Khoa đến với tôi không phải chuyện tình cờ, mà do sự hò hẹn của ba mẹ tôi và ba má anh ấy từ hồi chúng tôi còn để chỏm. Khoa hơn tôi bảy tuổi – con một luật sư dưới chính quyền Sài Gòn. Anh tốt nghiệp bác sĩ hồi cuối năm bảy tư, và được đưa về làm việc trong bệnh viện “Vì Dân”. Còn tôi năm ấy vừa tròn 17 tuổi. Cô nữ sinh trường Gia Long có nhan sắc và là con giáo sư – hiệu trưởng trường – tôi sống mơ mộng và kênh kiệu. Đó cũng là nguyên nhân để hai gia đình chúng tôi xích lại gần nhau. Nhưng trong tình yêu ấy Khoa phải chấp nhận điều kiện: Tôi phải tốt nghiệp đại học và phải có chút công danh bổng lộc gì đó, tôi mới thuận cho Khoa làm lễ cưới. Tất nhiên Khoa chấp nhận và còn có thể làm tất cả mọi việc kể cả phải “đội đá vá trời” để có được giai nhân. Và thật thế, có việc gì tôi muốn mà anh không làm được. Tôi nhớ hồi đó vào khoảng tháng 2 năm 1975, tuổi trẻ chúng tôi xuống đường chống chính quyền Sài Gòn, chống Mỹ như nước vỡ bờ. Chúng tôi tổ chức những đêm không ngủ, những buổi ca hát, tọa đàm về tuổi trẻ và lòng yêu nước… Và tôi cũng chẳng cần biết Khoa có đồng ý hay không. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 lực lượng cách mạng tràn vào giải phóng Sài Gòn và tôi trở thành cô nữ tự vệ. Cái hình ảnh tuyệt vời ấy suốt đời tôi không bao giờ quên được – Ba đứa chúng tôi đã được ngồi trên một chiếc xe tăng của Quân giải phóng mở đường đưa một đơn vị đánh chiếm “Biệt khu Thủ đô”. Một anh bộ đội giải phóng đã gài lên ngực áo tôi tấm huy hiệu đoàn viên – Anh bảo: “Để kỷ niệm tôi trong giờ phút lịch sử”… Mà tôi còn giữ mãi đến bây giờ. Nhưng người chiến sĩ ấy không còn nữa. Anh đã ngã xuống trước cổng Biệt khu, tôi cũng chẳng kịp biết tên tuổi, quê hương anh, chỉ biết anh nói tiếng Hà Nội. Và chính hình ảnh của anh đã tiếp thêm nghị lực để tôi vượt qua bao thử thách của cuội đời.
Chúng tôi như những cánh chim, hết đơn vị này chuyển qua đơn vị khác, hết việc này làm việc khác. Chúng tôi làm việc không biết mệt mỏi, không biết đói. Và cũng chẳng lo đói, bởi đến đâu nhân dân cũng đem cơm nước, kẹo bánh ra cho bộ đội, cho chúng tôi ăn, một thế giới phẳng lì mở ra trước mắt chúng tôi. Thỉnh thoảng tôi mới ghé qua nhà, rồi lại rút đi như một cánh chim không mỏi. Trong niềm vui dào dạt tôi muốn tìm gặp Khoa. Tôi ào vào bệnh viện như một ngọn gió và cũng đúng lúc Khoa vừa xong một ca phẫu thuật cho một chiến sĩ Quân giải phóng bị thương nặng. Sao lúc này tôi thương Khoa đến thế. Ngọn lửa tình yêu rực cháy trong lòng. Tôi ào vào ôm lấy anh. Biên giới tôi ngăn cách anh bao lâu nay bây giờ đã không còn khoảng cách. Tôi đón nhận những nụ hôn của anh từ môi, má… tôi đón nhận hạnh phúc. Và chúng tôi, mỗi người lại lao vào công việc của mình cho sự thay da đổi thịt từng ngày của Thành phố.
Mái trường cũ được chính quyền cách mạng mở cửa đón chúng tôi. Cái nếp sông kênh kiệu trong tôi đã biến đi tự bao giờ - tuổi trẻ chúng tôi đầy ắp tiếng hát, tiếng cười… Đối với Khoa, tình yêu tôi vẫn dành trọn vẹn cho anh. Tôi đến với anh mỗi chiều thứ bảy, chúng tôi trao đổi về công tác và học tập… Anh còn dành thời gian dạy tôi thêm về nhạc lý. Chúng tôi hát say mê bài: Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh. Tôi như đắm mình trong đôi mắt rực lửa tình yêu của anh.
Mùa hè năm 1977, tôi tốt nghiệp lớp 12 và nộp đơn thi vào Trường Đại học Sư phạm. Và tôi đã vinh dự trở thành người đoàn viên. Trong buổi lễ kết nạp, tôi xin phép được gắn tấm huy hiệu đoàn mà người chiến sĩ đã gắn lên ngực áo tôi trong giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn. Và cũng thật sự là bước ngoặt mới của cuộc đời tôi. Trong lời tuyên thệ, tôi khóc nhiều hơn nói.
Tháng 9 năm 1977, tôi trúng tuyển vào đại học, và cũng giữa lúc ấy bọn phản động Pôn-Pốt Iêng-xa-ri gây ra cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Tổ quốc ta. Vụ thảm sát mấy trăm đồng bào ta ở xã Tân Lập (Tây Ninh) đã làm căm phẫn dư luận thành phố và dư luận trong cả nước. Hàng loạt thanh niên thành phố đã nộp đơn tình nguyện lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Còn tôi, tôi cũng đã chuẩn bị cho mình những việc cần phải làm của một sinh viên đại học. Mai mốt tôi sẽ trở thành một người thầy – một cô giáo trẻ. Bởi vậy tôi cũng cần phải nhanh chóng bước vào trường “đại học” mà tôi đã chọn, bằng lá đơn xin đi thanh niên xung phong và xin được trực tiếp phục vụ chiến đấu, thay vì tờ giấy gọi vào trường đại học tôi đã cất kỹ. Ba năm sau tôi sẽ trở lại trường, lúc đó vẫn chưa muộn.
Ước mơ của tôi được thực hiện. Song, tôi đã phải trải qua một thử thách gay cấn giữa mẹ tôi và một số bạn bè. Nhưng cuối cùng mẹ tôi cũng phải nhượng. Với Khoa trong việc này anh không có quyết định dứt khoát. Anh chỉ nói với tôi bằng giọng ngọt nhẹ, như những lần anh nói yêu tôi:
- Đó là việc hệ trọng, tùy em quyết định. Anh chiều em tất cả… Và tôi vẫn ngồi yên trong vòng tay anh. Tôi thương anh mỗi chiều thứ bảy vắng tôi chắc anh buồn lắm. Tôi hứa sẽ năng thư về cho anh. Sẽ công tác thật tốt để xứng với anh… Còn anh, chẳng nói gì hơn với đôi mắt buồn xa xăm. Tôi cầu Chúa cho anh được bình an, cho tình yêu của chúng tôi mãi trọn vẹn. Tôi để lại nụ hôn tạm biệt anh. Thân thể tôi như bồng bềnh giữa thế giới kỳ ảo.
Giữ đúng lời hứa, mỗi tháng tôi đều có thư về cho anh – mặc dù chiến trường đang vào mùa chiến dịch. Nhưng thư đi thì có, thư về thì không. Tôi trông đến đỏ cả mắt. Tôi thương anh bận nhiều công việc – và điều ấy đã an ủi tôi, tôi lao vào công tác. Một mùa mưa nữa đi qua, khoảng cuối năm 1978, tôi đang làm nhiệm vụ tải thương trên mặt trận phía bắc Sa-Nua thì tôi được tin anh. Đêm ấy tôi không ngủ được. Tôi trân trọng ôm ấp tình yêu của anh. Tôi sẽ dành trọn đêm nay để đọc thư anh, tâm sự cùng anh. Ước gì anh đến được cùng tôi. Tôi sẽ kể cho anh nghe những hy sinh lớn lao của các chiến sĩ ngoài mặt trận và những thử thách mà chúng tôi đã vượt qua rất đỗi gian khổ và cũng rất đáng tự hào. Tôi sẽ trở về trường đại học với vốn sống phong phú để truyền lại cho học sinh của tôi. Chúng tôi sẽ làm lễ cưới nhau trong niềm vui vô tận của gia đình, của bạn bè. Tôi sẽ sinh cho anh đứa con trai đầu lòng và nhất định phải giống anh như tạc tôi mới chịu… Ý nghĩ ấy làm tôi xấu hổ một mình, tôi ấp thư anh lên ngực mà nghe tim mình thầm gọi mãi tên anh. Tình yêu của tôi đối với anh mãnh liệt và dữ dội. Tôi đợi cho mọi người đã ngủ ngon, ngồi dậy khêu to ngọn đèn – ngọn đèn cháy kín trong chụp ngụy trang hắt ánh sáng đủ để tôi đọc thư anh.
Tôi đọc nghiến ngấu từng lời, từng chữ mà cổ tôi cứ nghẹn lại, nước mắt tôi trào ra. Những hàng chữ nghiêng nghiêng và nụ cười nửa miệng của anh cứ nhấp nhóa ẩn hiện. Cái giọng ngọt nhẹ: “Tùy em quyết định”… như xoáy vào cân não tôi. Tôi suy nghĩ, rời rã.
… “Huyền Nga! Đừng ngạc nhiên khi hơn một năm nay anh không có thư cho em. Điều ấy có nghĩa là anh để cho em được trọn vẹn lý tưởng của mình. Nhưng hôm nay thì anh phải nói – vì anh còn yêu em. Anh không hiểu sao em lại tự đày đọa mình như vậy. Mà đáng lý ra em phải có một địa vị và một tư cách khác hơn… Còn anh suốt mấy năm qua anh cũng chẳng làm được gì hơn cho mình ngoài sức lực đổ ra. Bạn bè của chúng mình cũng lần lượt ra đi – Họ đi đâu chắc em hiểu. Và em cũng đừng ngạc nhiên nếu chúng mình phải chia ly”…
Tôi trăn trở hoài trên võng, cố kiềm giữ tiếng nấc. Bao nhiêu dấu hỏi tôi đặt ra về anh – rồi lại tự trả lời: Anh ấy định thoát ư? Sang Mỹ, Canada, Pháp hay Hồng Kông… Anh ấy bảo tôi về để đi cùng anh ấy. Bỗng dưng tôi như người trượt ngã và đang đuổi theo trăm ngàn suy nghĩ để cố nắm bắt một cái gì trọn vẹn mà tôi vẫn cảm thấy mơ hồ, ảo ảnh. Đầu óc tôi rối bung. Tôi đang đứng trước ngã ba đường và con đường nào tôi phải chọn – lý tưởng, tình yêu và lời hứa trao gửi cuộc đời cho anh… Nhưng tôi đang xa anh, và cũng có thể cuộc chiến tranh này sẽ cướp tôi ra khỏi vòng tay anh. Lòng tôi se lại, xót xa. Những quyết định của tôi từ trước đến nay có sai lầm không? Và nếu sai lầm – theo lời anh nói, thì tôi sẽ phải suốt đời ân hận. Tôi đã hao phí thời gian và bao nhiêu sức lực. Đó phải chăng là cái giá mà tôi phải trả không? Ngày mai tôi có vào trường đại học nữa không? Tôi đang đứng trước một ẩn số khó giải. Nhưng một điều khẳng định rằng tôi vẫn yêu anh. Tôi quyết sống chết cùng anh. Và như thế cũng có nghĩa là tôi chấp nhận theo anh. Tôi chuẩn bị tư tưởng cho mình trong bước ngoặt mới – và giấu kín điều ấy trong lòng. Ngày hôm sau tôi vẫn tiếp tục cùng chị em tải đạn ra mặt trận.
Lúc đó vào khoảng cuối mùa khô năm 1976, địch tập trung phản kích mạnh. Một lực lượng lớn của trung đoàn 260 thuộc quân khu Đông Bắc của địch đánh chiếm lại các chốt của ta trên điểm cao 37. Tại cụm B3 gồm 5 chiến sĩ và 3 chị em thanh niên xung phong chúng tôi bị kẹt lại. Trận chiến đấu không cân sức kéo dài suốt từ 4 giờ chiều đến 12 giờ trưa hôm sau. Ba chiến sĩ và Liên thanh thanh niên xung phong đã hy sinh. Tôi và Mai chia ra cùng hai chiến sĩ chia thành hai tổ. Thành thật lúc ấy tôi cũng chẳng còn nghĩ mình phải dũng cảm, hoặc gì gì… cái chính là để tự vệ. Tôi cũng không lường được điều gì sẽ xảy ra. Tất cả chỉ còn lại tiếng nổ, bụi khói, đất đá khét lẹt. Và khi mặt trời tròn bóng thì người chiến sĩ cuối cùng bị thương nặng – một cánh tay anh bị giập nát. Anh nghiến chặt răng để tôi băng bó. Bàn tay còn lại anh vẫn ghì chặt súng siết cò. Anh ra lệnh cho tôi rút chạy. Tôi không thể để anh nằm lại một mình. Và tôi bắt gặp đôi mắt anh – ôi đôi mắt của người chiến sĩ đã hy sinh năm 1975 trước biệt khu “Thủ đô”. Tôi chưa kịp đặt anh nằm xuống thì bọn giặc đã tràn lên. Tôi ghì chặt khẩu RPD siết cò. Tôi quyết sống chết với chúng, chứ nhất định không để chúng bắt sống. Tôi không còn biết sợ, hết băng đạn này, tôi lao băng đạn khác và trước mũi súng của tôi từng tên lính Pôn-Pốt đổ xuống. Chúng không dám lên nữa, mà cứ nằm tại chỗ đổ đạn về phía tôi. Tôi cũng nằm im chờ cho chúng lổm ngổm bò lên mới siết cò. Và tôi bỗng nghe vòng tay cò của mình phát ra một tiếng cách, khô khốc – súng của tôi đã báo hết đạn. Máu trong người tôi như dồn cả lên mặt – nóng ran. Tôi kéo thùng lựu đạn – chỉ còn ba trái. Tôi tặng chúng hai trái – còn trái cuối cùng tôi sẽ chia đôi với chúng. Mẹ mình khóc, mẹ chúng cũng phải khóc – tôi nghĩ vậy. Giờ phút ấy tôi bình tĩnh đến lạ lùng. Tôi lấy khăn mùi soa lau mặt cho người chiến sĩ. Tôi vuốt mắt cho anh – đôi mắt ấy như vẫn nói với tôi điều gì thiêng liêng vô tận. Tôi thấy cay cay ở cánh mũi, nước mắt tôi lăn xuống. Tôi vội lau khô và dùng năm đầu ngón tay chải tóc mình cho bớt rối. Trước mặt tôi từng tên lính áo đen vừa bắn vừa trườn lên rất gần. Tôi ngồi ở tư thế xung phong, nắm chặt trái lựu đạn trong tay, sẵn sàng rút chốt. Bỗng từ phía sau các cỡ đạn vút qua đầu tôi, nổ trùm lên bọn giặc. Tôi nghe tiếng xích xe tăng nghiến rào rào, tiếng hô xung phong của quân mình dậy lên vang cả một vùng đồi. Và tôi cảm giác như mình đang bồng bềnh trôi trong mây gió. Sau tôi mới biết – đó là một đơn vị xe tăng của Quân khu vừa kịp điều lên chi viện. Lúc ấy tôi ngất đi bởi một viên đạn địch xuyên qua cánh tay và vừa bị kiệt sức, vừa vì quá xúc động. Sự kiện ấy đã làm thay đổi toàn bộ suy nghĩ và việc làm của tôi.
Chiến dịch mùa khô năm 1978-1979 đã kết thúc. Vết thương của tôi cũng đã lành, tôi được về thành phố Hồ Chí Minh công tác một tuần. Tôi đến gặp Khoa vào chiều thứ bảy. Anh ra đón tôi trước cổng bệnh viện. Tôi muốn ào vào ôm lấy anh sau gần hai năm xa cách. Nhưng điều gì đã ngăn bước chân tôi – Tôi đứng nhìn anh trân trân. Còn Khoa, anh vẫn dè dặt chờ đợi từ phía tôi. Chúng tôi không đi chơi. Anh đưa tôi về nhà riêng – một biệt thự ở góc đường Đồng Khởi. Tôi bước theo anh chầm chậm trên nền gạch bông láng bóng, mà tưởng mình đang bước trên gai góc, làm sao ấy. Và tôi bỗng nhớ mặt trận đến cồn cào. Tôi định vụt chạy khỏi nơi đây, bỏ ý định gặp Khoa. Nhưng anh đã nắm tay tôi.
- Huyền Nga! Em làm sao thế?
- Không. Em có làm sao đâu - ở rừng quen về đây em thấy choáng ngợp làm sao ấy, vả lại… tôi ngưng bặt.
Khoa nhìn tôi gượng cười nói:
- Để anh pha cà phê sữa em uống nhé.
- Em bỏ cà phê lâu rồi anh à.
- Vậy để anh pha ly thuốc bổ cho em nha. Em muốn bệnh rồi đấy.
Chiều Khoa, tôi ngồi xuống chiếc ghế xa-lông cạnh cửa sổ. Còn Khoa đang đứng bên tủ kiếng lỉnh kỉnh những chai lọ. Mái tóc anh dài tới vai nom giống mái tóc con gái, khiến khuôn mặt anh choắt đi, cho tôi một cảm giác là lạ, khó chịu. Tôi lơ đáng nghe anh nói câu được, câu chăng… Anh ngồi xuống cạnh tôi, qua những câu chuyện bâng quơ, lặt vặt, anh liệt kê ra một lô bạn bè của chúng tôi như: Phương, Tiến, Nga đã đi hồi tháng 8, hiện chúng nó đang ở bang Caliphonia (nước Mỹ), mới có thư về. Thủy, Mai… bạn học của tôi cũng đi tháng 12 năm rồi – Mai Xê 7, bỏ đơn vị về trốn đi tôi đã biết.
Anh phàn nàn rằng đường công danh của anh không gặp may mắn. Người ta đã đưa anh từ một bác sĩ trưởng khoa xuống làm một bác sĩ điều trị sau ngày giải phóng. Rằng người ta không sử dụng đúng tài năng của anh, vân vân và vân vân. Cuối cùng anh bảo: Anh đã chuẩn bị xong, chỉ còn chờ tôi. Tôi xin anh hãy để tôi suy nghĩ và hẹn trả lời anh sau. Tôi toan từ giã anh ra về. Nhưng anh đã nắm tay tôi, kéo tôi vào lòng. Tôi không cưỡng lại được nụ hôn của anh tràn lên môi, má.
Lại một đêm nữa không sao ngủ được. Tôi cứ trăn trở hoài với bao kỷ niệm về tình yêu giữa tôi và anh. Về cuộc chiến đấu mà chúng tôi đã vượt qua và biết bao nhiêu người đã ngã xuống. Hai người chiến sĩ một hình ảnh – một tình yêu bao la đối với Tổ quốc, với đồng đội. Vậy vì lẽ gì tôi lại chao đảo, bỏ vị trí đi theo Khoa. Tôi là một đoàn viên, tấm huy hiệu đoàn và lời tuyên thệ… Tôi đã vượt qua bao gian khổ… tôi tự xấu hổ với lời thề, với lương tâm. Tôi không đi đâu hết. Thành phố quê hương này – nơi tôi sinh ra và lớn lên cùng bao kỷ niệm. Tôi lớn lên với tiếng hát và bao dòng máu đổ. Riêng Khoa, tôi phải làm sao cho anh hiểu. Tôi đã mất Mai – người bạn chiến đấu. Và bây giờ tôi lại để mất anh nữa sao? Tôi phải tìm mọi cách để giữ anh lại, vừa vì trách nhiệm vừa vì tôi yêu anh.
Đúng hẹn, tối hôm sau tôi đến gặp anh. Không đợi anh hỏi, tôi vào đề ngay. Tất nhiên tôi nói với anh là tôi không thể nào đi cùng anh được. Ngày mai tôi trở ra chiến trường biên giới, nơi ấy bao đồng chí, đồng đội đang chờ tôi và cuộc chiến đang mỗi ngày thêm khốc liệt. Tôi đã cố lựa lời khuyên nhủ anh, song tôi vẫn tôn trọng anh, để anh tự do lựa chọn con đường đi của mình, kẻo mai này anh lại đổ tại tôi. Tôi biết mình đã không níu giữ được anh. Tôi đành chấp nhận mất anh. Tôi rút nhẹ bàn tay tôi khỏi bàn tay anh, hai tai tôi ù đặc, đầu óc tôi quay cuồng và hai hàng nước mắt cứ trào ra.
- Chúc anh khỏe, đạt được những gì anh mong muốn – Tôi bước nhanh ra đường. Thành phố vào đêm yên ả. Những ngọn đèn lấp lánh như những vì sao xa xôi chìm vào sương đêm lành lạnh. Tôi biết rằng phía sau tôi Khoa vẫn đứng đó nhìn theo. Tôi không ngoái lại và dấn bước đi.
Về đến nhà, tôi gieo mình xuống nệm, lăn lộn mãi lại ngồi dậy và tôi cứ ngồi như thế cho đến sáng. Tôi không níu giữ được Khoa lại, và như thế có nghĩa là tôi đã mất anh. Đành rằng tôi chấp nhận. Nhưng nỗi đau trong tôi biết bao giờ mới nguôi được. Trong những giờ phút ấy, tôi như gặp lại ánh mắt của người chiến sĩ Quân giải phóng hy sinh trước biệt khu “Thủ đô”. Tấm huy hiệu đoàn anh tặng mà tôi đã gắn lên ngực áo trong buổi lễ tuyên thệ vào đoàn. Tất cả, tất cả những điều ấy thôi thúc và cho tôi nghị lực vượt qua mọi thử thách gian khổ. Tôi mãi mãi tôn thờ hình tượng người chiến sĩ vô danh ấy. Tôi ôm trọn tình yêu bao la của người chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên chiến trường biên giới – các anh là ngôi sao là tình yêu của tôi.
Mùa hè năm 1980, tôi hoàn thành nhiệm vụ và được Tổng đội Thanh niên xung phong giới thiệu trở về Trường Đại học Sư phạm. Hình ảnh về Khoa đã chết từ lâu trong tôi. Vả lại tôi cũng không cần biết anh đang ở xử sở xa lạ nào. Và điều ấy càng không đáng làm hao tổn thời gian và tâm trí tôi. Tôi như sống lại tuổi mười bảy, cái tuổi đầy thơ mộng, tin yêu.
Cho mãi đến một buổi chiều cuối tháng mười, tôi vừa từ trường về nhà thì một anh bộ đội tìm đến gặp tôi. Nhìn bộ quân phục bám đầy bụi đất, tôi biết anh vừa từ nơi xa về. Sau mấy phút do dự, anh mỉm cười và hỏi tôi:
- Xin lỗi! Chị cho hỏi thăm, đây có phải nhà chị Huyền Nga không ạ.
Tôi chột dạ không hiểu có chuyện gì. Tôi ráng nhớ xem đã gặp anh ta ở đâu. Nhưng không, chưa một lần nào gặp anh ta cả. Anh còn trẻ lắm, ít nhất cũng kém tôi vài bốn tuổi. Tôi hơi bối rối, nhưng vội trấn tĩnh ngay.
- Dạ! Tôi là Huyền Nga, có chuyện chi vậy anh? Mời anh vô nhà uống nước đã.
Sau câu trả lời ấy, tôi bắt gặp nụ cười nở trên môi anh. Anh nói là đang vội, xe đơn vị chờ anh ngoài đường. Anh từ Campuchia về - người cùng đơn vị với anh Khoa. Anh đưa phong thư và nó với tôi: Khoa nhờ anh ấy chuyển đến tận tay tôi.
- Khoa nào vậy anh – tôi hỏi.
- Khoa nhà ở Đồng Khởi ấy mà – Anh họ Vũ – Vũ Đình Khoa, trước khi đi bộ đội là bác sĩ, anh đang phụ trách khoa ngoại – bệnh xá của sư đoàn…
Điều tưởng không bao giờ có. Lại bất ngờ đến với tôi. Tôi chột dạ vì tôi vẫn đinh ninh rằng Khoa đã ra nước ngoài rồi. Nhưng anh bộ đội ấy nói tiếp:
- Anh Khoa dặn tôi: cứ đưa thư, chị coi chữ là biết ngay… chị có biết không, hồi đi bộ đội, anh ấy đã phải làm ba lá đơn và mãi mới được chấp nhận đấy.
Tôi bối rối, không biết mình đang tỉnh hay mơ. Sự thật hay chiêm bao. Nhưng tay tôi đang cầm phong thư – giấy trắng mực đen rõ ràng mà. Đây những nét chữ nghiêng nghiêng của Khoa – nét chữ hơi nhòe vì mưa nắng đường xa – cùng với người chiến sĩ đưa thư đang nhìn tôi. Tôi thầm cảm ơn anh lịch sự. Tôi mời anh vô nhà uống nước, nhưng anh phải đi ngay và xin phép hẹn tôi khi khác. Tôi đưa anh ra tận xe, chiếc xe rồ máy rồi lao đi. Nhưng tiếng cười và những cái vẫy tay như còn ở lại cùng tôi – nụ cười của lính đến trẻ trung và vô tư lạ. Tôi như sống lại những giờ phút của chiến trường năm trước.
Tôi trở về phòng riêng, với bao suy nghĩ xáo trộn day dứt. Tôi và Khoa đâu còn gì để nói với nhau nữa. Nhưng dẫu sao tôi cũng mừng – vì biết được Khoa đã bước ra khỏi con đường lầm lạc. Giá Khoa nghe tôi từ trước thì tình cảm giữa tôi và Khoa đâu đến nỗi nào… Tôi ngồi xuống chiếc ghế vẫn thường ngồi học với suy nghĩ – mình đọc thư của một chiến sĩ từ mặt trận gửi về.
Tôi đọc thận trọng từng lời từng ý – cũng vẫn nét chữ nghiêng nghiêng ấy, nhưng lời thư thì khác xưa hoàn toàn – trần trụi, chân thực như cuộc sống của người lính. Qua thư tôi biết Khoa đã nhập ngũ hơn một năm và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Anh nói: xin tôi đừng giận anh ấy nữa, anh ấy sẽ phấn đấu để mãi mãi là người chiến sĩ cách mạng ưu tú. Khoa khoe anh vừa được thăng quân hàm thượng sĩ… với tôi anh viết:
… “Huyền Nga! Khoa xin phép được gọi Huyền Nga! Tiếng gọi thân yêu ngày xưa. Thật sự Khoa không xứng đáng với hai tiếng gọi ấy. Và cũng vì điều không xứng đáng đó mà Khoa đã làm lại cuộc đời mình. Những năm tháng đã qua, Khoa thật sự là một kẻ ích kỷ, Khoa đã phản bội tình yêu và tấm lòng cao thượng của Huyền Nga. Khoa đi ngược lại lợi ích của mọi người – và nếu không có Huyền Nga… còn bây giờ Khoa đã hiểu tất cả. Khoa đã và đang làm hết sức mình để bù đắp lại những năm tháng mà mình sống vô vị - đã đứng ra ngoài lề cuộc sống – bởi lòng tự ái và những mộng tưởng công danh ngoài sức lực của mình hơn lương tâm của một người thầy thuốc. Khoa đã tìm lại được niềm hạnh phúc trong công việc của mình trên mặt trận biên giới xa xôi và đầy hy sinh gian khổ. Và ngay từ những tấm gương hy sinh cao cả của các chiến sĩ mà Khoa đang phục vụ, điều trị.
Huyền Nga! Có lẽ chẳng bao giờ Khoa dám cầu xin tình yêu của Huyền Nga! Khoa thật sự không xứng đáng với Huyền Nga. Khoa vô cùng biết ơn Huyền Nga, chính Huyền Nga đã giúp Khoa tìm thấy tình yêu chân chính của mình!”…
Tôi xếp thư Khoa lại, đến bên cửa sổ nhìn ra xa – nơi cuối con đường lối công viên Quách Thị Trang, dưới những hàng cây xanh mát, từng cặp trai gái đang dìu nhau nhẹ bước trong chan hòa ánh sáng của những ngọn đèn màu rực rỡ. Tôi như đắm mình trong hạnh phúc bao la ấy.
Biên giới Tây Nam, mùa Đông 1980.
XH.
Nguồn: Rút từ Chuyện của hai người đàn bà. Tập truyện ngắn của Xuân Hòa. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|