tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
29.10.2009
Xuân Hòa
Kỷ niệm thời lính trẻ

Thế là ba mươi hai năm trôi qua, kể từ mùa xuân năm 1968. Tôi trở thành công dân của Thủ Đức và là một cựu chiến binh. Mảnh đất vùng ven ngoại thành không những chỉ gắn bó tình cảm mà còn bằng cả máu thịt cuộc đời tôi. Những hình ảnh, những kỷ niệm luôn nhắc nhở, thôi thúc tôi làm tròn bổn phận với quê hương và những người thân yêu. Xin thổ lộ cùng độc giả, tôi không phải là người gốc Thủ Đức, mà sinh ra và lớn lên trên miền đất Quan Họ. Nơi có những làn điệu dân ca say đắm lòng người, những địa danh đẹp như một huyền thoại: “Thiên Thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian”... với tranh Đông Hồ nét bút động hồn thơ. Với dòng sông Cầu lơ thơ nước chảy... Ngày ấy tôi say sưa học tập dưới mái trường đỏ lừng hoa gạo. Rồi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, đánh vào quê hương tôi. Bạn bè chúng tôi lần lượt vào bộ đội, rồi vào Nam đánh Mỹ. Và tôi cũng trở thành người lính. Sau mấy tháng miệt mài luyện tập, chúng tôi những binh đoàn “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Và trong đợt tiến quân mùa Xuân Mậu Thân 1968 (đợt 2) chúng tôi đánh vào vùng ven Sài Gòn Gia Định. Tôi nhớ hôm đó khoảng đầu tháng 5, trước giờ G, đơn vị chúng tôi đã ém quân phía bờ nam xa lộ Đại Hàn. Sau khi nổ súng tiêu diệt một loạt đòn bót nằm ở dọc xa lộ, đơn vị phát triển đánh sâu vào Sài Gòn. Chúng tôi bị thương phải nằm lại, tản vào trong dân chờ trời tối rút về phía sau. Nhưng tới hơn 10 giờ sáng địch bắt đầu phản kích trở lại, số thương binh được chia nhuyễn ra. Riêng tôi được một bà mẹ đưa về nuôi giấu. Nhưng tôi vừa vào được trong nhà thì nghe người ta bảo bọn giặc ập tới và hình như chúng đã phát hiện và bắt được hai thương binh của ta. Rất nhanh, người con gái của mẹ kịp dìu tôi ra vườn sau đưa xuống đưa xuống hầm bí mật an toàn. Rồi cô gái quay ra xem động tĩnh ra sao. Cô hết hồn khi phát hiện nhiều vết máu của tôi chảy ra còn loang trên mặt sân. Nhanh như chớp, cô chộp cổ con gà mái đang ấp gần đó cắt cổ rồi quăng ra cho nó chạy khắp sân. Vừa lúc đó hai tên lính ập tới và từ trong nhà bà mẹ bước ra miệng la rầm rĩ:


- Đó mấy chú coi, ngày giỗ cha nó, có con gà cắt cổ không xong, cái ngữ này ở nhà với mẹ tới già chứ ai rước. Mấy chú xem có lấy tự vệ, tự diếc gì tôi cho nó theo mấy chú cho rồi. Đi ra ngoài cho biết khôn...


Hai tên lính đứng sững nhìn con gà chạy với cái cổ cà gật, cà ghẹo, máu tuôn xối xả cũng há hốc miệng cười, buông mấy câu chọ ghẹo, rồi bước ra phía cổng.


Người con gái tóm cổ con gà mái quăng vô góc bếp, dọn sạch các vết máu rồi bước vô nhà. Bà mẹ mắng yêu:


- “Cha mẹ mày, con! Học đâu cái trò đối phá hay vậy”. Rồi người mẹ đứng canh cửa để cô gái ra hầm gặp tôi. Trong căn hầm chật hẹp với ánh sáng của ngọn đèn dầu vừa thắp lên, tôi nhận ra khuôn mặt em. Một cô gái trẻ chưa bước qua tuổi đôi mươi. Em không có nét đẹp lộng lẫy, nhưng rất có duyên, đôi mắt đen long lanh, giọng nói em nhẹ và ngọt ngào. Em lần giở vết thương, rửa lại bằng nước muối và băng lại cánh tay trái cho tôi. Trong những giây phút ấy, mái tóc và hơi thở của em phải vào mặt tôi mùi hương thơm mát dịu tinh khiết. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận một hương vị đặc biệt của người con gái gần gũi đến như vậy. Tôi nghe rất rõ từng nhịp đập trái tim em lúc nhanh, lúc chậm và cả nhịp đập của trái tim tôi. Nhịp đập của hai trái tim vang vọng trong lòng đất vùng ven này. Từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi chỉ nghe vùng đất Sài Gòn xa xôi và trù phú cùng những con người tài trí thông minh làm nên một hòn ngọc Viễn Đông. Tôi đâu ngờ giờ đây chính tôi và đồng đội đã cùng đổ máu cho thành phố Sài Gòn. Mảnh đất nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, cùng tấm lòng những người dân thành phố làm tôi thật sự xúc động. Trong tình cảm thiêng liêng mạnh mẽ ấy làm tôi quên đi ranh giới của giới tính, tôi nắm chặt cổ tay em từ lúc nào. Và cứ mỗi lần em gỡ tấm băng dính chặt vào vết thương đau nhói, tôi lại càng xiết chặt cổ tay em. Tôi như có cảm giác dịu đi sự đau đớn từ vết thương. Xong xuôi mọi việc em trở lên, nhưng chỉ vài phút sau em lại trở xuống với ly sữa nóng trong tay. Vì cả cánh tay trái của tôi bị băng cứng, nên em không cho tôi cử động. Em đút cho tôi từng thìa sữa. Ôi những giọt sữa của mẹ, của em nhắc tôi nhớ tới câu nói của người xưa “hạt cơm của người Siếu Mẫu” trả ơn ngàn vàng. Nhưng tôi lấy đâu ra được ngàn vàng để đền ơn cho mẹ và em. Tôi chỉ có trái tim và cây súng đánh giặc. Biết đâu rằng một ngày kia cuộc đời trận mạc vì một lý do nào đó tôi không còn được trở về gặp mẹ và em nữa, mong mẹ và em thứ lỗi. Tôi đem suy nghĩ ấy nói ra với em cùng đôi lời biết ơn. Tôi đâu ngờ câu nói của tôi đã làm em rơi nước mắt. Những giọt nước mắt của em rơi xuống tay tôi nóng bỏng. Tôi như người có lỗi, vội đưa bàn tay còn lại gạt nước mắt cho em. Tôi đầu ngờ em nắm lấy bàn tay của tôi và giữ mãi trong tay mình. Hình ảnh thân thương ấy cùng những lời tâm sự của em cứ theo tôi mãi suốt các chiến trường đánh giặc. Tôi biết gia đình em cũng từ một miền quê xa vào Sài Gòn sinh sống từ những năm giặc Mỹ lê máy chém “Tố Cộng” – lúc ấy em còn nhỏ lắm. Cha em một cán bộ hoạt động cách mạng – Bí thư huyện ủy huyện Điện Bàn bị giặc giết trên đường đi công tác. Sau đó không lâu trong một trận càn của giặc vào làng, anh trai em lại hy sinh. Chúng chặt đầu đem bêu cổng làng vì anh của em là du kích. Sau trận càn ấy giặc luôn ruồng bố rình rập, bắt bớ những gia đình theo cách mạng. Không để sa vào tay giặc, hai mẹ con dắt díu nhau vào Sài Gòn sinh sống. Tôi đâu ngờ em có hoàn cảnh thương tâm như vậy. Tôi hứa với em rằng, chúng tôi còn sống còn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để trả mối hận thù này cho em. Mối thù của gia đình em cũng là mối thù chung của toàn dân tộc. Tôi càng xấu hổ vì ý nghĩ “trả ơn em ngàn vàng”. Tấm lòng mẹ và em còn quý hơn cả bạc vàng.


Sau hai tuần giặc co cụm, yên ắng, bà mẹ móc ráp được với cơ sở, tổ chức đường dây đưa chúng tôi về đơn vị. Tạm biệt mẹ và em, tôi không biết nói gì, chỉ biết cảm ơn tấm lòng quý báu của mẹ và em. Tôi líu ríu hứa hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và hẹn ngày trở lại thăm mẹ và em. Trong giây phút ngắn ngủi ấy, em ôm chầm lấy tôi. Tuy không nói lên lời, nhưng trái tim đã mách bảo tôi về một tình yêu đôi lứa. Chúng tôi không hứa hẹn, nhưng đều chung một ý nghĩ “mai sau dù phải đi tới bóc biển chân trời cũng phải tìm thấy nhau”. Tôi khẽ gọi tên em trong thổn thức:


- Loan! - Và tiếng dạ ngọt ngào cùng tiếng đập con tim như cùng rung lên một nhịp. Tôi nắm chặt bàn tay em rồi từ từ buông ra đi theo người giao liên qua phía bên kia con lộ. Ở tận phía cuối con đường tôi ngoảnh nhìn lại vẫn còn thấy em đứng đó vẫy tay. Tôi cố giấu đi giọt nước mắt xúc động.


Cuộc đời trận mạc nay đây mai đó, cho đến mùa xuân năm 1975, tức tám năm sau, tôi vinh dự có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng Sài Gòn. Lúc ấy tôi là chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Một sự lặp lại trùng hợp, không biết có phải định mệnh khiến xui – đơn vị tôi lại tiến quân theo con đường tiến quân của mùa Xuân Mậu Thân. Tôi cố hình dung ra mẹ và em. Song đã tám năm trôi qua cùng với bao biến cố xảy ra tời chinh chiến. Rồi chiến dịch đã cuốn hút tôi chẳng còn thời gian suy nghĩ. Giải phóng Sài Gòn được một tuần, tôi sắp xếp công việc đơn vị tìm ra ngoại ô. Nhờ sự giúp đỡ của Ban quân quản địa phương, tôi không khó nhọc tìm ra căn nhà của mẹ.


Tôi đứng trước căn nhà mà lòng đau như dao cắt: “Loan ơi! Anh cứ nghĩ rằng ngày giải phóng Sài Gòn cùng là ngày mình gặp lại. Đâu ngờ đó lại là ngày anh mãi mãi mất em”. Tôi nghẹn ngào không nói nên lời và càng xúc động hơn khi má Năm như muốn ngất xỉu trong vòng tay tôi. Má nói trong nước mắt:


“Suốt tám năm qua nó vẫn chờ đợi ngày giải phóng, chờ đợi con. Nhiều người đeo đuổi nó, nó quyết không ưng. Nó xin vào bộ đội huyện, trong đợt công tác cuối năm 1974 bị giặc phục kích hy sinh cách ngã tư Xuân Hiệp chừng hai cây số, ngày trong địa phận Linh Xuân mình. Bà con lấy xác nó về chôn cất ngay trong vườn kia... Tôi tưởng chừng mình không đứng vững nổi. Song phải gắng gượng để động viên an ủi má. Tôi theo má ra vườn, dưới tàn cây vú sữa sum sê che bóng mát nơi em nằm yên nghỉ. Tấm hình em gắn trên bia mộ như đang cười với tôi. Đôi mắt em vẫn lấp lánh như muốn nói với tôi rằng “Anh đã trở về thế là em đã mãn nguyện rồi”. Tôi đặt bó hoa trắng tinh khôi trên phần mộ em. Người nữ liệt sĩ mà cách đây tám năm em đã cứu tôi thoát khỏi vòng vây của giặc. Người mà tôi nguyện sẽ đi với em đến trọn cuộc đời. Hơi thở và mái tóc ngày xưa phả vào mặt tôi trinh nguyên, cùng những giọt nước mắt lúc chia tay vẫn hiện hữu trong tôi. Lòng tôi tế dại. Trong ngày vui đại thắng này biết bao nụ cười và nước mắt. Có giọt nước mắt tôi thương nhớ em.


Tôi đã coi má như mẹ đẻ của mình. Ngoài thời gian công tác, tôi về sống với mẹ. Tình cảm tôi dành cho mẹ đã làm mẹ vơi bớt nỗi nau. Năm 1980, tôi lấy vợ, mẹ đứng ra cưới hỏi. Vợ chồng tôi dọn về ở luôn với mẹ, mẹ khỏe và vui hơn, mẹ bảo:


“Mẹ đã tìm được lại bóng hình con gái qua hình ảnh vợ tôi”. Quả thật như một sự ngẫu nhiên hay một đưa đẩy nào đó mà vợ tôi rất giống Loan về mọi phương diện.


Qua năm 1990, mẹ ở tuổi ngoài tám mươi và lâm bệnh nặng. Vợ chồng tôi thuốc thang chạy chữa khắp nơi, nhưng vì tuổi cao sức yếu mẹ đã qua đời. Mẹ nằm bên cạnh Thanh Loan – phần mộ khang trang to đẹp.


Năm 1993, tôi được đơn vị cấp một nền nhà, vợ chồng tôi dọn về nơi ở mới. Tôi xin giao lại khu vườn đất cho người trưởng họ để thờ cúng ông bà và nhang khói cho mẹ và Loan. Hàng năm những ngày rằm, ngày Tết vợ chồng con cái chúng tôi đều về viếng mẹ và Loan. Mảnh đất mà trong tôi không chỉ là kỷ niệm mà còn là máu thịt.


 


Sài Gòn, Xuân 1978- Xuân 2000.


XH.


Nguồn: Rút từ Chuyện của hai người đàn bà. Tập truyện ngắn của Xuân Hòa. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »