối chết. Nhưng rồi quen dần “Nó có việc nó, mình có việc mình”. Cô Bảy bảo thế rồi cắm cúi lo đi công tác.


Một lần, ông Bảy Sáng nhờ đưa một lá thư rất gấp, (hình như là chỉ thị của Trung ương) cho ông Lê Công Tự ở xóm Le The, vùng Bà Quẹo. Hôm ấy gặp ngày cấy đông ken, cả xóm đều đổ ra đồng. Cô Bảy Lánh không dám xin phép cha mẹ, cũng không nỡ chối từ một công việc quan trọng “Thôi cũng đành liều vậy! Rồi sẽ tính sau”.


Cô Bảy bàn với chồng như thế. Tờ mờ sáng, cô xách nọc theo bạn cấy ra đồng rồi nhờ người bạn thân cấy thế, nói rằng phải đi thăm bà dì ở Phước Vĩnh An đang ốm nặng, cô cầm thơ đi thẳng xuống Bà Quẹo.


Cô vừa ra đến lộ thì trời đổ mưa tầm tã. Sấm sét dữ dội. Chớp lòe giăng sát mặt đất. Cây cối gãy đổ lấp cả mặt đường. Thỉnh thoảng con nai, con mễn, con cáo, con chồn ướt đẫm, hốt hoảng phóng bừa lên mặt lộ. Cô Bảy Lánh cứ gầm đầu xuống, đội mưa mà đi, quyết tâm phải về kịp trong ngày. Nhưng mưa càng lúc càng lớn, trời đất tối sầm. Gió bão cuồn cuộn giữa trời. Những con có, con diệc lả cánh rơi vật xuống mặt đất. Những cơn gió ngược quất thẳng vào mặt cô Bảy rát rạt như roi nhưng cô gầm xuống bậm môi, quyết tâm đi đến nơi, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.


Vào khoảng nửa đêm, cô Bảy mới đến được nhà ông Tự cô rét run, xám ngắt, không nói ra lời. Cô trao thơ xong và đêm ấy cô đành phải nghỉ lại nhà ông Tự.


Suốt đêm trời vẫn mưa rả rích. Cô Bảy không tài nào chợp mắt. Bao nhiêu nỗi lo sợ cứ bao vây cô. Phải trả lời thế nào với cha mẹ chồng đây? Có nên nói sự thật không? Nếu nói sự thật thì liệu cha mẹ có cho tiếp tục công tác không? Nếu không được công tác nữa thì biết trả lời thế nào với tổ chức. Không lẽ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình phải chấm dứt tại đây. Trăm mối lo âu dằn vặt lấy cô. Trăm câu hỏi ngổn ngang quay quắt trong đầu. Cô cứ trăn trở mãi trông cho mưa mau tạnh.


Khoảng cuối canh tư, mưa chưa ngớt hột, cô đã thức dậy hấp tấp lên đường. Thân gái dặm trường, đường đêm lầy lội trơn trợt, cô vừa đi vừa chạy ráng về cho kịp sáng, may ra cái tội trốn nhà sẽ nhẹ đi đôi chút.


Nhưng dù cố gắng đến đâu phải đến mười giờ sáng cô mới về đến nhà.


Cô bước vào, không khí trong nhà lạnh ngắt, cha mẹ không hỏi cô lấy một tiếng và cũng không buồn ngó đến.


Cô khoanh tay chào. Không ai đáp lại.


Cô đi thẳng xuống bếp, anh Dâu, chồng cô - đang ngồi khoanh tay rế ngó mông ra đồng, mặt buồn rười rượi.


Thấy cô về, anh mừng rỡ đứng lên nháy nháy mắt ra hiệu.


Cô bước lại gần.


Anh hỏi nho nhỏ:


- Sao về trễ vậy? Lo quá! Có êm xuôi không?


Cô cũng đáp lại nho nhỏ:


- Trời mưa lớn tối ngày sáng đêm không về được. Ba má có nói gì không?


Anh Dâu lắc lắc đầu:


- Nguy lắm! Má giận lắm. Từ sáng đến giờ má chẳng có cơm nước gì cả. Anh cũng chẳng dám nói lời nào, chỉ ngồi bó gối làm thinh.


- Rồi làm sao bây giờ? - Cô Bảy lại hỏi, sợ quýnh. Anh Dâu lại lắc đầu.


- Thôi, lỡ rồi! Thủng thẳng sẽ tính. Đi thay quần áo đi. Coi chừng cảm mạo.


Cô Bảy vội vã đi rửa chân rồi vô buồng thay quần áo.


Khi cô trở ra thì đã thấy ông Ba Hơn ngồi trên ghế như có ý đợi chờ. Anh Dâu đứng xớ rớ phía sau. Thấy cô, ông Ba lên tiếng hỏi một hơi:


- Con đi đâu mà đi dữ vậy Bảy, để cha mẹ phải đợi chờ lo lắng. Đi đâu sao không xin phép cha mẹ. Nhà mình là gia đình có khuôn phép, con ăn ở vậy đó, con nghĩ coi có phải hay không?


Cô chưa biết phải trả lời ra sao. Cô liếc sang anh Dâu thì thấy anh nháy mắt lắc đầu ra hiệu lia lịa.


Cô nghĩ: “Chắc ảnh sợ mình khai thiệt. Thôi! Đã lỡ rồi thì đành phải nói dối luôn. Cha mẹ có giết con đâu mà sợ”.


Nghĩ vậy rồi cô khoanh tay bình tĩnh: - “Thưa ba, con xin ba với má tha tội cho con. Cũng vì con còn nhỏ dại quá, con kính sợ cha mẹ quá nên con đi mà không dám xin phép. Con xin thưa thiệt với ba má con có bà dì ruột đã già. Bà dì con tưng tiu nuôi nấng con từ hồi con còn ẵm ngửa. Hôm qua con nghe tin dì con đau nặng, con thương dì, con nóng ruột quá. Con muốn về thăm dì cho trọn đạo hiếu mà không dám thưa với ba má nên con nhờ đứa bạn cấy thế rồi lén ra đi. Con định đi một hai tiếng sẽ trở về ngay, không ngờ trời mưa lớn quá, mưa bão suốt cả đêm ngày, con không về được, để ba má phải lo lắng đợi chờ. Con thật có lỗi với cha mẹ. Con còn dại khờ, xin ba má tha tội cho con”.


Ông Ba dường như thông cảm cho tấm lòng hiếu thảo của con dâu. Nét mặt ông dịu đi, bớt vẻ nghiêm khắc. Còn anh Dâu đứng sau lưng cha thì vừa gật đầu liên tục, vừa mỉm cười như vừa ý lắm.


Ông Ba ngồi trầm ngâm hồi lâu rồi mới nói: “Gia đình mình là gia đình gia giáo. Con cái đi phải thưa về phải trình. Điều gì không biết thì hỏi cha hỏi mẹ. Ba má có bao giờ khe khắt với con. Thôi thì ba cũng tha lỗi cho con lần này là lần thứ nhứt”.


Cô Bảy chắp tay xá cha:


“Con xin cảm ơn tía”.


Nhưng rồi ông Ba lại tiếp:


- Với ba thì sao cũng được, nhưng với má con thì phải có khuôn có phép. Má con giận lắm đó. Bây giờ phải lo trầu rượu lạy má xin tha lỗi.


Cô Bảy nghĩ: “Lạy má thì dễ rồi, nhưng trầu rượu là làm sao hồi nào đến giờ mình đâu có biết”.


Cô liền đánh bạo hỏi cha:


- Thưa ba, vợ chồng con còn nhỏ dại, xin ba dạy con làm cách nào cho má dịu giận mà tha tội cho con.


Ông Ba đứng dậy nói:


- Thằng Dâu lấy cái nhạo đi mua cho vợ con một nhạo rượu để lên khay với hai cái ly. Con Lánh têm mấy miếng trầu để lên rồi bưng lên lạy ba má xin lỗi. Ba sẽ lựa lời nói vô cho má con dịu giận.


Khi vợ chồng Bảy Lánh bưng khay trầu rượu lên thì ông Ba, bà Ba đang ngồi trước bàn nước. Nhưng bà Ba thì ngó thẳng ra ngõ lãnh đạm nhai trầu như không biết là có vợ chồng Bảy Lánh bưng khay trầu rượu đến.


Khi cô Bảy Lánh để khay trầu rượu trước mặt ông bà và cất tiếng thưa: “Thưa ba má.”. Bà Ba mới từ từ ngoảnh lại.


Cô Bảy run run thưa lại từ đầu như đã thưa với ông Ba, nhưng hình như cô Bảy sợ mẹ hơn sợ cha nên trong câu nói có ít nhiều bối rối, không được mạch lạc, suôn sẻ như lúc nãy. Cuối cùng, cô khép nép:


- “Bây giờ con đã biết lỗi, con xin trầu rượu lạy ba má, xin ba má tha tội cho con”.


Rồi không đợi ba má trả lời, cô liền quỳ xuống lạy hai lạy.


Bà Ba vẫn im lặng lạnh lùng. Ông Ba liền lên tiếng:


- “Con đã biết lỗi thì ba má cũng tha lỗi cho con. Từ đây về sau con phải biết ở cho ra con nhà có nền nếp, gia giáo. Thôi, con nó lạy và xin lỗi rồi, bà hãy tha thứ lỗi lầm cho nó”.


Bấy giờ bà Ba mới lên tiếng: “Thằng Dâu, con phải lo dạy dỗ vợ con cho lắm. Nền nếp nhà mình từ hồi nào đến giờ hẳn con đã biết. “Nhập gia tùy tục” từ nay không được buông tuồng như thế. Thôi! Má cũng tha lỗi cho con”.


Bà Ba cầm miếng trầu đã têm bỏ vào miệng nhai nhóc nhách.


Vợ chồng Bảy Lánh mừng rỡ như thi đậu trạng nguyên, vội vã rút lui xuống bếp quên cả việc dẹp khay trầu rượu.


Hôm sau, đi tưới vườn thuốc nam gặp ông Bảy Sáng, cô Lánh rầu rĩ nói: “Đi làm việc nước mà phải dối cha dối mẹ tôi sợ quá bác Bảy”.


Ông Bảy cười hiền từ, an ủi:


- “Không sao đâu. Vì dân vì nước mà phải nói dối thì có Phật trời. Phật trời ắt cũng chứng giám cho tấm lòng son sắt”.


 


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »