Chị lấy chồng tự thuở nào tôi chẳng biết, bởi lúc ấy tôi còn bé tí. Tôi chỉ nghe mẹ bảo rằng chị sớm chồng nhưng muộn con. Chả là chị lấy chồng từ năm mười sáu tuổi, nhưng mãi năm hai lăm tuổi chị mới sinh đứa con gái đầu lòng, nhưng ra đời được vài tháng nó đã chết. Sau đó, mãi đến năm ba mươi chị mới sinh lần thứ hai được thằng con trai, anh chị đặt tên nó là Bàng.
Thằng Bàng cũng èo uột, bệnh tật suốt, nếu đem tiền mua thuốc cho nó, cân lên, trọng lượng số tiền ấy còn nặng hơn cả thằng bé. Đâu chỉ có thế, đến năm lên sáu tuổi, nó bị mắc thêm chứng bệnh kỳ lạ - trên cái đầu của nó tự nhiên xì ra như cái tổ ong, máu mủ từ trong các lỗ ong cứ rò rỉ ra tanh tưởi không chịu nổi, nên người ta gọi đó là bệnh tổ ong. Anh chị tôi đã tốn biết bao nhiêu tiền thuốc men và cũng đã đi khắp cả bốn phương trời, nhưng bệnh của nó vẫn ngày càng trầm trọng, trên đầu nó chỉ còn vài cọng tóc thưa thớt dính bết máu mủ. Thương con quá, chị tôi tính quẩn lo quanh, ai bảo gì cũng làm, ai nói gì cũng nghe. Có người xúi chị đi coi bói – thầy bói nói động mồ động mả. Thế là chị rước thầy về nhà, sắm sửa vàng mã áo giấy cúng tạ từ trong nhà ra tới ngoài đồng. Chưa hết, chị còn đem nó cúng gửi vào các cửa đình cửa chùa. Có người còn bảo – đem bán nó cho thiên hạ làm con nuôi, chị cũng làm theo. Chị nói: “có bệnh, vái tứ phương”… Nhưng rồi tiền mất, tật vẫn mang, chị ngày càng lâm vào cảnh túng quẫn, dẫu trước đó chị cũng vào loại có ăn có mặc ở cái làng Tam Ái, một vùng quê trải dài bên bờ nam sông Đuống màu mỡ.
Thời đó chưa có phong trào hợp tác xã, anh chị tôi với gần hai mẫu ruộng, một con trâu, cùng ngôi nhà ba gian hai chái. Tới mùa gặt, thóc đầy bồ đầy cót để chật nhà. Ấy vậy mà lúc nào chị cũng tất bật từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi trời tối mịt. Từ chuyện con cái đến việc đồng áng, việc nào chị cũng giỏi giang, chỉ tội chị ít chữ bởi thời ấy con gái nông thôn chẳng ai đi học. Còn cha tôi thì bảo “Con gái chỉ cần biết đọc biết viết được rồi, học lắm chỉ tổ viết thư cho trai”. Quan niệm các cụ thời ấy còn phong kiến lắm, nhưng bù lại chị có trí nhớ rất tốt, thỉnh thoảng qua thăm chị, tôi thấy chị nằm trên võng ru con bằng mấy câu Kiều “Trăm năm trong cõi người ta” hay “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”… Chị còn thuộc cả truyện Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên. Tôi hỏi tại sao chị thuộc nhiều thế, chị bảo: “Chị thuộc và nhớ được là nhờ mẹ hát ru các em ngày các em còn bé đấy”. Thì ra chị học theo mẹ và những câu hát ru ấy chị đã từng hát ru chúng tôi, giờ chị lại hát ru con chị.
Tôi thương chị, bởi chị vất vả quá. Không biết cái tên The - cha mẹ đặt cho có vận vào đời chị. Thực ra chị không có vẻ đẹp lộng lẫy, nhưng lại có duyên thầm. Chị cứ như tấm vải the mới nhuộm, càng nhìn càng ưa. Chả thế nhiều trai làng nhòm ngó theo đuổi, chị chẳng để ý đến ai. Sau đó, bên xóm cầu Cả có ông Hương Thạch cũng là chỗ môn đăng hộ đối với cha tôi sang xin hỏi cưới chị cho con trai ông là anh Hưu. Thế là chị bước vào cửa người làm dâu từ thuở ấy.
Về nhà chồng được hơn một năm cha chồng chết, mới mười tám tuổi đầu chị phải lo toan việc gia đình. Cha chồng chết chưa được bao lâu, mẹ chồng lại lâm bệnh, chị trở thành người nội trợ chính trong gia đình. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng chị nhanh nhẹn tháo vát và luôn chứng tỏ là một nàng dâu hiếu thảo, chăm lo thuốc men cơm cháo cho mẹ chồng đầy đủ và chu đáo. Rồi bà cũng ra đi. Tang chồng lên tang, cùng bao vất vả lo toan, tưởng chừng chị ngã quỵ giữa cuộc đời. Cha mẹ tôi vì thương con gái nên bao bọc, che chở khá nhiều, nhờ vậy chị vẫn đứng vững giữa cuộc đời nhiều gian truân vất vả. Đó cũng là nguyên nhân chị muộn con.
Giờ chị như tấm vải the màu xám suốt ngày dãi nắng dầm mưa từ trong nhà ra ngoài đồng áng, chồng chị chỉ phụ giúp những việc nặng nhọc như cày bừa, nhổ mạ, thời gian còn lại anh dành lo thang thuốc cho thằng con. Nhìn chị tội lắm, nhiều khi chị tát nước có một mình – nơi đáng phải tát gầu dai nhưng không có người chị phải tát gầu sòng. Cái bờ ruộng bậc thang cao vượt mặt, nom chị chẳng khác con khỉ đánh đu. Chị đu riết, mảnh ruộng cũng đủ nuớc chẳng bị nứt nẻ. Nhiều hôm chồng vắng nhà, sợ lỡ thời vụ chị đánh trâu ra ruộng cày. Tưởng chừng chị không điều khiển nổi con trâu vốn chỉ quen người đàn ông cầm cày. Lúc đầu nó lật ách đâu chịu đi, chị quần riết nó cũng phải khuất phục. Nói là cày được, nhưng đường cày đâu có đều, chỗ nông chỗ sâu, chỗ bỏ lỏi, lúc tháo trâu chị phải dùng cuốc xới những chỗ đất bỏ lỏi lên. Thế rồi đâu cũng vào đấy, ruộng vẫn được bừa kỹ, lúa vẫn được lên xanh, chẳng thua kém các thửa ruộng chung quanh, chỉ sau này đưa ruộng đất vào hợp tác xã chị mới hết phải đi cày.
Lại nói về thằng con trai của chị, dù đã lên năm, lên sáu tuổi, nhưng cái bệnh tổ ong của nó vẫn chưa hết, trên đầu nó loe hoe vài sợi tóc dính bết máu mủ, chị phải dùng cái kéo lựa cắt đi từng sợi tóc trên đầu nó, rửa sạch rồi mới đắp thuốc, nhìn đôi bàn tay chị thành thạo như bàn tay bác sĩ. Nói thế chứ gặp sao chịu vậy, con mình đẻ ra bỏ sao được, mỗi lần rửa cho con, tôi nhìn gương mặt chị đau xót lắm, chịu đựng lắm. Thật lòng mà nói, bước vào nhà chị mùi hôi và tanh tưởi lắm, nhất là đứng gần thằng Bàng, nhưng vì thương chị chẳng ai quản ngại. Riêng chị, cực khổ, vất vả quen rồi. Đâu chỉ có vậy, chị còn mang trong mình căn bệnh hen suyễn, thường xuyên ho sù sụ, nhất là những ngày đông tháng giá, vậy mà ho mặc ho, chị vẫn suốt ngày quần quật với công việc, chả thuốc men chạy chữa. Hình như lúc bấy giờ ở vùng quê, những người mắc chứng bệnh này chẳng ai có thuốc men gì, chứ chẳng riêng chị tôi. Bệnh hen đâu phải bệnh chết người ngay, nên người ta cứ mặc kệ, ho cứ ho, làm cứ làm, ho rút cả cổ, ho nói không được, thở chẳng ra hơi, những lúc ấy nom chị cứ như tàu lá chuối rủ. Nhưng biết làm sao được, đâu phải gánh nặng mà chúng tôi san sẻ. Cứ như thế năm tháng trôi đi, chị như tấm vải the bạc màu vì mưa nắng. Một hôm chị đi đâu mãi tới trưa mới về, buổi chiều qua thăm thấy chị buồn lắm, tôi gạn hỏi chị chẳng nói, cứ ngồi trên bậu cửa lẳng lặng nhìn nơi chốn xa xăm, đôi mắt vô hồn. Nỗi buồn từ chị hình như cũng đã lan qua tôi – một đứa trẻ chưa hiểu biết chuyện đời, chỉ biết là chị mình buồn thế thôi. Tôi quanh quẩn trong nhà chị một lúc rồi trở về nhà nói cho mẹ nghe - mẹ chỉ ậm ừ không nói gì. Mấy ngày sau tôi nghe loáng thoáng người lớn nói: Hai vợ chồng chị đi coi bói, nghe thầy bói nói chị phải cho chồng lấy vợ bé thì thằng Bàng mới hết bệnh… Tưởng chỉ là chuyện bói toán, đâu ngờ chuyện thật trăm phần trăm.
Làng tôi lúc bấy giờ có mấy chị quá lứa nhỡ thì, các cụ bảo: “Cao không tới, thấp không thông”, gồm những người “già kén kẹn hom”, hoặc có dị tật gì đó nên chẳng đàn ông nào nhòm tới. Trong số đó có chị Mai. Chị Mai kém chị tôi gần mười tuổi, dáng người cao ráo trắng trẻo. Chỉ tội từ hai đầu gối trở xuống tới hai bàn chân cứ đỏ như trái gấc và to lừng lững như chân voi – người ta gọi đó là bệnh chân voi. Nghe thiên hạ đồn ầm lên anh Hưu đã lên nhà chị Mai nói chuyện, hình như chị ấy cũng chịu về làm vợ bé anh. Có người còn bảo: Ối dà, cái thứ ế chương ế nứt ra, đùng một cái có người hỏi cưới làm vợ, bé lớn gì cũng sướng rên… Chuyện rồi cũng đến tai mẹ tôi. Mẹ hỏi chị, chị chỉ nói: “Cháu cứ bệnh tật mãi không khỏi, chẳng biết nó sống hay chết… Con thì chẳng muốn sinh nở nữa, thôi cứ để cho bố nó lấy vợ bé”. Mẹ tôi nhìn con gái chẳng nói gì thêm, nước mắt mẹ rơi lặng lẽ. Thế rồi chẳng biết anh Hưu dỗ ngon dỗ ngọt thế nào, chị nghe lời đem trầu cau qua nhà chị Mai đón người con gái ấy về làm vợ bé cho chồng – lúc đó khoảng cuối năm sáu mươi.
Thế là từ đây cuộc đời chị tôi bước vào hai ngã rẽ, niềm vui ít, nỗi buồn nhiều. Trong căn nhà một ông hai bà, mỗi bà ở một phòng ở hai đầu chái nhà, ba người ăn chung một nồi cơm, lo công việc chung, buổi tối chả biết ai giành được anh Hưu, hay hai bà chia lượt ngày chẵn, ngày lẻ. Điều chắc chắn chị Mai giành được phần nhiều hơn chị tôi. Ông bà ta vẫn nói “có mới nới cũ” vả lại chị Mai còn con gái, đẫy đà sung sức, còn chị tôi đã trải quá nhiều gian truân vất vả, lao tâm khổ tứ vì thằng con bệnh tật; giờ lại gặp cảnh chồng chung, ở trong nhà thì thôi, chớ ra đồng ra ruộng người ta bàn tán châm chọc đến não cả ruột, thiết gì chuyện ấy. Thế là chị “buông súng” tự mình bại trận. Buồn lắm, nhưng mình làm mình chịu biết kêu ai. Chị cứ thui thủi như cái bóng ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, tối về ôm thằng con bệnh tật, chui vào buồng, hình như ông trời có đền bù cho chị, bệnh thằng Bàng mười phần cũng bớt được ba, bốn, đó là niềm an ủi duy nhất của chị.
Kể từ ngày anh Hưu lấy vợ bé, cha mẹ tôi và tôi thi thoảng mới ghé thăm cháu một chốc một nhát, có quả cam, quả chuối hay bát bánh đúc cho cháu rồi về ngay. Được cái chị Mai là người khéo mồm khéo miệng, gặp cha mẹ tôi một câu thưa cha, hai câu thưa mẹ… Chị khéo đến nỗi người ta nghĩ trong lời ngọt ngào ấy có lưỡi dao lưỡi kéo nào không? Chả thế hàng xóm người ta nói: “Ông Hưu sướng nhé, bà hai cứ ngọt như mía lùi, chả bù bà cả dùi đục chấm mắm cáy”. Không biết do chị Mai khéo mồm khéo miệng, hay do chị tôi nhẫn nhục, nhường nhịn nên cuộc sống của ba người chưa mấy sóng gió. Anh Hưu giờ vui hơn, nhưng cũng vất vả hơn, bởi chị Mai đã mang cái bụng to tướng đến bảy, tám tháng. Chị tôi phải gồng lưng gánh thêm công việc và chuẩn bị mọi thứ để đón đứa con chung của ba người chào đời. Cả ba đều mong muốn nó sẽ là con trai, bởi chẳng hy vọng gì vào thằng Bàng đang bệnh tật. Nhưng mấy bà già nông thôn có kinh nghiệm phán một câu xanh rờn: cái bụng to bè thế kia, cứ là con gái trăm phần trăm. Quả thật, mấy bà đoán còn giỏi hơn cả bác sĩ và đến ngày đến tháng chị Mai sinh một bé gái kháu khỉnh. Anh Hưu thì chẳng vui cũng chẳng buồn, còn chị Mai ngoài mặt sởi lởi, nhưng để ý kỹ trong ánh mắt, nụ cười chị thấp thoáng nỗi buồn u uất. Dẫu sao thì bé gái vẫn lớn lên trong tình yêu thương chăm sóc của ba người.
Rồi không hiểu sao trong con người chị tôi bỗng dưng có sự trỗi dậy. Chị muốn giành lại những gì đã có và là của chị, hình như đó cũng là bản năng của người đàn bà. Tuy cuộc sống giữa ba người chưa nhiều giông tố, có chăng chỉ là những đợt sóng ngầm. Hình như ý thức được điều đó, chị tôi bắt đầu biết lo cho mình, biết sắm sửa đôi chút, chải chuốt gọn gàng, nom chị “mòn con mắt” trở lại. Vài tháng sau chị mang bầu, bụng chị lớn dần, gọn hơ, mấy bà hàng xóm lại đoán già đoán non: “bà cả ông Hưu lại sinh con trai nữa”. Có người còn châm thêm dầu vào lửa - dại gì, cứ đẻ cho người ta biết mặt”. Thế là lửa trong nhà chị tôi cháy thật. Từ chuyện nuôi con gà, bán con chó, chuyện gì hai người đàn bà cũng cãi vã được, chỉ khổ ông anh rể tôi, ngồi giữa nhà, hai đầu nhà “hai cái loa” cứ phát ra rả. Can ngăn không nổi, tức mình anh Hưu vác gậy sừng sộ, nhưng chẳng dám đánh bà nào, điên tiết đập bẹp cái nồi đồng vẫn nấu cơm quăng ra góc sân. “Hai cái loa” đứt mạch, tạm yên. Thế là không chốn dung thân, ông anh nằm ngủ chèo queo giữa nhà bán mình cho muỗi suốt đêm. Rồi chuyện diễn ra như cơm bữa, hàng xóm chẳng ai thèm để ý, mặc đèn nhà ai, nhà nấy rạng.
Một hôm anh Hưu đi lấy thuốc cho thằng Bàng trưa trật, trưa trẹo mới về đến nhà. Vừa bước chân vào nhà thấy chị tôi lên cơn ho hen nằm một đống, anh phát hỏang, sợ cái thai có sao không, cuống quýt ngồi xuống bên chị hỏi han. Con Bằng thấy bố về chạy lại níu lấy, anh chưa kịp ẵm nó lên, con bé đã khóc thét. Giọt nước đã tràn ly, chị Mai chạy tới nắm tay con bé lôi đi, miệng tru tréo:
- Con ơi là con! Phải biết thân biết phận chứ… Cái thứ con gái, đồ bỏ đi… Cố mà lo để còn có người nối dõi tông đường…
Lúc đó anh Hưu như người bị dội gáo nước lạnh, không nói được lời nào, đứng trơ trơ như trời trồng. Chị tôi chạm tự ái, ngồi dậy, hai bà đấu khẩu. Con Bằng sợ quá khóc càng to, thằng Bàng cũng chạy lại bên mẹ ngồi thu lu vẻ mặt sợ hãi, cảnh nhà như bầy ong vỡ tổ.
Sau vụ đó, anh Hưu phân xử cho hai người ăn riêng, cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm, con ai người nấy lo, chỉ còn mỗi anh là chung thôi. Hai bà cũng chịu cho anh thay phiên mỗi người một tháng, ai có công việc nặng nhọc cần anh giúp đỡ phải lên lịch trước để anh sắp xếp. Nhìn ông anh rể, tôi chợt nhớ tới vở tuồng mà mấy anh kép xóm tôi vẫn diễn, nội dung đại loại: Có một ông quan nho nhỏ cũng áo mão cân đai, oai phong lẫm liệt, nhưng về đến nhà thấy hai bà vợ thì sợ như mèo sợ cọp, lúc hai bà “tao ngộ chiến”, quan ngăn chẳng được, giận quá bèn rút gươm ra với câu rất hài: “Bốn bề chiêng trống nổi lên, cho ta rút gươm tự tử”. Nhưng quan làm bộ vậy thôi, đâu chết được, quan muốn chết mà trời đâu cho. Hệ lụy mình gây ra, mình phải chịu, trút bỏ cho ai! Đó là quan, còn ông anh rể tôi: Quan chẳng phải, cán cũng không, một anh nông dân quèn ở cái xóm cầu Cả, chữ nghĩa chẳng có, sớm cày, chiều cuốc, vậy mà ham vợ lớn vợ bé, bây giờ lâm trận rồi lấy gươm đâu rút ra tự tử. Không lẽ đem cái cày, cái cuốc chặt ra mấy khúc rồi lấy gì bới đất mà ăn. Những lúc như thế ông anh rể tôi bèn học Từ Hải đóng vai “chết đứng” giữa nhà.
Và ông trời như cố trêu ngươi, mấy tháng sau chị tôi sinh được bé trai. Lúc đó đang vào mùa nước lũ, vùng quê tôi chẳng may bị trận lụt lịch sử năm bảy tám làm vỡ đê quai, nước tràn vào đồng như thác đổ, tàn phá hết vườn ruộng, hoa màu. Những ngôi nhà ở giữa đồng nước ngập đến nóc. Ai nhanh chân chạy được tài sản, ai chậm chân chỉ kịp chạy thoát thân. Tội nghiệp chị tôi, một tay ôm con nhỏ, tay dắt con lớn chạy lụt, có mấy thúng thóc may nhờ bà con lối xóm xúm xít chuyển giúp, còn mấy con gà, con lợn trôi nổi theo nước. Khổ thân chị, vừa ôm con vừa khóc, miệng kêu trời giọng khản đặc:
- Trời ơi, biết lấy gì để nuôi con đây? Hỡi trời!...
Nhưng trời cao đâu thấy, chỉ có những người nông dân quê tôi đang khổ vì trời, một năm mất mùa, một nạn đói được báo trước. Tất cả mọi gia đình bắt đầu thắt lưng buộc bụng, hạt gạo dành cho con trẻ, người lớn kéo nhau đi mạn ngược vùng Tràng Trũ, Mai Sưu săn lùng mua sắn khô thay cơm. Chị tôi chẳng đi được, cứ hàng xóm có người đi, chị lại gửi tiền mua giúp vài ký. Thấy cảnh éo le ai cũng thương tình giúp, chỉ tội chị mới sinh mà phải ăn sắn khô trừ cơm, lấy đâu sữa cho con bú. Cha mẹ tôi đã già yếu chẳng còn giúp được chị. Anh chị em ai có phận ấy, thời buổi hợp tác xã làm đến đâu hưởng tới đó, ai cũng khó khăn, chẳng ai giúp được ai. Chị tôi thì chẳng muốn phiền lụy người khác, trong nhà còn hơn chục ký gạo để dành cho thằng Bàng, nó còn nhỏ và bệnh tật. Chị thèm cơm lắm nhưng chẳng dám ăn, cứ sắn khô ăn riết. Nhiều hôm xót ruột, thèm cơm lắm, nhưng bấm bụng chịu, chỉ dám bốc nhúm gạo bỏ vào nồi nấu cháo, gạo thì ít, nước thì nhiều, nồi cháo luễnh loãng, hai mẹ con húp xì xụp. Đêm nằm ôm con, vắt kiệt bầu vú chẳng đủ sữa cho thằng bé bú, nó cứ khóc ngằn ngặt. Ôm chặt con vào lòng, nước mắt chị trào tuôn. Chị tự hỏi mình: “Sao đời lắm đoạn trường đến thế”. Nhưng có ai trả lời chị, chỉ có ngọn gió đồng vỗ sóng ì oạp mênh mông sau cơn đại hồng thủy. Còn anh Hưu mấy bữa nay mượn được chiếc thuyền nan nhỏ, lo chèo bơi gom ba cây tre, cây nứa do nước cuốn trôi dựng tạm căn nhà một gian hai chái ở trên núi Lẫm cho chị Mai và cũng để cả nhà tá túc. Nhưng chị tôi từ chối, ở nhờ tạm một nhà hàng xóm. Qua cơn lụt, chị dọn về vườn cũ, mỗi bà một khoảng trời riêng, như thế tốt hơn cho cả ba người. Anh Hưu tiếp tục chia sẻ mỗi người một tháng. Tuy là quy định bất thành văn nhưng ba người thực thi rất nghiêm ngặt, chỉ tội ông anh rể, thân này ví xẻ làm đôi. Lũ lụt vất vả tối mày tối mặt ấy thế mà chị Mai lại tiếp tục mang thai. Chị vui mừng ra mặt, đi đâu cũng ưỡn cái bụng ra phía trước để người ta biết mình có thai. Mấy bà hàng xóm lại có chuyện để mà đàm tiếu: “Gớm, hai bà vợ ông Hưu kỳ này cứ là vượt mức kế hoạch thi đua”. Chị tôi thì chép miệng bảo: “Miệng đời mà, để ý làm gì”.
Cái thời buổi đi làm hợp tác xã, ra đồng lo túm năm tụm ba, làm thì ít, chuyện đôi co, mách lẻo thì nhiều. Không chuyện gì mấy bà không biết, từ trên trời đến dưới đất, nói không quá: Trong nhà đánh dắm cái bùm, sáng ra đồng người ta đã biết, nói chi chuyện chị Mai có thai. Bây giờ sao người ta hay nhòm ngó, xét nét nhà người khác thế? Không làm ăn được, nghèo khó người ta cũng dè bỉu. Nhà nào khấm khá có miếng ăn cũng phải giấu giếm, cứ như mèo giấu cứt ấy. Kỳ quái vậy, không biết có phải do đời sống khó khăn, con người ta sinh keo bẩn, chớ ông bà mình ngày xưa đâu có vậy. Tình làng nghĩa xóm cứ nhạt thếch, chỉ giỏi đãi bôi, khéo cái lỗ miệng, còn bụng dạ con người chẳng ai đo được.
Chả là sau cơn lụt, chị tôi về lại vườn cũ ở, bà kiếm đâu được con chó về nuôi. Nó đẻ được ba con, bụ bẫm lắm. Nhưng vừa mở mắt được mấy ngày chị phải đem ra chợ bán, kiếm được mấy đấu gạo về cho con. Chuyện đáng thương đâu phải đáng ghét, ấy thế mà mấy bà vô công rỗi nghề cũng đơm đặt đủ thứ chuyện. Nào là “cái thứ đàn bà chồng chẳng thèm nhòm tới”. Người khác lại bảo: “Ối dà, người ta còn lo cho vợ bé. Bà Mai kỳ này có thai đẹp ra, cứ phôm phốp ra thế… còn sức đâu lo cho bà cả”. Người độc miệng hơn bảo: “Ông chán rồi bỏ mặc, làm không được ăn, đến nỗi mấy con chó con chưa mở mắt đã đem bán tống bán táng đi”.
Chuyện rồi cũng đến tai chị. Buồn nhưng chị mặc kệ, miễn sao con chị có cơm ăn là được rồi. Mà của chị, chị bán chớ có đi ăn cắp của thiên hạ đâu mà xấu hổ. Thời buổi hợp tác xã, thóc cân từng ký, nhà chị ba miệng ăn, có mình chị lao động. Ngày xưa còn đan cái dành, cái giỏ đem ra chợ bán kiếm thêm đồng rau, đồng cá, bây giờ nghề phụ cũng chết yểu rồi. Gọi là nghề phụ, chứ cái nghề đan lát ở làng Tam Ái này là một làng nghề truyền thống từ đời xửa đời xưa. Những năm làm ăn thịnh vượng, nhiều nhà hái ra tiền. Còn bây giờ chỉ có những gia đình có sức lao động, chịu đi xa mua tre, vác nứa về mới có nguyên liệu đan lát, đâu như ngày xưa cứ tre nhà hạ xuống, những bàn tay khéo léo biến cây tre thành những cái nan bóng láng, đan kết thành nhiều mặt hàng, bán ở khắp các chợ trong vùng. Thời ấy, làng tôi nhà nào cũng hai, ba dãy tre. Tre thành hàng thành lũy, những bụi tre to bằng nửa gian nhà, thân to tướng, cao vút bao bọc đường thôn mát rượi. Nhưng từ sau khi vào hợp tác xã, người ta bảo để tre hại ruộng, hư lúa của hợp tác xã. Thế là chi bộ - ban quản trị hợp tác xã ra nghị quyết: “Mọi nhà phải chặt hết tre”. Là một làng nghề truyền thống, ai cũng quý tre, thương cây tre, bởi tre với người đã bao đời gắn bó bên nhau, tre bảo vệ đất, tre che chở bão tố và góp phần nuôi sống con người. Trong thời kỳ chống Pháp, tre làng tôi còn là tường thành chống giặc và che chở bảo vệ bộ đội… Vậy mà bây giờ người ta triệt phá hết tre. Dân làng cứ người nọ nhìn người kia chẳng ai nỡ vác dao ra triệt hạ. Ban quản trị thấy vậy, huy động lực lượng dân quân du kích đến chặt. Nhà nào bị chặt tre còn bị trừ hai chục ký thóc, lấy đó trả công những người đi chặt. Ngày ấy, chị tôi cứ ôm con nhìn những buị tre bị đốn hạ, khóc ròng, miệng van xin: “Mấy anh, mấy chú cho tôi xin, mẹ con tôi chỉ trông vào mấy bụi tre, giờ mấy chú chặt hạ, lấy gì tôi sống, lấy gì nuôi con…”, rồi chị lại khóc. Nhưng những giọt nước mắt của chị chẳng lay động được ai, bởi đó là nghị quyết. Mà đã là nghị quyết thì phải chấp hành, chị cũng biết vậy, nhưng uất ức quá mà khóc, khổ quá mà khóc, thương thân phận mình mà khóc. Khóc chán rồi nín, ai an ủi, ai dỗ dành? Mà những bụi tre của chị, của dân làng này là cái gì trong đầu óc mấy ông cán bộ lãnh đạo thôn xã, đến cái đình làng to nhất vùng, những cột gỗ lim đen bóng cỡ người ôm, được sơn son thếp vàng, thờ Thành Hoàng của làng, có cả sắc phong của nhà vua đỏ chói từ thời Lý Thái Tổ, ấy vậy họ còn cho dỡ xuống, cột thì dựng chuồng trâu hợp tác xã. Những tấm văn bia đem bắc cầu làm cầu ao rửa chân, thì mấy dãy tre của dân là cái đinh gì. Họ chặt là chặt, giờ những mái nhà của làng cứ trơ ra cùng mưa nắng. Đứng trên gò đất cao giữa làng nhìn những ngôi nhà như những cô gái quê không mặc quần, mặc váy, cũn cỡn, tông hông tồng ngồng đến vô duyên, bởi cả làng không còn bóng cây, những ngôi nhà không có bóng cây. Nhà chị tôi còn tệ hại hơn, cứ trơ ra bốn bức vách trát đất, những lỗ thủng gió thổi hun hút từ lỗ này qua lỗ khác. Chị chẳng buồn vá víu, lấy rơm tút nút lại, nom cứ như cái đầu thằng bùi nhùi. Còn đám tre họ vừa chặt, vừa lấy đi, chị cũng chẳng thiết giữ, may còn sót lại mấy chục cây, chị nhờ người bỏ xuống ao nhấn bùn ngâm. Nhờ vậy vừa qua anh Hưu có tre đó dựng căn nhà cho chị Mai. Chị tôi thì lúc nào cũng mở lòng với mọi người. Chị nói với anh:
- Có tre đó, ông đem lên dựng căn nhà cho dì nó. Mẹ con tôi ở thế này được rồi. Lo là lo cái ăn cái mặc cho con thôi, có đồng nào ông để dành đó, dì nó sắp sinh nở rồi!
Lòng chị là thế, nhưng mấy ai hiểu, bởi bản tính chị thật thà, có sao nói vậy, nghĩ sao làm vậy, không khéo mồm, khéo miệng như chị Mai nên luôn chịu thiệt thòi. Chị nguyện với lòng mình, cứ sống thật thà, chị tin ông trời có mắt, người hiền lành tử tế chẳng lẽ chịu khổ mãi. Chị tin một ngày các con chị lớn lên, chị sẽ hết khổ. Mà thời buổi này cả làng cả nước khổ, chứ đâu riêng mình chị khổ. Và chị chỉ còn biết cam chịu, những ngày giáp hạt đói vàng con mắt, cả làng ai cũng phải ăn độn khoai sắn. Trong nhà chị chỉ còn hai đấu gạo, cả tháng nay chị lại ăn toàn sắn khô, hai bầu vú teo lại, chẳng còn giọt sữa. Nửa đêm thằng nhỏ đói bụng ôm vú da của mẹ nhai riết. Không có sữa, nó khóc thét, rồi lại nhai tiếp, chị cắn răng chịu đựng. Chịu không nổi, chị cũng khóc, khóc vì da thịt đau đớn, vì thương con, vì thương thân phận mình! Cả đêm chẳng ngủ được, sáng ra nhịn đói vác cuốc ra đồng, người cứ lả đi, chị vẫn gắng gượng, chị sống vì hai đứa con. Lúc trước chị còn tham gia nuôi nửa con trâu, sau chị nhường lại một nửa, chỉ nuôi một phần tư. Năm kiếm được mấy chục ký thóc. Nhưng cực quá, sau này thằng Bàng đã khỏi nhiều, nó mới mười tuổi đầu, nhiều hôm bí quá, chị bắt nó dắt trâu ra đồng cho ăn cỏ, thằng bé bị trâu lôi ngã lên ngã xuống, khóc la làng, la nước. Một hôm nó bị con trâu lôi ngã xuống ao, may mà có người trông thấy, kéo lên dẫn về cho chị, nhờ vậy nó thoát chết. Nhìn con, chị đứt từng khúc ruột, thế là chị đem trâu giao trả hợp tác xã. Dạo này chị giao em cho thằng Bàng ở nhà trông nom, ngày nào chị cũng theo công hợp tác xã. Chị nhẩm tính vụ này được gần trăm công, nếu được mùa mẹ con chị cũng kiếm được hơn tạ thóc, có thiếu một hai tháng ăn độn thêm khoai sắn cũng đủ. Chị lo là căn bệnh ho hen hành chị thôi, chứ khỏe mạnh chị chẳng sợ.
Một hôm, đang ở ngoài đồng, chị thấy anh Hưu tất tả chạy tới, chưa đến đầu ruộng đã nghe tiếng anh:
- Dì nó trở dạ rồi, mẹ mày về ngay nhanh lên.
Nghe vậy, chị bỏ việc lên bờ, chẳng kịp rửa chân, cứ thế ba chân bốn cẳng chạy một mạch lên núi. Vừa bước vào sân đã nghe chị Mai kêu la, do có kinh nghiệm sinh nở, biết chị Mai chuẩn bị sinh, chị rửa vội tay chân và nói với anh Hưu:
- Bố nó đun cho tôi siêu nước.
Anh Hưu vừa xuống bếp một tý đã thấy thai nhi thòi ra cái đầu. Hai tay đỡ thai nhi, miệng la lớn:
- Bố nó đâu rồi? Lấy cho tôi con dao nhanh lên nào…
Anh Hưu chạy rối rít như gà mắc tóc, chẳng kiếm được con dao, anh quơ đại cái liềm dắt ở mái rạ. Bí quá, chị bảo anh Hưu rửa sạch cái liềm và chị dùng nó cắt rốn cho bé, trên gương mặt chị nở nụ cười rạng rỡ:
- Con trai rồi bố nó ơi! Vào mà coi con trai này…
Lúc này mấy bà hàng xóm mới chạy lại, ai cũng khen bà cả ông Hưu giỏi quá. Thời bấy giờ vùng quê tôi đâu cũng thế, bệnh xá còn chưa có, nói chi tới bệnh viện, đa số sinh đẻ tự lo, những người sinh nở dễ dãi thì tốt, ai khó sinh nhiều khi chết oan. Lúc này chị tôi bỏ cả công việc đem con theo, lên ở hẳn trên nhà cả tháng để giặt giũ quần áo, tã lót và tắm rửa cho thằng bé. Không khí gia đình có thêm tiếng cười. May mà thằng bé không bị thối rốn – do cái liềm gây ra – bây giờ người ta gọi là nhiễm trùng. Đúng là trời sinh, trời dưỡng, thằng bé hay ăn chóng lớn, chẳng bệnh tật gì.
Sau này chị tôi còn sinh thêm một thằng con trai nữa, chị Mai cũng sinh thêm một cháu gái, vị chi ba ông bà có tất cả sáu đứa con. Lăn lóc như củ khoai, nhưng rồi chúng cũng lớn lên, có điều cả sáu đứa con, chẳng đứa nào học qua lớp bốn, tạm gọi như biết đọc, biết viết vậy thôi. Sau này chúng cũng suốt đời cày sâu, cuốc bẫm như cha mẹ chúng. Có lẽ trời không nỡ phụ chị tôi. Đến năm mười lăm tuổi, thằng Bàng hết bệnh, đầu tóc mọc xanh trở lại, da dẻ săn chắc, nhờ nó uống nhiều thuốc, giờ khỏe mạnh như mọi đứa trai làng khác. Có điều cái thằng tính nết cộc cằn, nói nửa câu đã hết lời, hai mẹ con cứ cãi vã hoài. Anh rể tôi giờ đã ở tuổi sáu mươi, mái tóc bạc trắng, hai gò má tóp lại, nom anh như gốc vối già đen sạm. Giờ anh gần như ở hẳn với bà hai, mọi công việc bốn mẹ con chị tự xoay trở. Các con càng lớn lên càng phải chi tiêu nhiều, mà đồng tiền bát gạo kiếm ra ngày càng khó khăn. Căn nhà cũ kỹ ngày xưa càng dột nát hơn, nói là nhà vì có con người ở, kỳ thực chẳng hơn gì cái chuồng trâu, tài sản trong nhà chẳng có cái gì đáng giá mấy đồng bạc, chị mang trên người mấy bộ quần áo vá chằng vá đụp cùng chiếc nón lá rách tả tơi. Suốt một đời lam lũ, dãi nắng dầm mưa, đồng ruộng ngày một kém, thanh niên trai tráng lần lượt lên đường nhập ngũ, vào Nam đánh Mỹ, số còn lại cũng tìm đường đi công nhân, bỏ lại ruộng đồng cho mấy ông già, bà cả và phụ nữ co kéo. Những cánh đồng ngày xưa đầy ắp thóc lúa, giờ khô cằn, lúa chẳng ra lúa, ngô chẳng ra ngô, một công hợp tác xã không nổi ký thóc, lấy gì ăn. Con người thì càng nghĩ ra nhiều cách đối phó với nhau, tị hiềm ganh ghét… Chẳng qua cũng là do đói khát mà ra.
Một dạo quê tôi còn có chuyện cấm nuôi chó. Hợp tác xã cũng ra quy định trong vòng một tháng nhà nào có nuôi chó phải tự tiêu diệt, kể cả chó lớn chó con. Chị tôi có con chó đang lớn chừng bẩy, tám ký, đẹp và khôn lắm, nếu đem bán cũng mua được mấy đấu gạo, nhưng chị cứ tiếc đem giấu nó ở trong nhà. Nghe đội trưởng đội sản xuất phổ biến: “Đến hạn quy định, dân quân sẽ đi từng nhà kiểm tra, nếu ai còn chó sẽ đập chết và còn bị phạt năm ký thóc”. Hôm ấy, mới sáng sớm lúc chị chuẩn bị vác cuốc ra đồng thì nghe tiếng chó hàng xóm kêu ăng ẳng. Biết dân quân đi đập chó, chị liền dắt con vàng vào trong buồng xích lại. Nhưng chị tôi khờ quá, giấu cái gì thì được, chớ giấu sao được chó. Vừa nghe mấy anh dân quân bước vào sân, nó đã đánh hơi người lạ sủa ông ổng. Thế là một tay dân quân xộc vào nắm sợi dây xích lôi con chó xềnh xệch ra giữa sân, một tay khác cho nó mấy gậy, con chó giãy đành đạch vãi cứt vãi đái chết tươi. Chị vừa giận, vừa tức, của mình nuôi, họ đến tận nhà đập chết cũng phải chịu. Thời buổi này cứ cái gì có nghị quyết là không cãi được. Người ta bảo: “Chó chết hết chuyện”. Nhưng đâu có hết, chó chết rồi còn bị phạt năm ký thóc, tiếc đứt ruột đứt gan. Đã thế một tay dân quân ra đến cổng còn chạy lại:
- Bác ơi, cho em con chó nhé, chết rồi để làm gì mất công bác đem chôn…
Nghe họ nói chị vừa giận, vừa nực cười, cái thời buổi toàn quân ăn cướp. Thí cho chúng cho khuất mắt. Chị nghĩ vậy, giọng tỉnh queo:
- Đó chó đó. Mấy chú đem đi giùm.
Chỉ đợi có thế, tay dân quân cúi xuống lôi xác con chó đi, bỏ lại đống cứt chó nhày nhụa giữa sân. Chị lại mất công múc nước dội rửa cả buổi mới sạch. Hôm đó chị bỏ cả công việc ở nhà, vừa thương con chó, vừa giận bọn người tham lam vô lại.
Năm tháng trôi đi, thằng Bàng cũng đã hai lăm tuổi, hai thằng em đứa hai mươi, đứa mười tám, song cảnh nhà chẳng khá gì hơn. Cũng vẫn căn nhà cũ kỹ ngày xưa, giờ nó còn tồi tệ hơn, bởi cơm còn chẳng đủ ăn, tiền đâu sửa nhà, sửa cửa. May mà lúc đó có thằng cháu họ là cán bộ địa chất khai thác mỏ mãi tận Lào Cai, thế là chị cho hai thằng theo lên mỏ làm công nhân. Chị bảo: “Cho chúng nó đi làm kiếm cơm ăn, đứa nào có chí dành dụm mai sau còn lo vợ con, chứ ở nhà tiền đâu cưới vợ”.
Vậy là ở nhà chỉ còn chị và thằng Bàng. Nghe đâu thằng Bàng quen cô gái làng bên, gia đình cũng hiền lành tử tế, chị mừng lắm, nhờ người chọn ngày sạch sẽ qua nhà người ta, trước là để biết cửa, biết nhà, sau cũng là để thăm dò ý tứ và coi mắt nàng dâu tương lai. Nói chung chị chẳng có gì phải phàn nàn về gia đình bên ấy, chỉ có điều con bé hình như cũng chẳng có chữ nghĩa gì. Đời chị dốt chữ đã đành, chúng nó bây giờ cũng dốt sao? Nhưng chúng nó thương nhau, chị cũng cố gắng lo cho con “có giỏ, có bếp”. Nhưng tiền đâu làm đám cưới, gia tài duy nhất của chị còn lại đôi khuyên tai một đồng cân lúc chị lấy chồng mẹ tôi sắm cho, chị còn cất giữ. Những năm đói kém, chị cũng chẳng dám bán, bây giờ phải đem bán lấy tiền cưới vợ cho con; còn thiếu bao nhiêu vay mượn mỗi người một ít, mẹ con làm trả sau. Tính vậy, chị chọn ngày lành tháng tốt cưới vợ cho thằng Bàng. Ngày đám cưới con, chị chẳng có tấm áo dài mặc tiếp khách, vẫn tấm áo nâu cũ kỹ, cái quần đen bạc màu mưa nắng đồng quê, cùng cái dáng tất bật, cái lưng đã hơi còng xuống, duy chỉ có nụ cười lúc nào cũng tươi nở. Có lẽ vì thương chị, họ mạc gần xa đến dự đông đủ, người đỡ đần cối gạo, người thì năm đồng, mười đồng… cũng đủ trang trải một đám cưới nhà quê.
Cuộc sống mẹ chồng nàng dâu êm ấm được hơn một năm thì thằng Bàng giở quẻ xin ra riêng. Chị không bất ngờ, bởi dạo này chị đau ốm luôn, những cơn ho kéo dài bào mòn thân xác chị, tính ra vụ này chị thiếu công điểm hợp tác xã, còn vợ chồng nó thì đang sức dài vai rộng, sợ chị ăn bám vào chúng nó. Chị buồn trong bụng, mà không nói ra được. Thằng Bàng tính nết cộc cằn, lại gặp con vợ cứ lì lì ra, cái gì cũng tính hơn, tính thiệt. Thôi thì cứ cho nó ra riêng, mình chị làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, tới đâu tính tới đó. Thế là gần sáu mươi tuổi, suốt cuộc đời ăn đói, mặc rách vì chồng vì con, giờ lại sống cuộc đời cơm niêu, nước lọ. Chị cầu ông trời cho chị được chết sớm. Chị ước: Tối lên giường ngủ, sáng ra người ta đã thấy chị chết ngon lành, để chị khỏi phải nhìn thấy cõi đời nhiều bất công, ngang trái này. Lúc mới cưới vợ cho thằng Bàng chị vui mừng, mong sớm có cháu ẵm bồng. Giờ thì đã chán tất cả. Chị nghĩ: “Con nó còn chẳng thương mình, huống chi cháu? Nhưng lỗi này tại ai? Một phần cũng do chị và cả cha nó”. Ông ấy từ ngày một cảnh hai quê chẳng để ý gì đến nó, nhiều lúc chị nhắc ông ấy chú ý dạy dỗ nó, ông chỉ nói: “Ối dào, cầu cho nó khỏi bệnh, lớn lên khỏe mạnh là được rồi”. Tính nết nó ra sao ông chẳng để ý tới, chị vẫn nhớ câu ông bà xưa: “Bé không vin, cả gãy cành”. Giờ thì cành đã cứng rồi, uốn từ từ chứ biết làm sao? Đối với nó, thương cũng thương, mà giận cũng giận. Nhưng thôi, mai mốt nó có con, nuôi con vất vả cực khổ nó sẽ hiểu thế nào là công lao khó nhọc của cha mẹ. Vả lại, thằng ít chữ nghĩa, suy nghĩ nông cạn, có trách là trách người lớn chẳng làm gương cho con cái.
Hôm chia thóc ngoài sân kho, mỗi cha con có mấy chục ký thóc, vậy mà cha con cũng cãi vã nhau ầm ĩ, thật xấu hổ với thiên hạ. Chả là lúc chia thóc xong thì mặt trời cũng vừa lặn. Thằng Bàng nhanh chân quẩy gánh rơm về, lúc quay ra chưa tới sân kho thì trời đổ mưa lớn, anh Hưu mải lo chạy thóc của mình, quên không để ý tới đống thóc của thằng con. Thằng Bàng ra đến nơi thấy thóc của mình ướt sũng nước mưa, chả suy nghĩ, nó xối xả:
- Sao bố không chạy cho con với, thóc ướt thế này mọc mầm hết, lấy gì ăn?
Còn anh Hưu thì phân bua với con:
- Thóc của tao, tao chạy chưa xong, trời đổ mưa đến ào, sao tao chạy kịp… Thóc không lo, lo rơm.
Anh vừa nói vừa đấm lưng thùm thụp. Thằng Bàng chẳng nghe, nó nói cộc cằn
- Bố giờ đã có người lo, còn cần gì đến ai nữa…
Nghe nó nói anh Hưu giận quá:
- A, cái thằng con mất dạy!
Vừa nói anh vừa chạy tới, trên tay sẵn cái đòn gánh, anh phang cho nó hai cái. Tưởng nó nhịn, đâu ngờ nó hùng hổ quay lại giật cây đòn gánh của bố quăng ùm xuống ao. Nó giật mạnh đến nỗi anh Hưu lao đao suýt ngã. Chịu hết nổi, anh gầm lên:
- A, cái thằng nghịch tử, cái thằng con trời đánh!
Thấy vậy, mọi người xúm lại can ngăn, ai mới chịu về nhà nấy.
Lại nói về chị tôi, vụ này đau ốm luôn, bệnh ho hen hành hạ thân xác chị, vả lại làm lụng vất vả vẫn thiếu ăn, thiếu mặc, đau ốm chẳng có tiền thuốc men, người chị suy kiệt. Hôm rồi chị nhờ người nhắn hai thằng con trên Lào Cai có tiền gửi về cho chị mấy chục, đến cả tháng rồi mà chả thấy đứa nào nhắn về. Mấy hôm nay chị ốm phải nằm ở nhà không đi làm được, cũng chẳng ăn uống được, cái miệng cứ đắng ngắt, đã thế hợp tác xã lại vừa báo phạt chị hai chục ký thóc vì thiếu công điểm. Chị đã làm đơn xin vụ tới chị làm trả, nhưng Ban quản trị vẫn không đồng ý. Buổi tối, chị kêu thằng Bàng qua, chị nói với nó:
- Mẹ biết vợ chồng con thừa công điểm, con nói với vợ con bắn qua cho mẹ mượn hai chục công. Mai mốt khỏi ốm đi làm, mẹ bắn trả cho con. Cả vụ mẹ được có bảy chục ký thóc, trừ mất hai chục, còn năm chục, nếu tính hai thóc một gạo được khoảng hai chục ký, lấy gì ăn, đi ăn đong thì mẹ chẳng có tiền.
Chị nói chưa dứt, nó đã cướp lời:
- Thôi công ai làm người ấy hưởng, với lại vợ tôi đang có thai, sợ vụ này nó không đi làm được thiếu công lấy gì bù. Mẹ thì lo gì, nay mai hai thằng em gửi tiền về, vợ chồng tôi chỉ có hơn trăm công, làm gì có tiền!
Nghe con nói, chị cứ ngỡ tai mình nghe lầm, nhưng đó lại là sự thật. Một thằng con chị mang nặng đẻ đau, thuốc men nuôi nấng nó mười mấy năm trời để nó nên vóc nên hình rồi lo vợ con cho nó. Vậy mà bây giờ chị mới mở miệng nhờ nó một tí, không những nó không chịu, mà còn nặng nhẹ với chị. Thôi thế là hết, chị hiểu rằng sẽ không trông cậy gì ở nó nữa!
Đêm ấy chị không ngủ được, những cơn ho hen lại hành hạ chị, chị ngồi dậy quờ quạng tìm cây đèn dầu, rồi tìm hộp diêm bật lửa. Chị bật đến năm, sáu que diêm, chẳng cái nào chịu cháy, chị sờ trong hộp diêm còn một que cuối cùng. Chị cẩn thận đưa que diêm lên miệng hà hơi cho que diêm nóng lại, nhưng vừa hít hơi vào chưa kịp hà thì cơn ho tức thì kéo đến dồn dập. Chị ho như rút ruột, cạn kiệt hơi thở, chị buông hộp diêm nằm thở khò khè. Chị kêu trời, nhưng trời cao chẳng thấu, chỉ có vợ chồng thằng con trai đang ôm nhau ngủ ở đầu chái nhà đằng kia, nhưng nó chẳng hề biết chuyện gì đang xảy ra với mẹ nó, chỉ có tiếng gió thi thoảng va đập trên cành cây gáo phía đầu nhà và tiếng con chim cú mèo giật mình kêu thảng thốt.
Chị lại ngồi dậy, lần tìm hộp diêm, lần này thì que diêm đã cháy, nhưng khi chị mở được cái bóng đèn đưa que diêm vào đầu ngọn bấc, ngọn bấc mãi không cháy. Chị cầm cây đèn đưa lên ngọn lửa que diêm, thì ra cây đèn đã hết dầu! Chị chợt nhớ ra chai dầu đã hết từ mấy ngày nay, nhưng trong túi chỉ còn mấy đồng bạc, nên chị không dám bỏ ra mua, chấp nhận sống không dầu đèn. Vẫn biết “sống dầu đèn, chết kèn trống”, nhưng không tiền phải chịu, biết làm sao. Chị lần mò đặt cây đèn trở lại góc nhà rồi về giường nằm, đôi mắt nhìn vào khoảng đêm mênh mông đen kịt. Chị nhớ ra nay là ngày cuối tháng, ngoài trời không ánh trăng, làng xóm chìm trong cô tịch, không tiếng gà, không tiếng chó sủa, chị cảm giác một thế giới âm đang bao bọc vây bủa chị. Cuộc đời chị sao quá nhiều nhọc nhằn cay cực, sao ông trời lại quá nghiệt ngã với chị. Trọn cuộc đời này chị đã sống vì mọi người, cho mọi người để tìm hai chữ yên bình hạnh phúc. Vậy mà ở tuổi sáu mươi già nua bệnh tật, tiền không, gạo không, chồng con có cũng như không, bệnh tật chẳng ai lo… Vậy thì sống để làm gì nữa, sống thêm ngày nào càng khổ thêm ngày đó. Nhưng bằng cách nào! Không lẽ, không lẽ… Đau đớn, rã rời, chị trở mình quay mặt vào vách rồi thiếp đi lúc nào không hay, lúc mở mắt, vợ chồng thằng Bàng đã ra đồng. Chị ra bể múc nước rửa mặt, rồi trở lại ngồi xuống bậc thềm, căn nhà trống vắng lạnh tanh. Những giọt nước mắt chị lại lặng lẽ rơi. Chị ngồi bó gối, chờ đợi xem anh Hưu có về không, hôm qua chị có nhờ hàng xóm nhắn chị ốm nặng, nhờ anh về ra chợ Núi bốc dùm mấy thang thuốc, mai kia còn lấy sức đi làm, chớ cứ quặt quẹo mãi thế này bỏ công điểm lại còn bị hợp tác xã phạt nữa lấy gì ăn. Nhưng chị càng trông càng mất, mãi lúc mặt trời lên cao có người hàng xóm chạy qua nói: “Bà hai của ông Hưu vừa đi ngang qua đây nhờ nói với bà là ông ấy không xuống được, mấy đứa nhỏ trên ấy cũng đang cảm cúm, bà tự đi mà bốc thuốc”.
Thế là nỗi thất vọng của chị đã tới tột cùng. Chị cũng chẳng trách ai nữa. Có chăng là tự trách mình đã sống quá tốt. Chị đau ốm bệnh tật thế này mà người đàn bà ấy đi qua cổng cũng không thèm ghé qua, dù chỉ là một lời đãi bôi cũng làm chị đỡ tủi lòng. Cuộc đời chị thế là hết. Chị phải tự lo liệu cho mình, nhất định không để mình phải khổ thêm một ngày nữa. Chị trở vào nhà soạn lục trong mắc áo chọn lấy bộ đồ tinh tươm nhất, rồi ra bể nước tắm gội, thay đồ. Chị đi một vòng quanh khu nhà, rồi trở lại bàn thờ ở gian giữa nhà tìm nén hương, nhưng hương cũng chẳng còn nén nào, hộp diêm quẹt cũng đã hết tự tối qua. Chị lặng lẽ vái lạy ông bà tổ tiên. Chị nghe đâu đó từ cõi xa xôi vọng về câu Kiều: “Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh…” Chị xuống bếp kiếm chai thuốc gì đó, mở nắp uống một hơi. Uống xong, chị trở về giường nằm chờ đợi.
Vào khoảng chín giờ sáng, người chị họ bên chồng ở cạnh nhà chạy qua, cửa nhà vẫn mở, nhìn trước nhìn sau không thấy ai, cất tiếng gọi:
- Bà Bàng ơi, bà Bàng!
Không có tiếng đáp lại. Người chị chồng linh cảm có điều chẳng lành, vội vàng bước vào trong nhà, mùi thuốc rầy bốc lên nồng nặc, trên giường chị tôi nằm bất động, bọt mép sùi ra chảy xuống hai bên má.
Mọi người nghe tiếng la hét chạy lại, chị chỉ còn thở thoi thóp. Thấy vậy, người đi tìm chặt cây, người lo mượn võng làm cáng đưa chị đi bệnh viện huyện cấp cứu. Nhưng tất cả đều đã quá muộn, ra khỏi nhà chừng hơn cây số, chưa tới đầu chợ Núi, chị đã hoàn toàn tắt thở. Thi thể chị được đưa trở về đặt ở gian giữa nhà. Chị nằm đó, chưa có ván khâm liệm, chưa có nén nhang để thắp. Sái quá! Chả là cửa hàng mậu dịch duy nhất ngoài chợ Núi hết ván (quan tài), người ta phải xuống tận phố huyện cách đó bảy cây số mới mua được cỗ áo quan bằng gỗ tạp, nứt ngang, nứt dọc, chuyển về đến nơi trời đã gần tối. Chẳng thầy chùa, chẳng tụng kinh, người ta vội vàng đưa chị vào quan tài đóng nắp lại, khiến mọi người ai cũng phải rơi nước mắt. Những giọt nước mắt ngậm ngùi cho số phận chị tôi – người đàn bà bạc mệnh, khổ đau. Cái khổ đeo đẳng chị cho đến lúc chết vẫn còn khổ. Có lẽ vì vậy mà dân làng Tam Ái này ai cũng có mặt đông đủ để đưa tiễn chị về nơi an nghỉ cuối cùng. Người ta đi vì thương chị và còn vì một lẽ hiếu kỳ: Đến để xem cái nhà ấy thế nào? Quanh quan tài chị cũng đủ mặt: Ông Hưu chồng chị, bà Mai vợ bé của chồng chị, con trai, con con dâu và cả con của bà bé, nhưng nó lạnh lẽo làm sao, thê lương làm sao. Trên những vành khăn tang trắng ấy như những con số không tròn trĩnh, một đám ma rúng động cả làng Tam Ái.
Người chết đã yên phận, nhưng người còn sống sẽ chẳng bao giờ được yên ổn bởi tiếng đời mai mỉa. Người anh rể tôi giờ đã ngoài tám mươi tuổi, ông vẫn còn sống ở làng Tam Ái. Người ta bảo: “Đa thọ tắc đa nhục”, nhưng nhục-vinh là ở lòng ta, thiện-ác cũng là tự ở lòng ta. Sống lâu để được hưởng vinh hiển, nhưng nhiều khi sống lâu cũng là sự quả báo của ông Trời!
Quê nhà, 1986. Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.
Nguồn: Chuyện của hai người đàn bà. NXB Văn học sắp xuất bản.
|