Quán cà phê cạnh ngã ba đường. Vắng teo. Chỉ có bốn người. Cô chủ quán mập ú. Một ông khách không mập, không ốm, không thấp, không cao, có khuôn mặt ngựa, dài đuột. Một người không phải khách mà là một thợ sửa xe đạp. Không ai sửa. Ông ta kéo ghế ngồi cạnh đống đồ nghề. Một thân hình lực lưỡng, khỏe mạnh. Cuối cùng là thằng bé bán vé số không đoán được tuổi vì mặt thì sạm đen, răng cỏ phô ra vàng khè, ở trần, ngực lép và chiếc tà lỏn để lòi ra cặp chân như cây sậy.
Tập vé số chìa vô mặt ông khách ngồi trong quán:
-Mua vé số anh. Còn có mười một tấm anh mua giùm.
- Sao chỉ còn có mười một tấm… - Ông khách nhấm nhẳn.
- Dạ con bán gần hết rồi. Suốt sáng đến giờ chạy nháo nhào mới bán được đó thưa chú. Chú mua giùm nghe.
- Cô Cúc nè. Còn mười một tấm vé số. Số gánh không hè. Mua không, cô năm tấm, tôi sáu tấm. Mua không?
- Thôi dành hết cho anh đi, anh Quý . Em chưa tới số đâu.
- Rồi. Chiều nay xổ trúng đừng có ân hận nghe. Nói thiệt với cô, tôi mà trúng số, tôi đốt quách cái quán cà phê này của cô, dựng cho cô cái quán mới. Chịu không?
- Dóc tổ không hà. Trúng số anh lo cho anh đi. Một thân, một mình, bày đặt.
- Ê, một thân một mình cho sướng. Tay làm, hàm nhai, chẳng phải lo toan gì cho ai hết, thế không sướng hay sao. Mà thôi, đi đi mày, tao không mua nữa. Tạ từ những hy vọng hão huyền.
- Chú, chú mua giùm con đi mà.
- Tao đã nói không là không.
Thằng bé bán vé số nhận lại tập vé số và thủng thẳng quay ra đường. Hai chân như cây sậy của nó tiếp tục lê bước trên đường vẻ như mệt mỏi.
Đuổi được thằng bé bán vé số đi rồi, Quý lấy thêm chiếc ghế bỏ không, đặt ra trước mặt, duỗi thẳng hai chân lên chiếc ghế ấy và ngửa cổ nhìn đâu đâu ra ngã ba đường trước mặt. Gã muốn im lặng, nhưng cái miệng gã giống như có một sợi dây thần kinh kích động khiến gã lại phải lên tiếng:
- Này, ông sửa xe đạp. Không có khách, vô uống cà phê nói dóc chơi.
- Anh gọi tôi là Tám. Còn anh là Quý phải không?
- Phải. Ai không biết ông là Tám. Nhưng ông coi, cái xứ Nam bộ này có bao nhiêu người thứ Tám như ông. Kêu Tám nó lộn nhào hết lên, cứ ông sửa xe gọi cho tiện. Tôi hỏi ông, như ông và tôi bây giờ ai sướng hơn ai. Ông nói thử coi.
- Ông nói chuyện tào lao đâu đâu không hà. Tôi biết ra sao ông, ông biết tôi thế nào mà so sánh.
- Thì ông có vợ có con. Nghèo túng nên mới phải ngồi sửa xe kiếm tiền lo cho vợ cho con. Còn tôi hả. Một mình. Làm cái tiệm vẽ quảng cáo. Trúng một tấm biển, cắt được mấy tấm can đủ sống mấy ngày. Một mình có sướng không nào.
- Tôi cũng một mình.
- Trời đất. Xin lỗi ông nghe. Cô Cúc. Cô cho tôi ly cà phê đen nữa coi. Cho ông anh tôi một ly để tụi tui trò chuyện với nhau một bữa cho đã coi. Thiệt tình trời chẳng có mắt chút nào hết. Người như ông và tôi sao phải cô đơn chớ. Ông trỗ trượng, cao ráo, đẹp tướng thế kia mà một thân một mình thì lạ thiệt. Như tôi, ốm nhách, răng chìa thế này biểu gái nó chê không lấy làm chồng thì đã đành, còn ông thế kia. Thì lạ thực…
- Có gì đâu mà lạ anh Quý - Cô chủ quán xía ngang - Đời trước mấy người không nợ ai, thì kiếp này mấy người cũng chẳng nợ ai, có gì đâu lạ…
- Không phải vậy đâu cô chủ quán ơi.- Ông Tám cãi lại - Có người muốn mắc nợ mà không nợ được đó. Cô hiểu không?
- Nè, ông anh. Ông anh nói cái gì nghe lạ vậy. Trên đời này ai ngu đi tính đến chuyện mắc nợ chớ. Như tôi nè, tôi vô tư, sống chẳng nhờ ai, chẳng phải lo cho ai. Mà ông nữa. Mắc mớ gì phải đày cái thân ngồi ven đường sửa xe vầy nè. Mỗi miếng vá ruột mấy đồng. Siết con ốc mấy đồng? Ôi da… thà nghỉ nhà cho khỏe. Ông làm riết rồi được gì chớ. Trong lúc xe máy người ta chạy ì xèo, ông lại đi sửa xe đạp. Nghèo kiết là phải. Tôi thèm được học một lớp huấn luyện tham nhũng quá. Ai mà mở lớp đó tôi theo học liền. Một cú thôi là sống cả đời…
- Học ngay tôi nè.
- Học ông?
- Không đáng để học sao?
- Cô Cúc , ổng nói vậy là sao?
- Thì ổng nói vậy là vậy chớ sao? Ổng mới ra khỏi nhà tù về cái thứ mà anh muốn học đó.
Quý chợt hạ giọng, nói khẽ:
- Trời đất, có chuyện ấy sao. Mà sao cô không nho nhỏ cái miệng, cứ ong ong nói cái chuyện nhục nhã khổ sở của người ta ra chớ…
- Có sao đâu. Lúc anh Tám ra ngồi nhờ trước quán cà phê của em để sửa xe, ảnh nói rõ rồi mà. Ảnh còn định làm cái biển: " hiệu sửa xe của kẻ tham nhũng đi tù về " nữa kìa. Em gàn hoài ảnh mới thôi đó …
- Lạ thực, lạ thực. Anh Tám, anh tính làm vậy thiệt sao. Mà làm vậy để làm gì chớ.
- Để thiên hạ biết tôi là người như thế nào.
Ông Tám cười ngất, cười đến trào nước mắt, tiếp:
- Mà còn để nói với thiên hạ rằng tôi là thằng ngu nhất xứ nữa kìa.
- Trời đất. Thiệt không ai như anh đó.
- Phải rồi. Đúng là không ai như tôi thiệt. Hết chiến tranh thì làm kinh tế. Làm kinh tế theo kiểu chiến tranh. Chiến tranh không dính miếng đạn nào. Làm kinh tế, thương trường bắn cái ẹo. Chết ngắc …
Cô chủ quán cà phê chen lời:
- Thì cũng tại anh Tám chớ tại ai?
- Thì tôi có tránh ai đâu.
Quý ngồi nghe mà hai mắt trố tròn, chẳng hiểu cái gì. Gã gặng hỏi:
- Anh nói chuyện gì đâu đâu, tôi chẳng hiểu chút gì cả. Nói kỹ kỹ tôi nghe thử coi, xem tôi có học anh được trang nào không?
- Anh có muốn ngu thì học. Nhưng không sao. Để tôi nói cho ông nghe. Ông có biết cái lúc mủ cao su bị hạ giá đến mức chót không? Từ hai ba ngàn một lít xuống không còn nổi một ngàn đồng một lít đó. Mà thôi, anh làm sao mà biết được. Lúc đó, không ai người ta đến xứ này mà mua mủ cao su hết. Phải mang bán sang Trung Quốc. Bán chui, ông hiểu không. Đi đường tiểu ngạch. Được cả chục chuyến chớ ít a. Đùng một cái, bên Trung Quốc nó cũng từ chối không nhận hàng nữa. Bạc tỷ trên một chuyến tàu biển. Công ty chết đến nơi chỉ vì một chuyến hàng đó thôi. Ông hiểu không? Làm sao mà ông hiểu được. Thua lỗ một chuyến sẽ lòi ra cả đống chuyện thua lỗ khác. Bao nhiêu năm. Năm nào công ty cũng hoàn thành nhiệm vụ. Năm nào cũng có lãi trong kinh doanh. Mà toàn lãi trên sổ sách không hà. Lỡ mà mất chuyến hàng kia, thì nó bung hết mọi chuyện ra. Chết cả đám. Chuyện làm ăn buôn bán của công ty tôi diễn ra phức tạp lắm. Món hàng nào lời là hàng của cá nhân. Cứ dán cái mác công ty mà buôn bán. Món hàng nào không lời là của công ty. Công ty Nhà nước mà. Lỗ đã có người bao. Nên, chuyến cao su đó không thể lỗ, cũng không được để tồn kho. Mẹ kiếp, tự nhiên cái đùng, tàu chìm … Chìm vì sao, tôi làm sao biết.
- Ông nói dóc. Thì nó không bị sóng đánh cũng bị húc phải đá ngầm, chớ tự nhiên tàu chìm được ha?
- Nói dóc với anh làm gì chớ. Tàu nó chìm nghỉm dưới đáy biển đàng hoàng, giấu đi đâu được. Vì chuyện cái tàu chìm, tôi được lệnh về ngay để xử lý. Xử lý gì đâu. Kêu tôi đi lo thủ tục bảo hiểm. Lo làm việc với thanh tra. Nhậu, nhậu liên miên. Những cuộc nhậu bạc triệu. Những chiếc phong bì mỏng tang, nhưng chất lượng cao. Mẹ kiếp thế là tôi vào dọ. Ba tội tất cả. Một: phó giám đốc kinh doanh , vô trách nhiệm làm chìm tàu. Hai, đưa hối lộ, và ba, phi tang chứng của việc chìm tàu. Tội nào cũng ghê cả. Họ biểu tôi thế này:" Anh Tám. Anh hãy cứu lấy công ty, cứu lấy chúng tôi. Chúng tôi không để anh thiệt thòi đâu." Thì cứu, mã thượng mà. Ra tòa nhận ráo trách nhiệm về mình. Tám năm. Ông chánh án tuyên một câu thôi, tôi bị cách ly với cuộc sống xã hội tám năm trời. Buồn lắm. Nhưng không buồn bằng chuyện nhà. Vợ tôi lên thăm tôi ba lần. Lần thứ nhất đầy nước mắt. Lần thứ hai nhiều nước mắt hơn một chút. Đến lần thứ ba nước mắt tràn trề. Ở trại giam hôm ấy…
Ông Tám ngậm ngùi nhớ lại buổi sáng hôm ấy ở trại giam Cây Cầy. Có lẽ trong đời, chưa bao giờ Tám thấy người đàn bà có nhiều nước mắt đến như vậy.
Tám năn nỉ:
- Oanh, đừng khóc nữa em. Rồi anh sẽ được ra tù mà. Không lâu đâu. Anh sẽ cải tạo thực tốt để về với em. Với các con.
Oanh càng nức nở hơn:
- Anh có biết là em khổ lắm không?
- Biết, anh biết mà.
- Mà anh có biết là anh đã làm khổ em không?
- Anh biết. Nhưng cũng đã có một thời gian anh cho em một cuộc sống sung túc kia mà.
- Cám ơn anh. Nhưng cuộc sống ấy nó giống như một giấc mơ. Vụt đến. Vụt đi. Anh có biết bây giờ ở nhà người ta nhìn em bằng con mắt ra sao không? Khinh rẻ và miệt thị. Có người nói ngay sau lưng em: "Ăn cho đã vào bây giờ thế mới đáng", " Ngày xưa vợ thằng phó giám đốc, nay là vợ thằng tù"…Thế đấy, nhục nhã lắm…
- Thôi mà em. Em ráng chịu đựng một thời gian nữa đi. Anh về, ta sẽ làm lại mà…
- Chịu đựng? chờ đợi ? Làm lại… Liệu em còn sức không anh Tám?
- Vậy biết làm sao bây giờ.
- Anh tha cho em đi.
- Em nói gì anh không hiểu?
- Anh tha cho em đi…
- Là sao?
- Em đã làm đơn sẵn rồi. Anh ký cho em đi.
- Đơn gì?
- Đơn xin ly hôn.
- Trời đất ơi. Ly hôn?
Tám choáng váng , lặng đi khá lâu, mới lên tiếng được:
- Thôi được. Cơ sự này , anh cũng chẳng thể giữ em được nữa rồi. Anh ký. Anh chỉ đề nghị em thế này: tất cả những gì còn lại trong nhà là của em. Anh biết, sau khi kê biên tài sản để nộp trả thất thoát sau vụ án, cũng còn đủ để giúp em làm thành một cơ nghiệp. Em cứ lấy hết. Căn nhà của cha mẹ anh, đồ hương hỏa em để đó để nay mai anh về thờ phụng những người đã chết. Còn đứa con. Nhất định em phải để nó cho anh nuôi khi anh về. Anh chỉ còn có nó làm nguồn an ủi. Trước mắt, em gửi nó về bên anh Hai, hoặc chị Ba để nó sống ở đó. Nay mai anh về anh đón nó. Được không? Chắc em đã có người che chở rồi phải không?
- Dạ. Ảnh thương em và rất thương thằng nhỏ con của chúng mình?
Tám la lên:
- Tôi cóc cần ai thương thằng nhỏ hết. Để đó cho tôi. Cô rõ không?
Anh công an giật mình, nhắc:
- “Một trăm tám lăm” ! Yêu cầu giữ đúng thái độ.
Tám bối rối:
- Thưa cán bộ. Em xin lỗi
Nhưng vẫn còn chút chua cay, Tám nói tiếp với Oanh, giọng cay nghiệt:
- Đời chó đến thế là cùng. Thôi cô về đi. Đủ rồi. Nhớ không được đưa thằng con tôi đi đâu hết. Cô mà mang nó đi, tôi về coi chừng tôi. Nghe rõ chưa.
Mọi thất bại, Tám không mấy băn khoăn. Dẫu sao thì con tàu cũng đã chìm. Tòa án cũng đã mở tới hai phiên sơ thẩm và phúc thẩm. Không oan trái gì hết. Tội nào cũng đúng cả. Nhưng, khi thấy Oanh hết khóc, xếp gọn tờ đơn ly hôn, cất cẩn thận vào cái giỏ xinh xắn mang theo và quay ra khỏi phòng dành cho phạm nhân tiếp người nhà thì lòng dạ Tám như trống rỗng.
- Tôi về. Chiếc khóa cửa nhà rỉ sét vì lâu ngày không ai mở. Mở cửa vào. Trong nhà trống bóc không còn bất cứ một thứ gì ngoài một chiếc giường con, mấy cái nồi con và chiếc nệm mốc meo. Còn những chiếc vỏ chai rượu ngoại, những vỏ lon bia, dấu vết của một thời hoàng kim đã mốc meo. Cô ta lấy sạch sẽ mọi thứ. Cả đứa con cô ta cũng mang đi luôn. Tôi tìm, nhưng biết tìm ở đâu. Những địa chỉ vu vơ người ta mách tôi đều kiếm nhưng không thấy. Buồn và chán. Nhưng phải sống chớ. Tôi tìm về cơ quan cũ. Vẫn thằng cha giám đốc ấy. Hắn cố ý để lộ ra trước mặt tôi một cái thông báo tuyển dụng. Trẻ nè. Có bằng đại học nè. Có ngoại ngữ nữa. Một anh bộ đội kháng chiến tuổi ngoài bốn mươi. Lúc đó mà thành nhà văn có khi còn được gọi là nhà văn trẻ. Chớ với tấm thông báo tuyển dụng kia thì tôi thành một lão khọm già. Tôi làm gì có bằng. Đi đánh giặc rồi về làm kinh tế, đâu có kịp học hành gì. Ngoại ngữ, may ra biết được vài tiếng Miên. Không, nhiều là đằng khác. Mấy năm trời làm quân tình nguyện bên đó, chữ viết được, tiếng nói được. Nhưng có ai xếp tiếng Miên là ngoại ngữ cần dùng đâu. Tôi biết thân phận tôi, nên chẳng dám ngỏ lời xin trở lại làm việc nữa. Thằng cha giám đốc còn lấy ra một xấp tiền. Giọng hắn giả lả: " Dẫu sao chúng tôi cũng vẫn phải cám ơn anh. Anh đã hy sinh để cứu cho công ty còn tồn tại đến hôm nay. Thôi anh cầm số tiền này về làm vốn lo làm ăn…" Mẹ kiếp, cứu công ty nào, cứu hắn thì có. Hắn vẫn ngồi đó ung dung. Trong khi đó, chìm tàu cũng hắn, bày đặt chuyện hối lộ cũng hắn… Tôi cầm xấp tiền quăng vào mặt hắn và về…
Quý la lên:
- Lại sĩ diện nữa. Kệ mẹ nó, cứ cầm về, ngu gì ném lại. Tiền chớ giấy lộn sao?
- Nhục lắm, ông hiểu không? Đã chôn vùi được thì chôn vùi cho xong. Nhưng nghĩ ức quá, tôi mới ra đây ngồi sửa xe đạp nè. Ngày chỉ cần hai lần thôi, đủ mua gạo ăn rồi. Khỏi cần.
Cô Cúc chủ quán lại xen chuyện:
- Khỏi cần, anh nói dóc, anh Tám. Anh còn độc địa hơn người ta tưởng nhiều. Chỗ này là con đường ra vào nhà của lão giám đốc cũ của anh phải không? Mỗi ngày lão giám đốc đi làm qua lại đây ít nhất là bốn lần đúng không? Mỗi lần lão đi qua là anh ngả mũ chào lão. Có đúng không nào? Rồi anh làm lão phát điên vì sự giả dối của lão cho mà coi. Xem ra lão còn nợ anh nhiều lắm đó?
Tám nhếch mép cười:
- Nợ đồng lần mà cô.
Quý bỗng co rúm người lại. Nợ đồng lần, có phải vậy không? Ông Tám ơi, xem ra ông còn thảnh thơi hơn tôi nhiều. Hôm nay, cái miệng ngựa của tôi cứ phải kiếm chuyện để nói. Tôi sợ những phút lặng câm. Dẫu sao ông cũng là người có tội với dân với nước. Những ông đã đền tọi bằng những năm tháng tù đày. Còn tôi nè. Nghe chuyện ông mà tôi thấy mình thiệt tội lỗi. Hễ cái miệng tôi không nói là trong tôi lại vang lên những tiếng gào thét đòi nợ. Ông Tám nghe thử , liệu như ông, ông sẽ thế nào?
Tiếng vọng của người đàn bà thứ nhất:
- Anh Quý. Ngày còn sinh viên, tôi mê những vần thơ của anh. Tôi đã phải dối lừa cha mẹ tôi lấy tiền cho anh in thơ. Cái thời ông hàng thịt muốn thành nhà thơ thì bỏ tiền ra in thơ, thì những vần thơ tình ái của anh cũng còn sạch sẽ lắm. Tôi cho anh tiền in thơ. Anh muốn mời bạn bè để ra mắt tập thơ. Tôi lo. Anh uống bia đến xỉn quắc cần câu. Anh lăn xả vào tôi, vần tôi như vần một con heo. Tôi mang cả tấm thân trinh trắng của tôi dâng hiến cho anh. Anh tưởng anh thành nhà thơ thực nên anh ruồng rẫy tôi. Anh ói đến mật xanh, mật vàng. Nhớt dãi vấy vá lên cả cái thân xác trần truồng của tôi. Tôi hỏi, anh biểu: anh kinh tởm thơ anh. Anh đã cưỡng hiếp thơ, còn tôi anh bảo là đã cưỡng hiếp anh. Anh trả tôi tấm thân trinh trắng kia đi. Trả được không, trả được không anh Quý?
Còn đây nữa nè, ông Tám:
Tiếng vọng của người đàn bà thứ hai:
- Tôi thương anh trốn chui, trốn nhủi về nông thôn để tránh né pháp luật. Tôi biết anh đi làm báo nhưng chuyên làm quảng cáo. Anh nhận tiền của những kẻ lừa đảo để quảng cáo cho họ. Họ vào tù còn anh trốn lên quê tôi kiếm sống. Cha tôi thấy anh có học, cho anh làm công tác văn hóa. Ai biểu anh đọc thơ hay để lòng tôi xao xuyến. Để tôi chẳng tiếc gì hết. Cho anh từ đồng vốn ít ỏi của người con gái lỡ thì. Cho anh cả cái thân xác không còn bốc lửa nhưng vẫn sạch sẽ của tôi. Vậy mà anh đan tâm bỏ trốn khỏi tôi. Anh có trả được tất cả những gì tôi đã cho anh không? Trả được không, anh Quý?…
Quý gục đầu xuống, nhẫn nhục. Những tiếng vọng kia lâu lâu lại trỗi dậy trong đầu gã. Gã đã có vợ. Ngày ấy, khi thấy mình không thể theo nghiệp thơ phú được. Gã đã chọn nghề làm báo. Gã chẳng viết được một bài báo nào cho ra hồn. Nhưng với cái miệng của gã, gã có thể moi tiền từ túi các ông chủ cho những trang quảng cáo. Không ai thoát được gã. Chỉ cần những ông chủ mở cửa phòng khách cho gã là gã có thể moi móc được cả chục triệu đồng cho những trang quảng cáo. Gã làm tất cả miễn là có tiền. Ngày ấy, gã đã có nhiều tiền. Gã cưới vợ. Một cô vợ xinh xắn làm nghề vẽ các loại nhãn hiệu. Gã mua nhà, và bắt cô ta ở nhà phục vụ gã. Gã biến một cô họa sĩ đồ họa công nghiệp thành một thứ con ở. Gã có tiền mà. Vụ án lừa đảo huy động vốn mấy chục tỷ đồng ở thành phố làm chấn động dư luận cả nước, gã cũng có tên trong danh sách điều tra. Vậy mà cho đến ngày kẻ lừa đảo bị bắt rồi, gã vẫn lấy được của hắn mấy chục ngàn đô-la tiền thuê cải chính cho hắn bằng quảng cáo. Hắn bị bắt, sợ quá, gã nộp toàn bộ số tiền đã nhận của hắn và bỏ trốn, lên tận một vùng quê biên giới. Được giới thiệu đã từng là một nhà báo, chính quyền xã cho hắn một chân trực trạm truyền thanh với những đồng trợ cấp ít ỏi. Ở đấy, gã gặp cô con gái của ông phó chủ tịch xã. Cô gái lỡ thì ấy thương gã thực lòng, còn gã thì chờ thời. Vụ án êm đi. Kẻ bị lừa đảo ngồi gỡ lịch ở trại giam. Gã tìm về nhà, bằng những đồng tiền của cô gái con ông phó chủ tịch xã kia.
Tiếng gõ gõ cửa, ban đầu nhẹ nhàng ba bốn tiếng. Sau mạnh hơn. Càng sau càng mãnh liệt. Gã gọi:
- Kim ơi. Kim. Mở cửa cho anh. Mở cửa cho anh. Anh về nè. Quý, chồng em đã về nè.
Có tiềng xì xào trong nhà.
Tiếng đàn bà:
- Chết rồi anh ơi. Hắn về.
Tiếng đàn ông:
- Hắn nào? Hắn là ai?
Tiếng đàn bà:
- Quý, chồng em chớ còn ai nữa?
Tiếng đàn ông:
- Cái thằng lừa đảo trốn tránh đó mà em còn gọi nó là chồng sao?
Tiếng đàn bà:
- Thì em biết gọi là gì bây giờ. Dù sao trước pháp luật, hắn vẫn là chồng em mà. Chúng em đã ly dị đâu.
Tiếng đàn ông:
- Không cần em phải nói đến chuyện đó. Từ khi anh đến với em anh đã biết đến chuyện đó rồi. Nhưng anh chấp nhận. Mặc kệ hắn. Hắn chẳng qua cũng chỉ là kẻ hèn nhát mà thôi. Hắn đã cho em được cái gì nào. Hay hắn biến em thành một thứ búp bê xinh xắn. Một thứ búp bê biết gọi dạ, bảo vâng. Biết nấu cơm quét nhà. Biết lau mặt rửa chân cho hắn. Hắn có còn coi em là con người hay không?
Tiếng đạp cửa mạnh, tiếng người đàn bà rú lên.
Gã nhảy vào nhà, miệng hét lên:
- Thằng khốn nạn. Mày vừa nói cái gì đó, mày nói lại tao nghe coi.
Người đàn ông, gân guốc, ở trần nhìn gã lom lom:
- Thì ra anh cũng có gan đạp cửa mà vào hả? Anh muốn tôi nhắc lại phải không? Mà thôi, tôi không cần phải nhắc lại làm gì. Anh thế nào tự anh biết. Vì sao anh còn về đây?
- Đây là nhà tao. Tao có quyền về.
- Thế còn đây là ai ?
- Vợ tao.
- Vợ anh. Hay là con ở của anh. Hay anh đã biến cô ta thành thần giữ của cho anh. Vợ anh. Vậy từ mấy năm nay anh biết vợ anh sống ra sao không? Thất nghiệp. Không xin được việc làm. Đi lượm bọc mủ kiếm sống. Anh biết không? Thôi được anh biểu nhà này là của anh. Thì trả cho anh. Còn em. Em đi theo anh. Mặc kệ hắn với căn nhà của hắn. Đi em.
- Không. Tao cấm không đứa nào được bước ra khỏi cửa. Kim. Em trả lời anh đi. Em sẽ thế nào hả?
- Anh có cho em chọn không?
- Được em chọn đi.
- Anh cho em nói thực chớ?
- Nói.
- Em không thể nào sống với anh được nữa. Dù có sống với anh thì em cũng suốt ngày thui thủi một mình. Anh giết chết em kể từ khi anh bắt em ở nhà hầu hạ anh rồi. Từ ngày anh trốn đi. Em thanh thản lắm. Thì ra em chẳng cần đến anh một chút nào cả. Anh lo kiếm tiền. Anh lo phủ tiền lên người em. Nhưng con người em chẳng còn là cái gì hết. Anh cho em chọn phải không? Em chọn em. Em chọn cho em cái gì em thích. Thế đấy. Bây giờ thì em đi. Anh hãy ở lại đây. Ở lại thử coi, xem thử cô đơn nó khổ sở như thế nào…
- Khoan. Em đừng đi. Em cứ ở lại đây. Anh … anh mới là người phải ra đi. Đúng rồi. Bấy lâu này anh chỉ biết có anh thôi. Anh đi là đúng hơn cả. Còn anh, anh phán xét tôi như vậy đúng đó. Để tôi đi… Ít nhất cũng để trong đời tôi có được một hành động dũng cảm. Kim, anh mắc nợ em nhiều quá. Em coi đây là một sự trả nợ cho em được không, Kim. Được không Kim…
*
* *
Cả hai gã đàn ông sau khi kể xong hết mọi chuyện đời mình rồi, bỗng nín lặng. Cô chủ quán buồn tình, nhớm giọng:
- Nè hai anh. Khi không hai anh bày đặt kể khổ, kể sướng ở quán em là sao?
Quý nói như nhá từng chữ một:
- Mấy khi có người chịu nghe chuyện mình đâu cô.Giá như anh Tám không muốn nghe chuyện tôi, tôi nào dám kể. Mà khi tôi không nghe, hỏi anh Tám kể với ai. Nói thiệt, kể ra được, tôi nhẹ cả người.
- Nhưng anh bỏ nhà đi thiệt hả. Không lẽ anh không đuổi được tình nhân của vợ mình ra khỏi nhà hay sao?
- Cô tính đuổi được không? Đuổi nhất định là hắn đi rồi. Nhưng nhất định vợ tôi sẽ cùng đi với hắn. Mà vợ đã đi rồi thì tôi còn nghĩa lý gì khi sống trong nhà ấy. Thôi thì mình rút đi. Để cuối cùng cô ấy có chỗ mà sống. Tôi cho đấy là một lần trả nợ thôi mà.
- Anh thiệt chẳng hiểu quái gì về nợ cả. Anh có thể trả tất cả mọi thứ nợ về tiền bạc. Nhưng nợ tình, anh chết cũng không trả hết được đâu anh Quý ơi.
Quý quay sang ông Tám:
- Anh Tám , có phải thế không anh Tám.
Không có tiếng trả lời.
Cô chủ quán nói khẽ với Quý:
- Đừng hỏi anh ấy lúc này. Sắp đến giờ lão giám đốc về qua đây rồi đó. Bao giờ cũng vậy, hễ lão giám đốc về qua đây anh Tám cũng như vậy. Đợi cho đến khi chiếc xe hơi đưa lão giám đốc qua là anh ấy bước ra, đứng ở ven đường. Chiếc xe của lão giám đốc trờ tới, bao giờ anh ấy cũng giơ tay chào và mỉm cười. Lát nữa anh sẽ thấy. Nụ cười của ảnh khác người lắm. Nó nhạt nhẽo và chua xót. Nó châm biếm và xoi mói. Nó cay nghiệt và đau khổ. Chỉ một cái nhếch mép thôi mà thấy được tất cả. Anh Quý ạ.
Quý buông một câu như lời phán xét:
- Cái lão giám đốc ấy mắc nợ rồi. Không nợ tiền, không nợ tình như tôi mà nợ nhân phẩm của một con người. Nợ này lão làm sao trả được đây.
Tiếng của hai người nghe rất khẽ, nhưng cũng không lọt qua tai của ông Tám. Cô lầm rồi cô Cúc ơi. Anh cũng lầm rồi anh Quý ơi. Kể xong được câu chuyện trớ trêu của đời mình, lòng tôi đã thanh thản trở lại. Tôi chẳng còn ghét ai, giận hờn ai nữa. Ở đời, chuyện gì mà chẳng có. Tôi nợ người này, người khác nợ tôi, cái nợ đồng lần đâu có thể tính chuyện vay trả, trả vay. Nếu cứ nuôi mãi trong lòng mình những nỗi ám ảnh thì làm sao sống được. Anh Quý biểu lão giám đốc còn nợ tôi ư. Có thể? Nhưng liệu có đòi được không? Lão biết lấy gì mà trả cho tôi. Tôi đang nhớ đến một thời đẹp nhất của đời mình. Đó là thời súng khoác trên vai dấn thân vào cuộc chiến đấu. Cái thời mỗi bước chân là thấy máu rơi. Nhưng chẳng ai tính toán, lo toan gì cho riêng mình. Tất cả chỉ có phía trước. Chỉ mong cho đất trời này không còn tiếng súng chiến tranh. Cho tôi nấp vào quá khứ một chút để thấy mình được tĩnh tâm.
*Viết lại từ truyện ngắn: MÓN NỢ
Nguồn: Cỏ đêm. NXB Văn học, 2006.
TRONG HÌNH HÀI PUSKIN
Bỗng hôm nay Thanh thấy lòng mình trống trải vô cùng. Không biết có phải như thế là cô đơn không? Không muốn gặp ai, không muốn nghe ai nói. Chỉ muốn thơ thẩn ra vào, mặc thời gian cứ trôi thản nhiên vô tư. Anh không muốn mình suy nghĩ gì hết. Nhưng…
Chiều nay, anh vừa ném bức tượng Puskin đang thành hình vào đống đất nhão. Đấy là tác phẩm do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh đặt anh làm. Mấy trăm ngàn đồng. Một món tiền thật đáng giá của một người đàn ông độc thân, rỗng túi. Gần bốn mươi tuổi, những đường nét của thời trai trẻ đã mất dần trên gương mặt anh. Thay vào đó là những nếp nhăn ở khóe mắt, trên trán và dọc khóe mép. Anh cao nhỏng, nghề điêu khắc đã làm cơ thể anh có một khuyết tật không bao giờ sửa được nữa. Vai phải cao hơn vai trái bởi mỗi lần cầm đến cái chạm, con dao, cái đục, là mỗi lần người anh phải cong veo theo những đường nét của các bức tượng. Thanh được xếp vào ở một góc nhỏ sau những chiếc tủ đứng của cơ quan. Trong đó lộn xộn đủ thứ: tranh vẽ, tượng gỗ, voi, Thích ca, ông Thọ, ông Địa, nằm lỏng chỏng trên bàn, nóc tu, gậm giường. Trên lưng tủ, Thanh dùng phấn viết lên đó đủ mọi thứ lời như:“Làm việc cho quên”, “Đời phải là những phút buồn”… Đọc những dòng chữ ấy, mọi người luôn có cảm giác anh là kẻ lập dị, phách lối…
Nói cho đúng thì bức tượng Puskin chỉ là một đống đất nhão nhoẹt. Đã có một hình mẫu ông ta trên tấm lịch in ở Lêningrát. Rõ ràng là phải có một mớ tóc xoăn, lòa xòa rủ xuống tận hàm râu. Phải có cặp mắt sáng và thẳng như hai đường đạn. Bắt đầu đã mấy ngày rồi mà đống đất nhão vẫn chưa thể thành ông Puskin được. Anh đã làm không dưới vài trăm bức tượng. Anh tốt nghiệp đại học Mỹ thuật bằng tượng “Nông dân” đạt điểm cao nhất khóa thi năm đó. Nhưng hôm nay, trước một Puskin, anh như bất lực. Cảm giác rỗng rễnh khó tả cứ đeo bám vào anh. Có lúc anh lại cảm thấy nhức nhối, chật chội giữa một đống những gốc cây, những cục đất và những bức tượng đang tạc dở. Anh muốn vứt hết những thứ đó vào đống đất nhão kia nhưng những thứ đó đâu phải của anh. Cái thì của những người thợ, cái của một anh bạn sáng tác đồng nghiệp, cái của công ty. . . Của anh chỉ có một thân xác đang vô định và đống đất nhão kia.
Không phải đến hôm nay Thanh mới có cảm giác này. Đã mấy ngày nay Thanh không còn làm gì được nữa. Người đời đang lên án anh và mối tình ngang trái của anh. Bắt đầu từ cái buổi anh cùng Vĩnh ra ngoài thị xã. Vĩnh là một nhạc sĩ, anh có bài phải nhờ người hát trong buổi giới thiệu tác phẩm mới. Người anh tin cậy là một cô giáo dạy âm nhạc. Anh đã kéo Thanh đi theo. Men dọc bờ hiên của khu khách sạn cao tầng, vượt qua một cái sân trải đầy sỏi trắng, lách vào một ngôi nhà trong đó có những căn phòng nhỏ dành cho các nhân viên khách sạn. Vĩnh và Thanh bước vào một căn phòng hẹp, không đầy mười sáu mét vuông. Bày ra trước mắt Thanh là hai cái giường con ghép lại. Đồ đạc, quần áo treo lủng lẳng trên bức liếp bồ. Một chiếc bàn đá, trên đó là một bếp điện, mấy cái nồi để nấu thức ăn, rồi đĩa, chén, muỗng, radiô... Dưới gầm bàn là mấy cái giỏ chất đầy trong đó bao nhiêu thứ vụn vặt. Mọi sinh hoạt được thu xếp trên nền gạch bông: tiếp khách, ngồi chơi, nhậu.
Thủy - cô giáo mà Vĩnh giới thiệu là một thiếu phụ nhỏ nhắn. Mái tóc đen, uốn thành từng lọn ôm lấy khuôn mặt nhỏ nhắn. Có lẽ vì thế mà Thủy có nét ưa nhìn. Cặp môi mỏng và cái miệng nhỏ. Sống mũi nhỏ và thẳng. Chồng Thủy không cao lớn nhưng chắc lẳn. Mái tóc cứng chải dựng lên. Hai mắt mở to, lúc nào cũng có vẻ ngơ ngác. Trong phòng còn có một bé trai hơn ba tuổi. Lớp tóc tơ để dài, xén như tóc con gái, bởi thế bé rất giống mẹ, nhất là ở cái cằm chẻ.
Vĩnh và Thanh được đón tiếp khá nồng hậu. Lát sau trên nền gạch bông đã có một tô bò kho, dĩa rau thơm và không thiếu một xị rượu đế. Khi cả ba bắt đầu “cưa” ly rượu thứ nhất, thì ở trên giường hai mẹ con bắt đầu ăn chén cơm đầu với món cá cơm kho mặn.
Khi chai rượu vơi quá nửa chính là lúc Vĩnh bắt đầu nổi hứng, cầm lấy cây đàn ghi-ta. Anh ôm gọn cây đàn vào lòng và húng hắng ho. Độ rày anh không được khỏe. Sáng tác và dạy thêm cuốn hút khá nhiều sức của anh. Hai má anh hõm sâu, gò má nổi gồ lên. Cặp mắt anh chốc chốc lại hấp háy, làm cho hàng ria đen, rậm của anh phải nhếch nhếch theo. Anh buông tiếng đàn đầu tiên. Căn phòng chật chội bỗng ứ đầy những âm thanh quyến rũ. Vĩnh hát. Giọng anh khàn, không hay, nhưng vang và có hồn.
… “ Đã ngàn năm em ơi
Anh vẫn chưa hề gặp
Em cho anh tràn ngập
Cả ngàn năm mùa thu
Tràn ngập mùa thu”…
Bữa cơm của mẹ con Thủy đã xong. Cậu con trai nép vào lòng Thủy ngồi dỏng tai nghe hát. Thủy lẩm nhẩm hát theo Vĩnh. Lát sau, Vĩnh chuyển cây đàn cho Thủy và nâng ly rượu lên. Thủy hát. Thanh đang chơi vơi bởi rượu nồng, bỗng lại thêm chơi vơi trong tiếng hát ngọt ngào của Thủy ngay từ khi bắt đầu cất lên. Anh ngẩng đầu nhìn Thủy. Căn phòng hẹp mà Thủy đang ngước nhìn đi đâu xa thẳm. Chốc chốc, Thủy lại phải hất nhẹ mái tóc khi nó bất chợt phủ xuống che mất cặp mắt nồng nàn khi mô tả tình yêu theo lời hát. Nhưng thật lạ, đoạn kết của bài hát là một sự tràn ngập, một sự đầy đủ đến trọn vẹn thì Thủy lại cúi xuống, hai mắt chợt mờ đi, giọng hát như bị đuối hơi. Thanh xốn xang. Vĩnh thì nhắm nghiền mắt lại như để tận hưởng sự ngọt ngào của câu hát. Chồng Thủy vẫn mở to cặp mắt ngơ ngác, hết nhìn Thanh lại nhìn Vĩnh như muốn nói: “Vợ tôi đó, khá chơ… Anh có nhận ra không?”, Vĩnh có nhận ra không ? Hay chỉ có một mình Thanh là người nhận ra câu cuối bài ca Thủy hát. Thanh rút vội cây viết ra, xé vội tờ giấy trắng trong cuốn sổ mang theo, sổ mạnh những đường nét đầu tiên. Bức chân dung của Thủy hình thành bằng những nét sổ thẳng, mạnh xen lẫn với những đường mềm mại ở tóc, ở mắt, ở môi Thủy.
Chồng Thủy bỗng ngồi nhổm dậy, với lấy cây đàn :
- Bây giờ đến tôi nghen…
Anh gãi gãi vào những sợi dây đàn. Vài cái láy láy nhẹ đủ để người nghe biết anh sắp sửa ca mấy câu vọng cổ. Thủy bước xuống, toan ra ngoài. Chồng Thủy kêu lên.
- Em đi đâu vậy… không, đừng đi đâu hết nghe- giọng anh ta đã lè nhè. Mình phải hát cho mấy anh em nghe chớ. Nè, vợ tôi ca cổ hết xảy đó đó nghen. Nào em bắt đầu đi…
Tất nhiên Thủy không hề từ chối. Cô lại gần bên chồng.
- Bài gì bây giờ, anh ?
- Bài… bài anh viết đó. Em lãnh phần ca mới trong bài, anh ca cổ nhưng em cũng có một câu xề đó nghen.
- Dạ.
Vĩnh tủm tỉm cười nhìn Thanh. Thanh không kịp nhận ra ẩn ý của cái nhìn. Vĩnh đưa ly rượu cho Thanh:
- Đến lượt ông rồi đó, làm đi…
Thanh hất ly rượu vào miệng đúng lúc câu vọng cổ thứ nhất vang lên. Chồng Thủy hát cũng không đến nỗi nào. Những câu cải lương thê lương, sướt mướt lúc lúc lại xen vào đó mấy câu hát mới lại cũng mô tả một tình yêu chia lìa dễ cảm động. Nhưng không hiểu sao nó không nhập được vào Thanh như bài hát trước. Hay tại anh có mặc cảm với cải lương, nó không hợp với sở thích của anh.
Bài hát kết thúc, chồng Thủy nâng ly rượu cuối cùng.
Cuộc chia tay diễn ra gọn nhẹ và có những lời hẹn bữa khác gặp lại. Trên đường về, Thanh vẫn cứ vấn vương mấy câu cuối Thủy hát.
Anh thốt lên với Vĩnh :
- Này ông, ông có để ý đến lúc Thủy hát câu “Cả ngàn năm mùa thu không?”.
Vĩnh gạt đi :
- Thôi ông ơi, muốn chết hay sao vậy?
- Ủa, sao lại có chuyện muốn chết ở đây?
Vĩnh không trả lời. Cho đến tận lúc ngồi vào quán cà phê, Vĩnh mới tiếp tục câu chuyện trên đường:
- Bé Thường là con riêng của cô ta đó.
- Sao?…
- Thôi mà. Ông biết vậy thôi kẻo rồi ông lại làm khổ người ta vì mấy câu hỏi thăm vô duyên đó.
Thanh không hỏi gì thêm. Anh rút bức phác họa chân dung Thủy ra coi lại. Trong ánh sáng nhập nhòa của quán cà phê, Thanh vẫn nhận ra cặp mắt của Thủy lúc đó. Nó làm anh xao xuyến…
*
* *
Tự nhìn lại, Thanh thấy mình cũng không trong sạch gì.
Trước ngày đi học, Thanh đã làm việc ở một cơ quan. Hồi đó, anh là cán bộ văn hóa quần chúng. Công việc thì đủ loại tạp nhạp. Ngoài vẽ, làm tượng, anh còn làm văn nghệ, hội diễn, viết báo tường. Ngày ấy cơ quan anh mới nhận về một cô gái. Ngày ngày, cô ta chỉ có việc quét dọn phòng làm việc, và không mấy khi trò chuyện với ai. Thanh cũng như bao nhiêu người đàn ông khác trong cơ quan, rất vô tình với cô.
Một hôm, Thanh nhận làm cho cơ quan ít hình. Anh ta phải ở lại buổi tối. Đến tận hôm đó, Thanh mới biết cô ta ở ngay cạnh cái buồng tối của cơ quan. Lại mới biết cô ta sống độc thân. Làm xong mấy tấm hình, Thanh tạt vào phòng của cô ta. Thì cũng là sự thăm hỏi bình thường. Quê ở đâu ? Ông già, bà già còn không, làm gì?… Cô ân cần tiếp Thanh, lần đầu tiếp xúc, Thanh có nhận xét là cô ta buồn và rất ít bạn. Bằng chứng là thế này: chiếc giường đơn sạch sẽ. Trên chiếc tủ lệch có mấy chai nước lọc. Không bàn ghế ngồi, không có bộ ly tách uống nước. Không thấy có gạt tàn thuốc lá. Có mùi một loại nước hoa rẻ tiền. Không phát hiện ra được thứ mùi đàn ông thường mang đến phòng của các cô gái.
Cô chạy ra ngoài văn phòng mang về một chiếc ghế cho Thanh, một chiếc bình thủy, cái dĩa trong có mấy cái ly và ấm pha trà. Cô nhúm về một ít trà và pha nước mời Thanh. Câu chuyện của hai người loanh quanh mấy chuyện của cơ quan. Thanh pha trò bằng những mẫu chuyện tiếu lâm dí dỏm khiến cô gái phải bật cười. Đôi mắt cô nhìn Thanh bạo dạn, khác hẳn thường ngày. Không biết tự lúc nào câu chuyện chuyển sang đề tài muôn thuở của tuổi trẻ, đó là tình yêu. Cô gái hỏi Thanh sao đến bây giờ vẫn không lấy vợ. Thanh lý sự: Thanh không thích dính đến chuyện vợ con, bởi hạnh phúc là một cái gì đó rất trừu tượng, lúc yêu, chao ơi nó đẹp. Nhưng đến lúc về sống với nhau rồi, đồng tiền nó rỉa rói con người ta, nó làm con người ta trở thành ti tiện. Khi yêu thì chỉ thấy nụ cười. Lúc sống với nhau chỉ toàn thấy những tiếng thở dài não nuột. Chẳng cần bước vào cuộc sống gia đình Thanh cũng nhận biết điều đó qua những người xung quanh mình. Anh thú nhận với cô là đã một lần anh yêu. Người yêu của anh là một cô gái xinh đẹp có mái tóc dài quá eo lưng. Tình yêu của hai người tưởng như bền vững lắm. Bao nhiêu là lời thề thốt với bao nhiêu nụ hôn, với bao nhiêu món quà tặng hấp dẫn của anh và của nàng. Trao nhau cả tâm hồn lẫn thể xác, chỉ cần một đám cưới. Vậy mà vẫn cứ đổ vỡ. Đổ vỡ một cách thảm thương khi cô ta thú nhận cái thai trong bụng cô không phải là của Thanh. Nghe chuyện, Thanh không tin vào lỗ tai của mình nữa. Nhưng cô ta buộc anh phải tin, và khóc sụt sùi làm cuộc chia tay với Thanh bằng một đêm cuối sống với nhau. Đám cưới của cô ta được tổ chức sau đó một tháng. Thì ra chẳng có thai nghén gì hết. Cô ta làm vậy để thoát được Thanh, để lấy một người khác xem ra có tương lai hơn Thanh bằng một chuyến di chuyển hẳn về thành phố và ở đó có hẳn một ngôi nhà. Thanh buồn thì ít, mà căm giận thì nhiều. Cô gái nghe Thanh nói với một gương mặt buồn rười rượi. Thanh cũng chợt buồn theo. Trời đã khuya, Thanh chợt nhớ đến những bức hình đang nằm trên bàn sấy. Anh chạy vội vào buồng tối. Những bức hình đã xém vàng. Thanh bực bội. Vậy là công toi, sáng mai đã phải nộp duyệt rồi. Bực dọc và buồn bã, Thanh bắt tay vào làm lại. Nhưng thật trớ trêu, tâm trí của anh không sao tập trung được nữa. Anh dốc tuột chậu thuốc hiện hình vào nước lã. Lúc chợt nhận ra sai lầm của mình thì đã muộn. Đành phải pha lại chậu thuốc khác. Anh vừa làm lại vừa muốn đập tan mấy cái bình thủy tinh, xét toạc mấy tập giấy, hất tung mấy cái chậu đi cho rảnh chuyện. Cái chuyện không đâu đã chôn chặt ở trong lòng lại khơi khơi kể ra. Để làm gì chớ ? Thanh quay lại phòng cô gái để mượn bình nước nóng. May sao cô ta chưa đi ngủ. Cô ngạc nhiên nhìn Thanh :
- Anh chưa về ?
- Chưa, tôi phải làm thêm chút nữa.
Cô đưa Thanh bình nước rồi lặng lẽ quay vào. Chỉ còn Thanh với cái buồng tối, tối thui. Hai mắt Thanh nhòe đi, không chỉnh nổi cái ống kính máy phóng. Làm được một tấm hình giống như một cuộc đánh vật. Thanh bỏ luôn mấy cái kẹp, thò tay vào chậu thuốc mà khua khoắng. Khi đặt được tất cả những tấm hình vào máy sấy rồi, Thanh mới yên tâm. Anh kéo cái ghế, ngồi ngay cửa để canh chừng, kẻo lỡ ra lại xém một lần nữa thì công toi.
Cánh cửa phòng cô gái lại mở. Cô bước ra, trên tay là một cái tô lớn. Cô đến bên Thanh :
- Anh ăn tô mì nấu. Biết anh làm việc khuya, đói…
Trời ơi, không biết nhà văn Nam Cao tả cảnh Thị Nở mang cho Chí Phèo nồi cháo hành đã làm cho Chí Phèo phải cảm động thế nào? Thanh đón tô mì của cô gái với cảm xúc thật lạ lùng. Từ chối? Phụ lòng cô ấy. Nhận? Có vẻ sống sượng quá. Đùn đẩy một lúc, hai người đành chấp nhận cách chia đôi. Cô gái đưa Thanh trở lại phòng mình sau khi Thanh đã xem lại mấy tấm hình của mình. Bước chân vào phòng cô gái, Thanh chợt giật mình: khuya lắm rồi. Nhưng cơ quan còn có ai đâu. Ông thường trực cao nhẳng đã về nghỉ phép, giao chìa khóa cổng cho cô gái giữ. Cậu Văn Thao, cán bộ công đoàn thì ngủ tít trên lầu ba. Ông Thê, mới ly dị bà vợ gàn dở thì ngủ trên lầu bốn. Hết !
Thanh xem lại những tấm hình một lần nữa trong khi cô gái mang tô mì chia ra làm hai. Phần Thanh nhiều hơn một chút. Câu chuyện giữa hai người vẫn không bớt đậm đà. Thì ra cô gái đã có chồng. Chồng cô ta là một anh thợ xây. Nay công trình này, mai công trình khác. Anh ta lỡ đeo theo một cô gái khác cùng tổ, nên nhất định đòi ly dị với cô vợ cũ. Đã ba lần anh ta làm đơn, nhưng cô không ký. Không phải cô nuối tiếc gì mà là vì cô giận và cứ luôn bị ám ảnh mình bị oan ức quá. Lý do trong đơn thật vô lý: Không hợp. Ở với nhau mới đủ để anh ta biến cô gái thành đàn bà, chưa đủ thời gian để chia xẻ với nhau máu thịt mà có với nhau một đứa con, sao lại không hợp? Cô ấm ức kể mọi chuyện cho Thanh nghe như muốn tìm ở Thanh một niềm an ủi. Và Thanh đã an ủi, bắt đầu bằng lời nói, sau đó là bằng cái vuốt tóc rất dịu dàng, Thanh quên hết thực tại, quên rằng đây là lần đầu tiên anh nói chuyện với cô ta. Trong một lúc cảm xúc đột ngột, Thanh đã nâng cằm của cô ta lên và đặt vào môi cô ta một cái hôn. Thanh thoáng nhận thấy cô ta khẽ rùng mình. Cái rùng mình rất nhẹ như một sự đồng lõa. Thanh xiết chặt lấy cô ta. Hai bàn tay cô ta yếu ớt chống đỡ lại Thanh, nhưng không lấy gì làm kiên quyết lắm. Khi Thanh quờ quạng đưa tay lên toan bấm công tắc đèn, thì cô giữ lấy tay Thanh:
- Khoan đã anh.
Thanh chưa hiểu cô ta nói gì, thì cô đã đứng dậy, đóng cánh cửa lại và quay lại Thanh:
- Đừng tắt đèn … Em sợ lắm.
Trong tay Thanh là một tấm thân nhỏ bé nhưng nóng hổi. Những mảnh vải cuối cùng trên người rơi xuống ngay trên nền nhà. Cả hai cùng chơi vơi, chơi vơi và đổ vật xuống chiếc giường.
Ít phút sau, cả hai cùng mệt nhoài, nằm bên nhau. Cô gái khóc. Thanh vuốt lên bờ vai trần của cô gái:
- Đừng khóc, em. Anh…
Cô gái nói trong tiếng nức nở:
- Không, anh đừng nói gì hết. Em sợ những lời nói dối lắm…
Cô gái nói đúng đến phát sợ. Dù sao cũng là phút xúc cảm bất ngờ của cả hai, chớ có yêu thương gì đâu. Thanh vơ vội lấy quần áo mặc vào người. Còn cô gái, cứ nguyên vẹn thế, khỏa thân, nhìn Thanh sau hàng nước mắt:
- Chắc chồng em cũng vậy thôi. Anh ấy cũng gặp một cô gái dễ như em và… anh. Sau đó thì sao nhỉ- Cô gái nhếch mép cười- sẽ bám riết lấy anh, đưa anh vào những cuộc như thế này.
Cô khoan thai ngồi dậy, điềm tĩnh nhặt lấy từng thứ quần áo, chậm rãi mặc lên người. Thanh bỗng thấy nhục nhã. Cô gái tiếp:
- Anh về đi. Em không đòi hỏi gì ở anh đâu. Em không cần bất cứ một sự bảo lãnh nào cả. Dù sao… cũng cảm ơn anh, để em biết thêm một chút về đàn ông các anh…
Sau đêm ấy, Thanh tìm mọi cách lánh mặt cô gái. Nhưng hình như cô ta không muốn buông tha Thanh. Vào những dịp thuận lợi, cô mời Thanh tới. Đã tội lỗi một lần, lại không thể quên được sự nồng nàn của cô ta, Thanh không thể từ chối. Mỗi lần như thế, cô ta lại biến Thanh thành một thứ để thể nghiệm. Có lần, sau phút thỏa mãn, cô ta phàn nàn với Thanh: độ rày cô ta túng thiếu quá, không đủ tiền để mua lấy một chiếc áo mới. Thanh dại dột lấy tiền ra đưa. Vậy là cô ta cười phá lên, đẩy những đồng tiền trở lại túi Thanh. Lần khác cô bảo Thanh, mẹ cô bị bệnh, cô nhờ Thanh bớt chút thời gian, chừng năm bảy ngày gì đó giúp cô. Thanh xăng xái nhận lời. Thế là cô ta bắt đầu: Đàn ông các anh còn nhẹ dạ hơn cả phụ nữ nữa. Mỗi lần đến với cô gái là mỗi lần Thanh bị xúc phạm, vậy mà Thanh không thể bỏ… Cho đến một lần, cô ta lại hẹn Thanh, nhưng không hẹn tới căn phòng tội lỗi của cô, mà là một cuộc dạo mát.
Hai người dừng lại nơi chiếc ghế đá ở công viên bờ sông. Như bao nhiêu cặp tình nhân khác, họ ngồi nép vào nhau âu yếm. Gió lồng lộn thổi, cành phượng vĩ trên đầu hai người vật vã, chao đảo. Cô gái khẽ gọi :
- Anh Thanh.
- Sao em?- Thanh hỏi.
- Hôm nay, là ngày cuối em gặp anh như thế này.
Thanh thảng thốt:
- Em nói sao?
- Em cảm ơn anh. Em xin lỗi anh vì đã làm phiền anh một thời gian quá dài- cô gái thở dài- Nhờ anh, em đã kéo được chồng em về.
Cô gái bỗng bật khóc!
- Em không yêu anh, mà em vẫn… Vì em, chỉ muốn biết người đàn ông họ cần gì. Chắc chồng em cũng vậy thôi. Và em đã đúng. Chồng em đã biết ân hận, đã quay về… Nhưng trời ơi, con người em bây giờ nhơ bẩn quá…
Thanh không nói một lời. Anh cũng thấy mình nhơ bẩn quá. Đàn bà, thật quá đáng. Trong sạch thì mất chồng. Lấy lại được chồng thì mất đi sự trong sạch. Bấy lâu nay, Thanh ngỡ mình đã ban cho cô ta một ân huệ bằng tình ái. Đâu ngờ… Thanh muốn nhảy xuống dòng sông, để gột rửa đi những gì đã vương vất trên cơ thể.
Đàn bà. Hai lần, mỗi lần một sự thật nhớp nhúa khac nhau. Thanh xin đi học. Anh thi đậu vào trường Cao đẳng mỹ thuật và từ đó, anh trốn tránh tất cả những cặp mắt của các cô gái.
*
* *
Vậy mà bây giờ anh gặp Thủy. Anh và Thủy đang bị người đời lên án bởi một mối tình ngang trái. Anh có cảm giác anh sẽ chẳng bao giờ có được Thủy. Anh đã đặt ra bao nhiêu phương án để có Thủy, nhưng tất cả mọi phương án đều cũng chỉ lóe lên rồi lại vụt tắt ngấm. Không có bất cứ một chỗ dựa vững chắc nào để Thanh có Thủy.
Người duy nhất có thể thông cảm được với Thanh, đó là Vĩnh. Anh có thể kể hết mọi chuyện cho Vĩnh nghe mà không phải giấu giếm bất cứ một điều gì. Anh mới gặp Vĩnh lúc chiều đây thôi.
Hai người ngồi nép vào một chiếc bàn khuất ở góc trong của quán cà phê quen thuộc. Thấy Thanh chốc chốc lại thở dài, Vĩnh nói :
- Này, con người ta chỉ buồn thôi, thì sẽ không giải quyết được gì đâu.
Thanh lắc đầu:
- Vậy ông bảo tôi nên làm gì bây giờ?
- Ông yêu Thủy?- Vĩnh chợt cười- Chẳng nên làm gì hết. Ai ở vị trí nào cứ để nguyên vị trí đó. Không ai giúp ông được trong chuyện này đâu.
Ngẫm nghĩ một lát. Vĩnh tiếp:
- Cánh đàn ông mình, bao giờ cũng có cái máu chiếm đoạt. Nhưng chiếm đoạt xong rồi… nhiều khi thấy hối hận đó ông.
Thanh cũng là người rất hiểu Vĩnh. Đến người vợ này nữa là đời vợ thứ hai của Vĩnh. Người thứ nhất Vĩnh không thể sống chung được vì cô ta không thể chịu nổi cảnh chồng suốt ngày chăm chút đến cây đàn. Cô ta đã từng nhiều lần giễu cợt nói với con : “Ráng lên, nay mai cha thì chơi đàn, con thì cầm ống lon đi xin”. Một lần nhà hết gạo ăn, tối vẫn chưa có hạt gạo đổ vào nồi mà Vĩnh vẫn thản nhiên ngồi búng từng nốt nhạc trên cây đàn của mình. Cô vợ giận quá tới giằng cây đàn khỏi tay Vĩnh. Không may, khi cây đàn buột ra, nó văng quá mạnh, đập vào cột nhà vỡ toang. Vĩnh lẳng lặng đứng lên, nhặt từng mảnh gỗ, rồi ôm cả cái mớ vụn nát mà đi khỏi nhà. Anh lên khu tập thể của cơ quan ở. Bốn năm trời qua đi, lâu lâu, anh về thăm con, nhưng tuyệt nhiên không ngủ ở nhà. Buộc lòng cô vợ phải ký đơn ly hôn.
Bây giờ, Vĩnh sống rất hạnh phúc bên một cô giáo dạy toán, cùng trường với Thủy. Người ta thấy anh trẻ lại, hồn nhiên sống và sáng tác được nhiều hơn. Bài hát “Mùa thu” mới được biểu diễn báo cáo bữa trước là tình cảm của anh dành cho vợ mình. Bữa đó Thanh cũng đi coi. Ở đó anh gặp Thủy. Không ngờ, chính đêm đó, Thủy chập chờn sống trong tâm tưởng anh. Hôm đó Thanh hỏi Thủy :
- Chị Thủy này, tôi có cảm giác, chị hát câu cuối như tiếng nấc ấy. Câu ấy là phải thật tràn ngập mới phải chớ.
- Không, tôi rất sợ câu hát đó… Nó không phải của tôi. Trả lời Thanh xong, Thủy ngồi lặng đi trên hàng ghế dành cho những diễn viên, Thanh nhìn Thủy chăm chăm. Thủy nhận ra cái nhìn đó. Cô cố tình ngoảnh đi để tránh.
- Sao anh lại nhìn tôi như vậy, anh Thanh ?
- Tôi biết trả lời Thủy thế nào đây? Đừng trách tôi tò mò… Vì sao vậy Thủy ?
Câu chuyện bắt đầu là như vậy. Họ gặp nhau như bạn bè. Người cha đang ngồi tù vì vô tình gây nên án mạng. Chị em đang đi dạy học bỗng bị buộc thôi việc vì ảnh hưởng người cha. Ráng thi vào nhạc viện thành phố. Ở đó gặp lại người bạn anh trai, vốn là một hạ sĩ quan thời trước. Đứa con ra đời. Anh chồng nghiện ngập và cờ bạc. Chia tay không cần phải ra tòa. Gặp người thứ hai. Ngỡ anh ta chấp nhận chuyện ngang trái đời mình, thì sẽ chấp nhận tất thảy. Không ngờ… anh ta không muốn nuôi đứa con không phải của mình. Đứa trẻ cứ phải ngồi riêng một góc trong bữa ăn. Vẫn chỉ có hai mẹ con. Kể cả những lúc nó đau ốm… Bất hạnh. Căn phòng mười sáu mét vuông như một gian nhà tù.
Từ rất lâu không tiếp xúc với phụ nữ. Thanh đã chai lỳ mọi cảm xúc, mà sao anh bỗng tin mọi điều Thủy nói là có thực.
“Anh, anh đừng nhìn em như vậy. Em sợ. Em chưa bao giờ gặp được ánh mắt như ánh mắt anh. Em hiểu, anh rất hiểu và thông cảm với em. Nhưng... Đừng nhìn em như vậy nữa. chúng ta đang tội lỗi, anh ơi”.
Nhưng lời này được viết thành chữ trên giấy trắng mực đen. Nó chưa kịp đến tay Thanh, thì đã lọt vào tay người khác. Một cuộc tra khảo, không có chửi rủa, không đòn roi, nhưng nó rỉa rói vào danh dự con người Thủy. Không do dự, không lảng tránh. Thủy nói hết.” Chúng tôi không có tội gì hết, tôi cần nơi để trút bỏ hết nổi khổ của mình. Mà anh thì không làm được điều đó. Trước đây, bây giờ anh không làm được, sau này anh lại càng không thể làm được. Không nên diễn kịch với nhau làm gì hết. Tôi hứa với anh, tôi sẽ không bao giờ gặp Thanh nữa. Nhưng xin anh để tôi được sống với tâm trạng của tôi. Xin anh đừng can thiệp vào những chuyện của tôi. Anh xem tôi như một người khách trong căn phòng này. Tôi sẽ đào sâu chôn chặt, sống để bụng, chết mang theo. Tôi không bao giờ làm phiền đến anh đâu…” Đã hơn một tháng nay, Thủy thực hiện đúng như lời mình nói. Hai người chẳng còn được gặp nhau. Nhưng chuyện đâu có thể như cái kim. Nó loang ra như một cơn sóng mạnh. Anh em biết, họ hàng biết, bạn bè biết, hai người sống trong một sự vây bọc của dư luận. Có ai hiểu được hai người. Đến cả Vĩnh cũng chỉ hiểu được phần nào theo ý nghĩ chủ quan của anh…
Vẫn trong quán cà phê, Vĩnh thao thao:
- Ông đừng tiểu thuyết quá. Cũng đừng nói với tôi: ông yêu, ông sẵn sàng hy sinh cho nàng. Ông đừng tưởng tượng ra một viễn cảnh hạnh phúc. Ông cứ kiếm ngay một cô công nhân chạm khắc ở chỗ ông ấy. Không thiếu gì đâu. Đau đớn mà làm gì. Thôi ngay, thôi ngay lập tức. Phải cực đoan mới được. Người nghệ sĩ không cực đoan không làm nên trò trống gì đâu. Mà ông cũng không thể như tôi được. Ông cố tin là ông sẽ mang lại hạnh phúc cho cô ta phải không ? Ai ở trên đời này mà không có khuyết tật, có khi khuyết tật của ông còn trầm trọng hơn cả chồng cô ta nữa…
Thanh ngồi nghe. Anh thấy Vĩnh nói những điều nghe cứ lành lạnh. Không lẽ lại đúng vậy sao? Vĩnh gọi châm thêm một bình trà nữa rồi tiếp :
- Bữa trước tôi thấy con nhỏ ngồi giặt ở bờ giếng chỗ ông đó, hay đấy. Ông đuổi nó đi để ông tắm, mà nó cứ cười. Thà cứ lấy mấy đứa vô tư vậy làm vợ mà hay. Suy nghĩ của nó nông choèn, nói cái gì mà nó chẳng nghe. Văn chương, chữ nghĩa, nghệ thuật bây giờ toàn là một mớ hàng giả. Ông tin tôi đi. Bớt được chút đau đớn, nợ nần nào đỡ chút đó…
Thật hết biết. Thanh không lý giải hoặc cãi lại Vĩnh. Có cái gì đó đúng đến sỗ sàng. Anh đã từng biết có một tác giả nữ đã vẽ một bức tranh sơn dầu về bến sông quê mình để làm bài thi tốt nghiệp. Thầy dạy của cô là những họa sĩ bậc cha chú chỉ chấm cho cô đủ điểm tốt nghiệp. Bực mình cô đem bức tranh về làm cái giàn trên gác bếp. Cô ném lên đó hành, tỏi, mắm ruốc, khô cá, rổ, rá… Khói của cái bếp đun dầu bốc lên ám vào tranh loang lổ. Bỗng có một cuộc triển lãm tranh bên Mỹ dành cho các tác giả nữ. Cô đem bức tranh xuống, rửa qua loa, gởi liều đi triển lãm. Không ngờ, ở bên đó người ta mua bức tranh tới mười lăm ngàn đô la. Được tin cô sướng muốn phát cuồng. Cô mong nhận được số tiền đó để trang bị thêm cho xưởng họa của mình. Nhưng, ngoài những bức điện chúc mừng, một bữa tiệc chiêu đãi, một khoản tiền gọi là để thưởng, cô không còn nhận được gì thêm. Xưởng vẽ của cô vẫn nghèo và cô vẫn tiếp tục phải vừa sáng tác, vừa vẽ truyền thần để mà “lấy ngắn nuôi dài” như người ta vẫn nói. Có một điều rất buồn là người ta lại khen những bức vẽ truyền thần của cô hơn những bức tranh của cô. Còn Thanh… Anh chưa bị đến như vậy. Một phần vì anh đang còn độc thân nên không cần tiền đến mức phải bán cái giả của mình để mua lấy những đồng tiền thật. Nhưng nghe Vĩnh nói, anh không khỏi liên hệ đến những gì mình từng trải. Hai người đàn bà và Thủy. Không, không thể so sánh như vậy được. Thủy đâu có đánh lừa anh. Mà đánh lừa để làm gì ? Những lần gặp gỡ, Thủy không đòi hỏi gì ở anh. Cô chỉ muốn anh nghe đủ, nghe hết mọi chuyện của cô mà thôi. Không lẽ như vậy lại là tội lỗi. Cũng có lần anh kêu gọi Thủy phải dũng cảm để thoát ra khỏi cuộc sống hiện tại, tìm đến hạnh phúc của mình. Nhưng hạnh phúc ở đâu ? Liệu có thể bắt đầu ở nơi anh? Cuối cùng thì Vĩnh cũng không giúp được cho anh một lối thoát nào. Anh không tranh luận với Vĩnh, một phần anh thông cảm với những thất bại trong đời Vĩnh, phần khác Vĩnh là Vĩnh, Vĩnh không thể là anh được.
Lúc này anh chỉ có một mình. Anh cố xua đuổi hình ảnh Thủy ra khỏi tâm trí của mình nhưng không được. Lòng anh day dứt. Phải chăng mình là kẻ thiếu đạo đức? Đời lên án mình như vậy có đúng không? Hình như đúng. Thật không? Cảnh huống thật éo le đó mà bị một nhát dao đâm vào tim, mình vẫn có thể chịu đựng được. Nhưng còn em? Em đang liên tục bị vây xiết, đang bị dồn đến chân tường vì một thứ đạo lý vô lý.” Tôi thương nó, tôi thấy nó vất vả nuôi con, tôi xoá bỏ mọi mặc cảm, chấp nhận sự thiệt thòi mà lấy nó. Vậy mà nó ngoại tình, nó phản bội. Nó chà đạp lên sự hy sinh của tôi…”. Đạo lý là như thế chăng? Ai hiểu em cần gì, em yêu gì? Tại sao cứ phải trói buộc mình vào một cái mình không tha thiết. Mình đang chờ những gì sẽ đến. Mặc kệ tất. Mình cứ yêu em. Mình yêu em cho đời mình có nghĩa hơn. Mình sẽ có những giây phút được dằn vặt vì cuộc sống. Đêm lại xuống rồi kìa. Đêm vô nghĩa quá. Mong ngày là của ta, đêm cũng là của chúng ta. Nhưng em đang bị xiết lại bởi một sợi dây trói vô hình.
“ Hạnh phúc… Hình như có một lúc nào đó em thấy có hạnh phúc. Nhưng như mưa bóng mây vậy. Thoáng qua thôi. Ngỡ là nắm được trong tay rồi mà nó cứ vượt ra. Em như người hát bị đuối hơi. Biết là phải hát như thế đó mà mình không làm sao tới được. Ngay cả những đứa học trò của em chính nó cũng bảo em: Sao kỳ vậy cô. Đầu giờ, cô làm chúng em bị thu hút hết sức. Nhưng đến cuối giờ, chúng em không biết cô định nói gì với chúng em nữa. Em mệt mỏi ư ? Không đúng. Có lẽ là thế này, đúng vào lúc phải kết lại mọi vấn đề trong bài giảng, em lại thấy mình đang nói lời của ai đó chớ không phải là lời của mình. Không có cái kết cục nào cho thật trọn vẹn, nó cứ ở đâu đó bảng lảng. Giống như bây giờ, hạnh phúc đối với em cũng như của ai đó, chớ không phải của em. Có lúc em có cảm giác toại nguyện, nhưng lại có lúc thấy thiếu một cái gì. Mà thiếu cái gì anh? Em có chồng, lẽ ra đêm đêm phải được ôm ấp trong vòng tay của chồng, vậy mà sao em không thể- Mà dẫu có nằm trong vòng tay đó em vẫn cứ thấy mình lạnh lùng. Em cố ráng cảm nhận sự ấm áp, nhưng không được. Phải chăng đó là nguyên nhân mọi nỗi khổ ?…”
Tâm sự của Thủy là như vậy. Làm sao trách được con người khi có những điều tưởng như vô cớ mà cứ tồn tại. Thủy không yêu chồng, đâu phải vì anh ta nghèo, cũng không phải vì anh ta vô đạo đức, càng không phải anh ta vô tình, không yêu Thủy. Nếu ai đó bắt Thủy lý giải tại sao cô không yêu chồng, thì không làm sao Thủy lý giải được. Và nếu có lý giải, Thủy chỉ còn biết ngước cặp mắt buồn rười rượi của mình nhìn đi đâu đó, xa vời vợi. Lúc này đây, khi nghĩ đến Thủy, Thanh vẫn thấy rõ cặp mắt đó. Chao ơi đôi mắt. Thanh nhìn ra ngoài trời, trong ánh sáng nhập nhòa của những ngọn đèn bảo vệ, anh thấy cặp mắt Thủy. Thấy cặp mắt Thủy trong tán cây rậm rạp đang bị gió đánh lay động. Cặp mắt Thủy trên nền trời về đêm đen thẫm. Cặp mắt buồn, chan chứa, lúc nào cũng thấy thiếu, cũng thấy nuối tiếc một cái gì. Cặp mắt Thủy chứa đựng một tình cảm thật nồng nàn, sâu xa, nhưng nó lại chơi vơi như không có cái đích nào cho nó nhìn tới.
Thanh bỗng chạy vào nhà, thục hai bàn tay vào đống đất nhão nhoẹt. Anh vốc một vốc đất lớn, nện mạnh lên mặt một tấm gỗ đặt trên bàn.
*
* *
Vĩnh ngạc nhiên vô cùng khi thấy Thanh làm việc đến cật lực bên bức tượng Puskin. Cả tháng nay, mấy lần đắp lên mấy lần Thanh phá bỏ. Không biết đến lúc nào Thanh mới hoàn tất được bức tượng. Bỗng bây giờ thấy Thanh lao vào việc, Vĩnh cho rằng anh đã thuyết phục được Thanh. Anh bỗng thấy thương bạn vô cùng. Anh thấy mình phải có trách nhiệm với nỗi buồn khổ của Thanh. Ngày nào anh cũng đến với Thanh, anh muốn Thanh không bị lẻ loi và nhất là để giữ Thanh, không để anh phạm những sai lầm đáng tiếc. Thấy Thanh làm việc anh mừng nhưng anh lại thấy có cái gì khác thường trong cách làm việc của Thanh. Bức tượng theo đơn đặt hàng lẽ ra chỉ cao chừng ba tấc, anh nâng lên gấp đôi. Anh xoay trần ra với đống đất khuôn, nhào nặn, đắp, luôn chân tay. Không có giờ nghỉ trưa, không có bữa ăn chính thức. Vĩnh mua bánh mì về, Thanh lơ đãng cầm lấy đưa lên miệng, miếng bánh mì lấm đất. Mua hủ tiếu về, Thanh để nguội ngắt và phải giục mấy lần Thanh mới ngừng tay. Puskin hiện ra trên bàn lớn như người thật. Bốn ngày liên tục, một hôm khi Vĩnh đến, Thanh đã trùm lên bức tượng một cái bọc mủ. Anh không được nhìn thấy động tác cuối cùng của Thanh khi hoàn thành công việc. Anh biết, Thanh còn phải chăm chút rất lâu với bức tượng rồi sau đó mới làm khuôn thạch cao, đổ đúc… Mấy lần Thanh từ chối khi anh đòi mở tấm mủ cho anh coi thử gương mặt của Puskin khi đang còn là đất ướt. Vĩnh thấy Thanh muốn giữ một cái gì đó cho riêng mình, nên anh cũng không năn nỉ. Anh kiên nhẫn chờ. Tuy nhiên, anh cũng sốt ruột mong giống như Thanh đã từng mong một bài hát của Vĩnh. Phải hơn một tháng sau, Vĩnh mới được toại nguyện. Hôm đó, chính Thanh bảo Vĩnh:
- Xong rồi, bữa nay mời ông tới.
Trong căn phòng cũ bề bộn, Thanh kê thêm vào đó một cái bàn mới, trên bàn anh phủ một chiếc khăn bông màu sáng. Thêm một cái bệ gỗ cẩm: Puskin được phủ một lớp nhũ đồng. Vừa bước vào, Vĩnh đã thốt lên :
- Tuyệt. Tuyệt, rất tuyệt. Anh cứ đứng sững ở cửa mà ngắm. Thanh đứng cạnh anh không nói một lời nào. Mắt anh sáng lên, nhưng không thấy dấu hiệu của sự vui mừng.
Bỗng Vĩnh nhận ra một vẻ khác thường trên bức tượng. Nhận ra một cách mơ hồ thôi nên anh không thể nói ngay ra miệng. Anh băn khoăn. Một bên mép lại hấp háy, dấu hiệu của một cuộc suy nghĩ rất lung. Thanh cũng nhẫn nại chờ, một tia tín hiệu bỗng chợt lóe ra. Vĩnh nói ngay :
- Không, mắt này không phải mắt Puskin.
- Ông bảo sao ? – Thanh hỏi lại.
- Mắt này không phải là mắt Puskin – Vĩnh khẳng định. Tôi đã nói với ông, mắt Puskin phải có cái nhìn thẳng như hai đường đạn kia. Đằng này…
Thanh cướp lời :
- Đằng này nó sâu lắng quá, nó xa vời quá, nó lại u uất buồn và cứ như thiếu thốn một cái gì có phải không ?
Vĩnh gật đầu vẻ không được tin tưởng lắm. Pugatxốp, Dubrốpxki, Con gái viên đại úy. Hai viên đạn gần như đúng một điểm trên bức tranh treo tường… Puskin là như vậy. Mà sao ông ta lại đi đấu súng… Vĩnh đang băn khoăn, thì Thanh lại lên tiếng:
- Mắt Thủy đó…
Vĩnh reo lên bất chợt :
- Đúng rồi. Tôi thấy rồi. Trời đất. Nó quen quen như của ai, mà cũng chẳng của ai cả.
Bây giờ thì Vĩnh hiểu vì đâu Thanh lao động cật lực đến như vậy. Một phần hồn, một phần đời, tất cả mọi suy nghĩ của Thanh dồn vào đấy. Để đôi mắt trên bức tượng như biết nói. Mất mát ưu tư, khát thèm cuộc sống hạnh phúc, dồn nén những nỗi buồn và nhất là lúc nào cũng muốn thoát ra khỏi sự vây bọc của cuộc đời ngang trái. Vĩnh bỗng hiểu Thanh hơn và tự trách mình đã có những lời khuyên bữa trước. Thanh biết tìm ra được lối thoát ngay trong đống bùn đất nhão nhoẹt kia.
*
* *
Bức tượng Puskin bây giờ được đặt ở một góc khiêm tốn trong trụ sở Hội văn học nghệ thuật tỉnh. Có biết bao người đã chiêm ngưỡng. Người chưa biết đến Puskin thì thờ ơ, liếc qua một cái rồi đi. Người có biết chút ít về Puskin thì khen : giống quá. Người có kiến thức văn chương thì thốt lên : đúng là Puskin rồi, tuyệt. Không ai nhận ra được đó là Thanh, trong đó có cả Thủy. Hai con người đã trộn làm một trong cái hình hài của Puskin, trong đất và trong thạch cao.
Có lẽ không nên nói làm gì đến cuộc sống riêng của Thanh và Thủy. Nếu họ vượt ra và có được nhau, ta chúc họ hạnh phúc. Còn nếu họ vẫn riêng biệt thì đời phải chấp nhận thôi. Có thế mới là cuộc đời.
Tây Ninh 11-1989
Sửa lại tháng 11-2005
Nguồn: Cỏ đêm. NXB Văn học, 2006.
|