tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
26.07.2009
Nguyễn Trọng Mai
Em bé bán báo và nhà tiên tri

                                                                               


Tặng Như Mai                                                                   


                Mùa thu thường là mùa bận nhất của ông. Mùa khai giảng đến, Trung thu cũng gần kề, mà tờ báo của ông lại dành cho tuổi học trò nên những số báo vào mùa này phải làm sao cho thật hấp dẫn, thật “thơm”, “ngon”.  Và cũng chính mùa thu, khi thời tiết mát mẻ, khi cái lạnh se se vừa đến, cũng là lúc thuận lợi nhất để đi công tác, thâm nhập cuộc sống, và ông đã đi thật nhiều.


 


Hôm ấy, tại một thị xã nhỏ miền trung du, trên đường đi công tác thì xe hỏng máy. Đây không phải là lần đầu tiên chiếc xe cà tàng của toà soạn dở chứng. Nhưng ông không bao giờ bực dọc. Nhiều khi, chính trong những hoàn cảnh oái oăm, ông lại bắt gặp một mảnh đời, nẩy ra một tứ thơ... Rời chiếc xe toà soạn, ông đi xe ôm ra ga tiếp tục cuộc hành trình.  Còn phải chờ tàu khoảng 3 giờ đồng hồ nữa, ông ngồi nói chuyện tào lao với đám khách chờ tàu. Đang nói chuyện thì một bé gái tiến lại chìa một tấm bìa trước mặt ông và bà khách bên cạnh. Trên tấm bìa có in sẵn một câu: “Cháu bị câm.  Nhờ ông/bà/cô/bác mua giúp cháu một tờ báo”.  Bà khách cảm thấy bị làm phiền vì ngắt quãng mất câu chuyện đang hay, vội đẩy cháu ra, mắng té tát:


- Câm với điếc gì mày, cút đi. Cữ mày không lừa lọc thì cũng rình ăn cắp.


Em bé mím miệng quay ngoắt đi. Một lát sau, ông để ý thấy hai giọt nước mắt lăn trên gò má. Ông cảm thấy một điều gì đó đau xót trong lòng. Em bé này câm thật, chứ không phải như bà khách nhẫn tâm kia nói. Ông nhanh chóng kết thúc câu chuyện với đám khách và lẳng lặng quan sát em bé. Em vẫn kiên nhẫn đi bán báo. Vẫn giơ tấm bìa và tờ báo trước mặt các ông bà khách. Thỉnh thoảng cũng bán được một tờ. Thỉnh thoảng lại bị mắng, bị cho là lừa bịp. Có người cũng mua nhưng vẫn nói một câu:


- Cháu ơi, việc gì mà phải giả câm. Cháu cứ nói đàng hoàng bác vẫn mua cho cháu cơ mà.


Em vẫn lẳng lặng.  Đã câm rồi, dù thật hay giả thì cũng làm sao mà trả lời được.


Ông đi đằng sau em bé. Đến một chỗ vắng, ông khẽ gọi:


- Cháu ơi, bán cho bác một tờ báo nào.


Em bé quay lại. Ông hỏi:


- Vậy ra cháu không điếc ư? Cháu nghe được lời bác gọi ư?


Em bé gật đầu. Ông hỏi mỗi ngày đi bán báo kiếm được bao nhiêu tiền.  Bằng cử chỉ, em trả lời: từ 5 đến 10.000 đồng. Ông hỏi:


- Vậy bác sẽ trả cho cháu 10.000 đồng của ngày hôm nay, cháu có đồng ý ngồi xuống đây nói chuyện với bác hay không?


Em bé lắc đầu. Ông hỏi vì sao. Em bé lấy cái bút, viết một câu lên giấy.  Em viết chậm, nhưng chữ viết nắn nót khá đẹp:


- Cháu đi bán báo chứ cháu không đi ăn xin.


Ông mời em ngồi. Giải thích rằng ông là nhà nghiên cứu xã hội, ông đang có một công trình cần lấy nhiều tư liệu. Rằng ông còn ở đây 3 tiếng đồng hồ, rằng ông rất muốn hiểu biết về những cuộc đời khác nhau.  Cháu kể chuyện cho ông là cháu cộng tác trong công trình của ông. Ông trả công cháu để bù lại thì giờ đã mất cho công trình của ông chứ không phải là ông bố thí. Em bé đồng ý. Hai bác cháu ngồi nói chuyện. Nói chuyện với một người câm, ông cứ nói, đưa ra các tình huống khác nhau và em chỉ cần gật hay lắc là ông hiểu tất cả. Thỉnh thoảng bí quá mới phải dùng cây bút, nhưng cũng chỉ cần viết một chữ là hiểu được tất cả nội dung.


Mẹ em là giáo viên tiểu học. Bố em đi Liên Xô từ ngày em chưa sinh và từ đó đến nay không thấy tin tức gì. Hồi đầu mẹ vẫn nói với em là vài năm nữa bố về, bố sẽ mua cho con búp bê thật đẹp. Nhưng nhiều lần vài năm rồi, bây giờ em cũng không hỏi mẹ nữa. Em đi học bình thường cho đến năm lớp 4 thì bị một trận ốm sốt cao, rồi đột nhiên bị câm. Mẹ chữa chạy rất tốn kém nhưng rồi cuối cùng các thầy thuốc đều bất lực. Khi đã không còn khả năng chữa chạy, mẹ vẫn quyết tâm dạy con học đến nơi đến chốn. Nhưng lòng quyết tâm ấy cũng chỉ kéo dài thêm được một năm nữa. Làm sao có thể dạy một đứa trẻ câm trong một trường thường được. Em nghỉ học và đi bán báo kiếm thêm tiền giúp mẹ. Chú hàng xóm dùng máy vi tính in giúp cháu câu mời chào. Cháu khổ tâm nhất là câu mắng: “đồ giả câm”, và câu chửi của bọn trẻ con: “đồ không có bố”.


 


Kể xong câu chuyện của mình, em hỏi:


- Bác ơi, đời cháu rồi như thế nào hở bác? Rồi cháu có bố không hở bác?


Ông cảm thấy phải an ủi cháu bé này. Nhưng an ủi như thế nào đây.  Ông đã nhiều lần an ủi hay động viên mọi người, làm cho người ta cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp. Các bạn ông thỉnh thoảng vẫn nói đùa ông là người đi lừa thiên hạ, đặc biệt là lừa trẻ con. Rằng cuộc đời ông, phải, chính cuộc đời ông, đã chua chát, đắng cay như thế nào, thế mà ngòi bút vẫn hồn nhiên, câu chuyện vẫn hấp dẫn làm cho lứa tuổi học trò  cứ ngốn ngấu đọc báo ông, cứ tin rằng cuộc đời là một màu hồng. Ông đi dạy cho các lớp viết văn ở cung văn hoá thiếu nhi. Các cháu rất hào hứng học và quyến luyến bên ông. Nhiều đứa gọi ông bằng bố, bố nuôi, con nuôi, nhưng nào có nuôi được ngày nào đâu. Có người ác ý còn nói nửa đùa nửa thật: tất cả các con vật nuôi đều để thịt. Ông cũng không phật ý.


Đúng là ông vẫn hay lừa. Lừa vô hại như diễn viên ảo thuật vẫn lừa thiên hạ đó thôi. Dễ lừa nhất là các cô thôn nữ. Và phương pháp lừa đơn giản là làm trò bói toán. Mới lớn lên, đang háo hức chào đón cuộc đời, cứ vẽ ra cho các cô một tương lai đèm đẹp: một nghề nghiệp an nhàn, một người chồng cần mẫn... là các cô tin ngay, hoặc không tin cũng cố mà tin.


Lắm lúc ông cũng tự hỏi:  mình cừ lừa bọn trẻ nhỏ là cuộc đời đẹp lắm.  Liệu điều đó làm cho chúng nó yêu đời hơn hay làm cho bọn chúng thất vọng sau này? Ông cũng không biết nữa.


Tuy nhiên, đối với cháu bé này, trò lừa lại không đơn giản như thế. Em sẽ không dễ dàng cố tin như các cô thôn nữ kia đâu. Cuộc đời đã bạc bẽo với em trước khi em kịp thơ mộng. Em đã rèn luyện tính kiên nghị khi còn ở tuổi thơ. Ông phải làm cái gì đây công phu hơn là đối với các cô thôn nữ. Ông nói với em ông không phải là người xem tướng số.  Nhưng là nhà nghiên cứu, ông đã nghiên cứu số tử vi, nghiên cứu cách xem tướng mặt, tướng tay.Ông cũng đã để công đọc kinh Dịch. Kinh Dịch là gì, làm sao em  biết được. Ông nói số tử vi là khoa học thống kê, phân loại con người thành từng nhóm nhỏ. Nếu người ta chia loài người ra hai nhóm thì một nhóm là nam, một nhóm là nữ, ai cũng phải thuộc một trong hai nhóm đó. Rồi người ta chia nhỏ nữa ra theo các cung phụ mẫu, tài thân tử thê di nô điền phúc,v.v... gọi là các sao nhưng cũng chỉ là hệ quy chiếu, v.v... Ông biết, với đứa trẻ cấp tiểu học, làm sao nó hiểu được những điều ông nói. Nhưng ông không cần nó hiểu, chỉ cần gây cho nó một ấn tượng là ông rất nghiêm túc. Rồi ông hỏi tuổi nó, xem bàn tay nó, rồi nhíu mày suy nghĩ, rồi bấm đốt tính toán, làm tất cả những tiểu xảo của các ông thầy bói toán, trước khi phán một câu:


- Số cháu sẽ nghèo, nhưng không khổ đâu.


Em bé sáng mắt lên hy vọng: ừ thì nghèo. Mẹ em là một cô giáo nghèo.  Bà em là một lão nông nghèo. Nhưng không những nghèo, số phận họ khổ quá.


- Thế nào là nghèo mà không khổ hả bác? Em hỏi.


- Rồi cháu sẽ đi làm, thu nhập cũng thấp thôi, nhưng cháu sẽ được mọi người quí mến và tôn trọng.


- Thế sau này cháu làm gì hả bác?


- Cháu sẽ làm giáo viên như mẹ cháu.


- Nhưng cháu câm thì làm giáo viên sao được?


Lúc nói điều này ông nghĩ đến một giáo viên ở một trường câm điếc, nhưng ông không thể nói thẳng như thế được. Nói như thế thì còn gì là huyền bí nữa. Ông phải nói rằng ông không biết. Rằng số mệnh chỉ ra như thế nhưng làm thế nào để trở thành cô giáo thì ông không biết được.  Rồi ông vạch tay em, chỉ cho em một nét rất mờ đứt quãng. Nét này không để ý thì không thấy được. Ông nói rằng rất nhiều người xem tướng tay bỏ qua mất nét này. Nét này chỉ rõ rằng lúc bé em không có cha, nhưng đến quãng 13 tuổi thì bố em sẽ về tìm lại mẹ con em. Nghe đến đây em bé cười, gượng gạo, thổn thức. Em tin chăng? Hay em chờ đợi, thoáng chút nghi ngờ?


 


Thế rồi, tàu đến, đã đến lúc chia tay. Cuộc sống nhộn nhịp nơi đô thị, những công việc bận rộn ở toà soạn dường như làm cho ông quên mất em bé. Nhưng rồi hai năm sau, nhân lần đi tham dự một cuộc thi “Bảy sắc cầu vồng” vùng trung du, tình cờ ông lại trở lại thị xã nhỏ bé này. Do có thời gian, ông tìm đến trường tiểu học, tìm một cô giáo có tên như em bé nói. Gặp cô, ông hỏi về em, và kể rằng ông có tình cờ gặp em ở ga tàu hai năm về trước. Cô giáo sững người:


- Trời! Vậy là bác đấy ư?, là “nhà tiên tri” đấy ư? Con bé cứ khăng khăng nói rằng nó đã gặp một nhà nghiên cứu, một nhà thông thái, một nhà tiên tri. Rằng nó sẽ làm cô giáo, rằng rồi bố nó sẽ về tìm lại hai mẹ con.


 


Cô kể rằng sinh cháu ra là một sự lầm lỡ. Bố nó tạo ra sinh linh nhỏ bé này chỉ trong một cuộc chơi như trò đùa bỡn, lúc bấy giờ đang chuẩn bị đi Liên Xô. Phần vì lỡ rồi, phần vì không muốn phiền phức ảnh hưởng tới chuyến đi, nên cưới vội rồi đi cho xong chuyện. Đi là xong, chẳng có tin tức gì. Nhưng cô không muốn con không có bố cho nên vẫn khai sinh là bố đi Liên Xô, và cô dựng lên trong đầu con hình ảnh một ông bố ở Liên Xô  vài năm nữa sẽ về. Dần dần lớn lên, cháu biết, ông bố kia thật mơ hồ, và có lẽ là nỗi đau của mẹ nên cháu cũng không nhắc đến nữa. Sau khi cháu bị ốm, bị câm, chạy chữa không khỏi, học hành cũng không được, cháu tình nguyện đi bán báo kiếm thêm tiền giúp mẹ.


- Tiền của cháu kiếm được, cháu bỏ ống, cuối năm bổ ra đếm rồi đưa cho mẹ. Nhưng em đâu có dám tiêu, vẫn để riêng làm vốn cho nó sau này.- Cô giáo nói.


 


            Cô nói rằng cháu có một quyển sổ, vừa là sổ kế toán, vừa là sổ nhật ký, ghi từng ngày một, rất đơn giản. Ví dụ: Ngày 5-6: 5200đ. Ngày 6-6: 7400đ.  Ngày 7-6: 9700đ, may quá. Ngày 8-6:3000đ, thật xúi quẩy. Ngày 9-6: bị mắng. Ngày... được một bà hảo tâm giúp đỡ...


Cho đến một hôm em ghi: “Nhà tiên tri. Cô giáo. Bố sẽ tìm năm 13 tuổi”. Và em hy vọng từ bấy đến nay.


 


            Sau lần ấy trở về, ông suy nghĩ mãi. Làm sao đây khi tuổi mười ba của em sắp đến. Thế rồi một hôm ông gặp một người bạn đang làm ăn ở Nga. Ông nhờ ông bạn cái địa chỉ để nhận thư, và ông cho đăng trên tờ báo mẩu tin: Tìm người nhà. Chồng: Nguyễn Văn Hoà, đi Liên Xô (cũ) đã 13 năm nay. Do có nhiều trắc trở, không liên hệ được với gia đình. Nay muốn tìm tin tức của vợ là Trần Thị Thanh, trước là giáo viên, và con gái. Thanh và con! Xin hãy tha thứ cho anh! Hãy báo tin cho anh!


 


            Qua thư từ với chị Thanh, ông biết em bé thực sự xúc động khi đưa tờ báo cho mẹ xem. Với em, điều linh nghiệm đã đến ở lứa tuổi mười ba. Và rồi từ đó thư từ của con cứ gửi sang Matxcơva, chuyển về Hà Nội, đến tay “bố” nhà báo. Thư trả lời lại từ Hà Nội sang Matxcơva và về đến “con” ở thị xã trung du.


 


            Thư từ được một năm thì em bé luôn luôn dục: Bố ơi, về với con đi. Sao bố không về? Hay là bố có bồ bên ấy rồi? Mẹ con nhớ bố lắm. Bố về đi!


 


            Ông đã tìm mọi cách để trì hoãn, lúc thì lấy lý do là quá bận rộn, lúc thì vì chưa làm được hộ chiếu, vi sa. Nhưng càng ngày cô bé càng thúc giục và một giải pháp bắt buộc phải đưa ra. Một người bạn của ông, bộ đội chuyển ngành, một kỹ sư ở lứa tuổi trung niên, nhưng cuộc đời cũng đã nếm nhiều cay đắng, rất cảm thông với hoàn cảnh của hai mẹ con cô giáo. Sau khi làm quen nhân một chuyến cô giáo về Hà Nội, anh nhận đóng vai ông bố. Cô giáo hết sức băn khoăn: đành rằng anh giả vờ về độ một tuần rồi lại đi, nhưng ăn ở làm sao? Anh bạn cam đoan: 


- Chị cứ yên tâm đi. Trên phim đã có khối chuyện như thế rồi. Vả lại, tôi xin cam đoan với chị là tôi rất nghiêm túc.


 


            Thế rồi màn kịch đã diễn ra. Hai mẹ con từ miền trung du nhận được điện đi đón bố. Nội Bài. Chen lấn. Chờ đợi. Rồi cuối cùng ông bố cũng xuất hiện. Em bé chạy nhanh như bay đến ôm chầm lấy bố, và đột nhiên em bật nói:


   - Bố! Con chờ bố mãi!


 


            Trời ơi! Con tôi nói được. Và sau đó là nước mắt, nước mắt không cần kịch bản, những dòng nước mắt thực sự trào tuôn.


 


            Ông nhà báo đứng nhìn. Ông cũng khóc. Kết cục không ngờ lại như thế. Em nói được. Rồi em sẽ đi học lại. Rồi em sẽ thành cô giáo. Rồi em sẽ có bố. Trời! Một sự lừa dối, nhưng là sự lừa dối lương thiện. Ai nỡ lên án ông?


                                                                                                                                                              


NTM


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »