Vương Kiều
(Tình cừu)
Thân Thuần, tên tự là Hậu Khanh, người ở Tổ Biện, theo cha đến ngụ ở Thành đô. Chàng thiên tư trác việt, đương thời ít ai sánh bằng. Khoảng năm Tuyên Hoà (1119-1125), đi thi không đỗ, buồn quá, ở nhà hơn một tháng, nhân đi sang bên quận láng giềng để thăm cậu là viên thông phán họ Vương. Người cậu đưa sinh vào trung đường chào mợ, lại gọi con trai là Thiện Phủ ra chào sinh, Thiện Phủ mới lên bẩy tuổi. Đoạn lại sai thị nữ Phi Hồng vào gọi con gái là Kiều nương ra nữa. Phi Hồng vào một lúc rồi ra ghé vào tai Vương phu nhân nói nhỏ, bảo cô con chưa kịp trang sức, xin miễn cho việc ra chào. Phu nhân tức giận mà nói:
- Vào bảo anh ba(1) đây là người trong nhà, xuềnh xoàng thế nào ra chào chẳng được, sao mà vẽ sự thế!
Sinh nghe vậy thưa rằng:
- Nếu em con đương bận gì, xin để lúc khác cũng được.
Phu nhân cười:
- Có bận gì đâu. Chả em nó vừa mới tắm xong, chưa kịp trang điểm.
Lại sai con hầu khác vào giục. Một lúc, Kiều từ cái cửa nách bên tả ra chào. Đôi mái tóc xanh biếc như mây, đoạt cả hình mỹ nhân đứng trong bức vẽ. Phấn son chưa trang điểm mà một vẻ đẹp thiên nhiên đã lộng lẫy khác thường. Sinh trông thấy bất giác bàng hoàng không định. Sau khi chào hỏi, Kiều đứng bên cạnh mẹ. Sinh để mắt nhìn kỹ, càng thấy lay động cả tâm hồn. Phu nhân cười bảo:
- Anh Ba từ xa lại đây, chắc là nhọc mệt, vậy nên đi nghỉ ngơi một chút.
Nhân đưa sinh đến nghỉ ở cái biệt quán phía đông, cách nhà giữa hơn hai mươi bước. Sau khi về quán, lòng công danh của sinh tiêu tan đi hết, ngày đêm chỉ tơ tưởng nàng Kiều. Cậu mợ vì nghĩ sinh lâu lắm mới gặp, nên mời sinh ở lại một cách ân cần, sinh cũng rất mừng được lưu lại, mong có dịp sẽ được tỏ tình cùng người ngọc. Ngày thường đi lại ra vào, tuy cũng có nhiều lúc gặp Kiều, nhưng sinh chưa dám nói với nàng một câu nào cả. Lâu ngày xét rõ những động tĩnh, cử chỉ cười nói, thấy nàng như có một vẻ gì băn khoăn; muốn kiếm dịp tỏ tình nhưng chưa được tiện.
Một buổi tối, Kiều thơ thẩn một mình ở ngoài khung cửa sổ buồng thêu mắt nhìn đắm đuối vào bông hoa trà my hồi lâu không chớp. Sinh rón bước đến sau lưng mà Kiều không biết; Kiều bỗng cất một tiếng thở dài. Sinh nhân dịp ấy khẽ hỏi:
- Sao em thở dài thế? Chắc có nghĩ ngợi sự gì chăng?
Kiều không trả lời, lúc lâu mới nói rằng:
- Anh từ đâu mà đến đây vậy? Trời đã tối mù, hơi xuân lạnh ngắt, anh không biết hay sao?
Sinh biết Kiều có ý cự mình, nhân đáp:
- Vâng, xuân lạnh đã cố nhiên rồi.
Kiều nhìn thẳng rồi rón rén đi. Sinh cũng thẩn thơ về quán. Sau đó có những dịp cùng nhau trò chuyện, sinh hơi đá đến giọng quanh queo, Kiều lại trang nghiêm nét mắt như không thể phạm được. Sinh cho là vì Kiều hãy còn ít tuổi, chưa hiểu gì hết, nên cũng không để ý nữa.
Một hôm, nhà cậu có một người cháu khác đến chơi, bầy tiệc khoản đãi, thân sinh cũng dự tiệc. Rượu đến nửa vời, người mợ đứng lên rót rượu mời người cháu kia, và rót cho sinh nữa, nhưng sinh từ chối. Mợ nói:
- Anh vẫn uống được, sao hôm nay không uống say đi cho vui.
Sinh nói:
- Vì cháu thất chí về đường công danh, vả lại đã lâu vẫn như ốm yếu, nên không thể uống được.
Mợ chưa đáp thì Kiều nói xen vào:
- Anh ba hình như không uống được nhiều rượu; nên thôi là phải.
Mợ ngừng tay không rót nữa, lùi đến rót rượu cho chồng. Lúc ấy ngọn sáp ở trước mặt thân sinh bấc thò dài lên nên tối mò, Kiều rén bước đến cạnh cây sáp, lấy tay búng cái đầu bấc đi, nhân liếc nhìn sinh và khẽ nói:
- Không có em hôm nay thì anh được mà say khướt.
Sinh tạ rằng:
- Ơn ấy anh sẽ phải ghi vào gan ruột.
Kiều mỉm cười:
- Thế mà là ơn ư?
Nói chưa dứt lời thì mẹ bảo vào lấy ít nước tráng chén. Kiều đi vào. Từ đấy sinh lại lưu ý.
Một buổi tối, Kiều ngồi một mình ở trong hiên "Tiếc Hoa" bên cạnh trung đường. Sinh chợt đến, thấy Kiều tựa mình bên lan can, không nói gì hết. Bấy giờ trong vườn có mấy cây mẫu đơn, hoa nở nửa vời chúm chím, sinh bèn lấy bút viết hai bài tứ tuyệt để cợt ghẹo rằng:
I
Khói nhạt lơ mơ toả mái tường.
Màu hồng khẽ hé ánh chiêu dương.
Lòng thơm một điểm nguyên phong kín,
Kệ kẻ nương lan luống đoạn trường.
II
Màu non chất đẹp mặn mà tươi,
Lặng lẽ dường ôm mối hận dài
Khá trách Đông quân không đoái tưởng.
Tiếc hoa riêng để nặng lòng ai.
Kiều được thơ, ren rén đi trong mái hiên mở xem, nhưng chưa xem hết thì đã nghe thấy tiếng mẹ gọi, vội vàng cất giấu trong tay áo, rảo bước vào nhà. Sinh buồn rầu không biết lấy gì để khuây khoả nỗi lòng, nhân làm một bài tứ tuyệt đề ở trên cửa sổ về phía tây cái quán mình ở.
Bài thơ rằng:
Nắng rọi thềm hoa, chợt cựa mình,
Nhìn làn hương khói gió rung rinh.
Ngọc tiêu thổi khúc nghê thường đoạn,
Tiếng phượng hay là đó tiếng oanh?
Nguyên văn:
Nhật ảnh oanh giai thuỵ chính tinh
Triện yên như lũ ngọ phong bình
Ngọc tiêu xuy tận nghê thường điệu,
Thuỳ thức oanh thanh dữ phượng thanh.
Sau hai ngày, cậu sinh đi vắng, Kiều thừa lúc sinh không có ở trong quán, sẽ lén vào chơi. Trông thấy trên cửa sổ có bài thơ đề của sinh, Kiều bâng khuâng ngẫm nghĩ hồi lâu, biết là sinh có gửi tình ý ở trong đó, nhân cầm bút lấy giấy, viết một bài thơ hoạ vần để tỏ ý mình:
Nặng trĩu sầu xuân khó trở mình,
Giọt rồng trong gió động rung rinh.
Hồn tan bao nả khi vùng dậy,
Hoa rụng, cành trơ, thỏ thẻ oanh.
Nguyên văn:
Xuân sầu áp mộng khổ nan tinh,
Nhật quýnh phong cao lậu chính bình.
Hồn đoạn bất kham sơ khởi xứ.
Lạc hoa chỉ thượng hiểu oanh thanh.
Sinh về quán, thấy bài thơ hoạ của Kiều, thật là một sự mừng rỡ quá với lòng mong đợi. Song lúc gặp mặt, dùng lời nói khêu gợi thì nàng lại hoặc đáp hoặc không, chợt gần chợt lảng, không hiểu ý tứ ra thế nào.
Một hôm nhà cậu mợ mở tiệc, ăn uống từ trưa mãi đến tối. Sau lúc tiệc tan, cậu mợ đã lui vào nhà trong đi nghỉ, sinh hãy còn một mình ngồi ở trung đường. Vừa toan đứng dậy xuống nhà, chợt thấy nàng Kiều đến, rút cành thoa cài trên mái tóc phía tả, khơi nhóm lại lò hương. Sinh nhân nói:
- Đêm khuya người sắp đi ngủ, còn nhóm lò hương làm gì nữa?
Kiều nói:
- Hương quý ở còn mãi, không nên vì khuya mà bỏ lạnh.
Sinh nói:
- Hương lạnh nhưng còn có cả lòng là đủ rồi.
Kiều không trả lời, thủng thỉnh đi ra cửa mở rèm trông trăng. Bấy giờ trăng sáng như ban ngày, nàng gọi con hầu Tiểu Tuệ đem giấy bút ra để nàng vẽ mặt trăng chơi; chợt ngoảnh bảo sinh rằng:
- Trăng lên thế kia thì đêm độ chừng nào hở anh?
Sinh cũng ra mở rèm xuống thềm, ngẩng trông bầu trời và nói:
- Sao Chức Nữ sắp xế, đêm khuya lắm rồi!
Chàng lại nói:
- Trăng trong gió mát, đêm đẹp này tính sao?
- Tô Đông Pha sao mà nặng tình quá vậy?
- Tình còn nhiều khi nặng hơn như thế nữa, sao đã vội lấy thế mà cười Đông Pha?
- Thế mà sao tôi lại riêng không?
- Nếu thực như vậy thì sao trong câu thơ có chữ nặng trĩu? Cái gì nó làm cho nặng trĩu đến nỗi khó trở mình vậy?
Câu chuyện dần trở nên suồng sã. Kiều chợt bước đến gần sinh nói:
- Người ta vẫn nói Chức Nữ ở bên sông Ngân Hà, vậy sao Chức Nữ chỗ nào anh?
Sinh thấy Kiều chợt đến gần mình, tinh thần bàng hoàng bối rối, chưa kịp trả lời, bỗng ở trong nhà có tiếng bà mợ hỏi: "Kiều đi ngủ chưa? " Kiều vội vàng lén trốn vào mất. Ngày hôm sau sinh nhớ lại việc đêm trước, cảm thấy mình như có được một cái gì, hơi thấy thoả lòng đôi chút. Nhưng lại nghĩ nông nỗi thường bị ngăn trở, lòng lại bứt rứt, bèn làm một bài từ theo điệu "Mộc lan hoa bớt chữ" như sau:
Đêm xuân tiệc ngọc
Rượu cạn canh khuya người mỏi nhọc
Chiếc bóng nhà lan
Bỗng thấy tiên nga đến nhẹ nhàng
Lò trầm nguội ngắt.
Tay ngọc thêm hương khơi lửa tắt.
Chức Nữ sao tà
Gió mát trăng thanh đêm nõn nà
Nguyên văn:
Xuân tiêu bồi yến
Ca bãi tửu lan nhân chính quyện
Nguy toạ trung đường
Thúc kiến tiên nga xuất đỗng phường.
Bác sơn hương lẫn
Tố thủ trùng thiêm ngân lậu vĩnh
Chức Nữ tà trà
Nguyệt bạch phong thanh lương dạ hà?
Sớm hôm sau sinh dậy đi vào nhà trong, lúc trở ra thì gặp Kiều ở cái buồng nhỏ phía tây trung đường, đương soi gương vẽ mày chưa xong. Sinh đến gần hỏi Kiều:
- Cái mực vẽ mày này, có phải là những cái bấc đèn cháy tàn không em?
Kiều nói:
- Đó là những cái hoa đèn em để ý cóp nhặt lại.
- Cho anh xin một nửa để anh viết bức thư gửi về nhà nhé?
Kiều bảo sinh sẻ lấy. Sinh vừa thò tay thì bị hoen nhọ cả, nhân bảo Kiều rằng:
- Em đã cho thì sẻ hộ anh chứ lại còn bắt anh phải nhọ tay ư?
Kiều nói:
- Vâng, đã cho anh thì còn quản gì một chút khó nhọc!
Nói rồi lấy ngón tay quệt một nửa than đèn tặng sinh, đoạn lại kéo áo sinh chùi chỗ tay nhọ mà nói:
- Anh được cái này, chả nhẽ không phải bận mình chút nào ư?
Sinh cười:
- Vâng, tôi xin giữ lấy vết nhọ này để làm kỷ niệm.
Kiều biến sắc mặt:
- Em có ý gì khác đâu, sao anh lại nói đùa như vậy!
Sinh thấy Kiều biến sắc, sợ mợ biết chuyện, vội vàng đi ra, về quán cất kỹ gói than đèn vào trong lòng gối. Từ đấy lòng sinh xao động, không một khắc nào quên Kiều được. Đêm đêm ngồi một bóng dưới đèn, trong lòng bứt rứt, nghĩ muốn thử liều một phen để bầy giãi tấm tình với Kiều xem sao.
Một hôm vào tiết mộ Xuân, khí trời giá lạnh, Kiều đương ngồi sưởi một mình bên lò lửa, sinh tay bẻ một cành hoa lê từ ngoài đi vào. Kiều không đứng dậy đón chào sinh, sinh bèn ném cành hoa xuống đất. Kiều giật mình trông, sẽ đứng dậy nhặt lấy cành hoa và hỏi sinh rằng:
- Sao anh lại vất bỏ cành hoa này thế?
- Mắt hoa đẫm lệ, biết rằng hoa để ý vào ai mà tôi chẳng vất!
- Hoa đã có chúa xuân là chủ, mình yêu hoa thì bẻ một cành mà chơi là đủ, sao anh lại đòi hỏi ở hoa quá nhiều như vậy!
- Nhưng hoa đã có khi nhận lời với tôi.
Kiều cười:
- Hoa nhận lời với anh thế nào?
- Nghĩ lại thì biết.
Kiều không trả lời, bảo sinh rằng:
- Gió thổi lạnh lắm, anh ngồi đây cùng sưởi cho ấm.
Sinh vui vẻ ngồi xuống, cùng Kiều sóng đôi chỉ cách nhau độ hơn một thước. Kiều nhân vỗ vào lưng sinh nói:
- Áo anh có dầy không? Phải mặc nhiều áo chả khí lạnh nó ngấm vào người.
Sinh sửng sốt nói:
- Em đã nghĩ đến sự anh rét, sao không nghĩ đễn nỗi đoạn trường của anh?
Kiều cười:
- Anh có sự gì mà đoạn trường, hãy kể với em để em lo tính đỡ cho?
Sinh nói:
- Anh không nói đùa đâu. Từ sau khi gặp em, anh đã hồn xiêu phách tán, đêm nào cũng không ngủ được. Nhưng em cứ cho là câu chuyện nói đùa, để biết lòng em thế nào. Anh thường xem ngôn ngữ cử chỉ, thấy em không phải là người vô tình. Nhưng đến khi anh tỏ giải cái thâm tình ra, thì lại bị em biến sắc mặt mà cự. Anh tự xét cái thân hèn mọn của mình, không đáng cho em để ý tới. Vậy hôm nay đến nói với em một lời, để rồi sẽ xin từ biệt. Em đừng nên đùa nhau một cách đau khổ mãi nữa.
Kiều ngùi ngùi một lúc rồi nói:
- Đó là anh không rõ em đấy thôi. Em tuy không dám nói ra, nhưng em đã biết rõ lòng anh lâu rồi. Không phải là cố muốn làm cao với anh, chỉ vì sợ rằng yêu nhau mà không được vẹn tròn trước sau, thì rồi sẽ phải mang những nỗi đau khổ. Trong mấy tháng nay, em chẳng còn để ý đến công việc gì cả, đêm quên ngủ và ngày quên ăn, chẳng qua anh không biết đấy thôi.
Nhân lại thở dài nói:
- Anh ngờ oan em lắm. Vậy công việc sau đây, anh hãy trù tính, nếu không thành, em xin đem một chút để tạ lòng anh.
- Nếu em quả cũng có lòng yêu anh, xin nghĩ giùm cho anh một kế trong công việc đó.
Kiều chưa kịp trả lời thì cậu sinh chợt đi đâu về, sinh vội vàng lảng ra đón cậu, còn Kiều thì lánh vào nhà trong.
Lại qua hai ngày, hôm đó sinh dậy rất sớm, đứng một mình thơ thẩn ở trong cửa sổ, không biết lúc ấy Kiều cũng đã dậy, đương ngồi trong cửa sổ nhà trên điểm phấn tô son. Sinh ngâm hai câu thơ của Tô Đông Pha:
Hàng xóm gà đừng khua tỉnh vội.
Khoan cho tàn mộng đến Giang Nam.
Nguyên văn:
Vị báo lân kê mạc kinh giác
Cánh dung tàn mộng đáo Giang Nam.
Kiều nghe sinh ngâm xong, từ trong cửa sổ gọi sinh mà bảo:
- Chừng anh nhớ quê nhà lắm chăng?
Sinh nhòm vào cửa sổ nói:
- Ruột gan đứt hết, anh chỉ còn có một cách về.
- Thế anh không nghĩ gì đến em ư? Nếu đã như vậy thì trước kia tha thiết với nhau làm gì!
Sinh cười:
- Anh không nghĩ đến em thì nghĩ đến ai! Chỉ vì em đã làm khổ anh nhiều lắm. Vậy giờ em bảo anh thế nào?
Kiều nói:
- Ban ngày lúc nào cũng có người, không làm gì được. Mái đông hiên là chỗ tiếp liền buồng ngủ của em. Phía tây hiên ấy có cái cửa nhỏ đi thông sang nhà Hy Xuân. Bên ngoài nhà Hy Xuân có giàn hoa trà my; buồng ngủ của anh chính ở cạnh giàn hoa ấy. Tối hôm nay nếu trời tạnh ráo, anh nên trèo qua cửa sổ con ở buồng ngủ, luồn qua giàn trà my, đến phía dưới nhà Hy Xuân. Chỗ ấy cây cối rậm rạp mà không có ai qua lại, em sẽ ra đấy gặp anh để nói chuyện.
Sinh nghe nói rất là mừng rỡ. Suốt ngày hôm ấy chỉ mong trời chóng tối để đến chỗ hò hẹn người yêu. Chẳng ngờ chập tối, trời bỗng đổ xuống một trận mưa to chỗ bụi cây lầm lội ướt át, không thể nào như hẹn được. Sinh buồn rầu bứt rứt, nhân làm một bài từ để tả nỗi buồn khổ như sau:
Sớm ngày vẳng lặng song hoa.
Gặp nhau muốn ngỏ thiết tha nỗi lòng.
Mày xanh đôi nét cong cong.
Đựng xuân: một cặp môi hồng thắm tươi.
Hẹn nhau đến chỗ vầy vui,
Buồn sao một trận mưa rơi bất tình.
Chăn đơn gối lẻ một mình.
Đèn khêu hết bức năm canh chưa tàn.
Nguyên văn:
(Điệu ngọc lâu xuân)
Hiểu song tịch tịch kinh tương ngộ
Dục bả phương lâm thâm ý tố
Đê my liễm thuý bất thăng xuân
Kiều chuyển anh thần hồng bán thổ
Thông thông dĩ ước hoan ngu xứ
Khả hận vô tình liên dạ vũ
Trẩm cô khâm lãnh bất thành miên.
Khiêu tận tàn đăng thiên vị thự.
Sớm mai trở dậy, sinh gặp Kiều ở chỗ mợ, cùng nhau đi vào trung đường, đưa bài từ mới làm ban đêm cho Kiều xem. Kiều khẽ cười mà nói:
- Việc tốt hay lỡ, lẽ thường vẫn thế. Nhưng em đã hẹn anh, rồi sẽ kiếm một dịp khác vậy.
Ngày hôm ấy, sinh theo hầu cậu sang nhà láng giềng uống rượu, đến tối say khướt về nhà, nhớ câu nói của Kiều ban sáng bảo sẽ kiếm một dịp khác, tưởng Kiều chưa đã đến, bèn lên giường trùm chăn ngủ kỹ. Chợt Kiều rón bước đến ngoài cửa sổ sẽ gọi; nhưng gọi mấy câu sinh vẫn không tỉnh, nàng buồn rầu trở về, lại ngờ sinh hờ hững với mình.
Hôm sau, Kiều đòi sinh nếu thật yêu nàng thì phải minh thệ. Sinh bèn cắt một mọn tóc và viết lời thề vào mảnh giấy đưa Kiều. Kiều cũng cắt tóc viết lời thề để trao cho sinh. Hai người đã mến thương nhau một cách nồng nàn, nhưng vẫn không có dịp nào tiện để cùng nhau tình tự.
Một hôm sinh nhận được thư nhà, nói có người chú là Tấn nộp thóc vào kho, được lĩnh một chức quan võ ở Lãng châu, vì sinh thạo về cung mã, nên gọi về để mang theo đi phó nhậm. Kiều được tin buồn lắm, làm một bài thơ để tiễn hành:
Lá biếc um cây, hoa đỏ thưa,
Xuân về buồn bã, tiếng quyên đưa.
Tương Như nghìn dặm đi đi biệt,
Có biết Văn Quân mắt lệ mờ?
Nguyên văn:
Lục diệp âm nùng hoa chính hy
Thanh thanh đỗ vũ khuyến xuân quy.
Tương Như thiên lý du du khứ.
Bất đạo Văn Quân lệ thấp y.
Sinh được thơ hoạ vần để đáp lại rằng:
Màn vây trướng rủ bướm bay thưa,
Tư mã buồn xuân lúc én đưa,
Nhắn nhủ Văn Quân bền dạ đợi,
Điệu ca xưa chớ để lu mờ.
Nguyên văn:
Mật ốc trùng vi vũ điệp hy.
Tương Như chỉ khủng yến tiên quy.
Văn Quân vị ngã kiên tâm thủ,
Thả mạc khinh biền kim lũ y.
Sinh áy náy về câu lá biếc um cây trong bài thơ của Kiều, nhân lại làm một bài từ đưa cho Kiều như sau:
Yêu hoa những khổ vì hoa,
Lầu tây hôm sớm vào ra mấy hồi.
Biệt ly đau đớn lòng tôi,
Non sông nghìn dặm, mây trời ba thu.
Vườn đông cành liễu buông tua
Nhắn nhe liễu giữ gìn cho, đợi người.
Riêng e một buổi trùng lai.
Xanh um lá rậm cho người ngẩn ngơ.
Cành mai quả đã mau thưa,
Hờn ôm biết đến bao giờ cho khuây!
Nguyên văn:
(Điệu tiểu lương châu)
Tích hoa trường thị thế hoa sầu
Mỗi nhật đảo tây lâu
Như kim hà huống
Phao ly khứ dã
Quan sơn thiên lý
Mục đoạn tam thu
Mạn hồi đầu
Ân cần phân phó đông viên liễu
Hảo vị quản chi nhu
Chỉ khủng trùng lai.
Lục thành trùng lai
Lục thành âm dã
Thanh mai như đâu
Cô phụ Lương châu
Hận du du
Kiều biết sinh ngờ mình, bèn cùng làm một bài từ để đáp lại:
Anh đi, đi có kỳ về,
Đường xa dù cách sơn khê dặm nghìn.
Đừng lo lá rợp ba niên,
Dù năm năm vẫn hoa nguyên trên cành.
Ngại chi chậm muộn tin lành,
Nguyện xin bền giữ tấm tình đôi ta.
Nguyên văn:
(Điệu bốc toán tử)
Quân khứ hữu quy kỳ
Thiên lý tu hồi thủ
Hưu đạo tam niên lục diệp âm
Ngũ tải hoa y cựu
Mạc oán hảo âm trì
Lưỡng hạ kiên tâm thủ
Tam chích đầu nhi thập cửu oa,
Một cá tu giáo hữu.
Sinh về đến nhà thì người chú lại vì một cớ riêng không đi lĩnh chức. Sinh ở nhà, từ lúc đi đứng, lúc nằm ngồi, cho đến lúc ăn, lúc uống, không một lúc nào quên Kiều được, lần lần rồi đến thành bệnh. Sinh nói thác xin sang nằm nhờ nhà cậu để tiện mời thấy thuốc chữa. Song sang đã mấy ngày, vẫn không có dịp nào để nói được với Kiều một câu. Bệnh sinh dần nặng đến bỏ cả ăn uống, cậu mợ sinh đều rất lo sợ. Mời các thầy lang đến chữa, người nào cũng nói là vì sinh thất ý về đường công danh, cho nên buồn rầu thành ốm; rút lui. Vẫn không ai biết rõ được lòng Sinh cả.
Sau mấy bữa, bệnh sinh bớt được đôi chút. Một hôm cậu đi chơi vắng, sinh trở dậy gượng nhẹ đi ra ngoài sân. Đương đứng thẫn thờ thì bỗng chốc Kiều đến sau lưng, sinh bất giác giật mình. Kiều nói:
- May được lúc bọn con hầu chúng đi vắng cả, em mới tiện đến đây thăm anh đau yếu thế nào.
Sinh trông chung quanh không có ai, nhân kéo áo Kiều định nói chuyện. Kiều nói:
- Chỗ này là một cái sân rộng bốn bề trống trải không tiện, nên vào trong buồng anh thì hơn.
Sinh theo lời, hai người cùng vào. Vừa đến cửa, chợt có hai con chim én đánh chọi nhau sa cả xuống đất, Kiều bỏ sinh để chạy đến xem. Chợt con thị nữ của cậu là Tương Nga ở đâu đến đứng trước mặt Kiều, Kiều tái người. Sinh nhân thế lảng đi chỗ khác.
Đến tối, cùng họp mặt cả ở trung đường, Kiều bảo sinh rằng:
- May có đôi chim én sa, nếu không, con Tương Nga nó bắt gặp em đương ở trong buồng anh thì chết, thật là lòng trời run rủi.
Một hôm buổi chiều, Kiều lựa dịp đến buồng sinh, bảo sinh rằng:
- Ngày nọ, em hẹn anh cái chỗ ở gần nhà Hy Xuân, nhưng nay nghĩ kỹ, cũng không phải là chỗ vững chắc. Cứ cái chỗ ấy, có thể đến thẳng buồng ngủ của em được. Thường thì buổi tối có hai con hầu, hầu hạ em ở trong buồng ngủ. Hôm nay em kiếm kế sai chúng nó đi ra ngoài cả, còn con bé con Tiểu Tuệ thì không cần. Nửa đêm anh lén đến, em xin mở cửa sổ ngồi đợi.
Sinh nói:
- Kế ấy hay lắm, nhưng chẳng cũng nguy hiểm lắm ư?
Kiều biến sắc mặt:
- Việc đến như thế, anh còn sợ gì nữa! Người ta sống ở đời, như bóng bạch câu qua cửa sổ. Mà sự chung tình đến như hai chúng ta là cùng. Nếu việc lỡ xẩy thế nào, chúng ta còn tiếc gì một cái chết!
Sinh nói:
- Em đã nghĩ vậy, anh còn phải phàn nàn nỗi gì!
Đêm hôm ấy ước đến gần nửa, sinh do cửa sổ đi ra, vòng quanh phía sau nhà độ trăm bước, đến bên giàn trà my, rồi lần tìm lối mãi không thấy, trong bụng đã sợ. Lúc lâu mới tìm ra được lối, đi đến nhà Hy Xuân. Nếp nhà này rộng lớn, đêm khuya vắng lặng không có tiếng người, sinh bàng hoàng sợ hãi. Bước vào nhà này, trông sang buồng Kiều thấy cửa sổ bỏ ngỏ, Kiều ngồi tựa ghế, mình mặc áo lụa hồng, quần nhiễu trắng, đương ngẩng đầu trông trăng, nét mặt nặng trĩu lo buồn, không biết là sinh đến. Sinh đến bên cửa sổ bước vào. Sinh chợt trông thấy, vừa sợ vừa mừng nói:
- Anh đến mà sao không bảo, làm em sợ hết hồn.
Sinh bèn lấy ghế ngồi sát bên cạnh Kiều, một lát, dắt tay nhau vào màn cùng ngủ...
Rồng mây cá nước, thoả tấm lòng khao khát bấy nay. Trong lúc ấy, sinh bị một giọt đỏ của Kiều dây vào tay áo. Kiều cắt lấy cất đi mà nói:
- Để dành làm của tin sau này.
Sau đó một lúc, hồ đồng sắp cạn, tiếng gà đã xao xác gáy mau. Kiều giục sinh về và dặn rằng:
- Nay về sau nếu khi ban ngày gặp nhau, anh đừng có nói bông đùa gì đấy nhé.
Nàng nhân làm một bài từ đưa tặng sinh rằng:
Song sa mở lén đêm thanh,
Trên đào đề cái chim oanh nằm tròn.
Thơm mềm một đóa hoa non,
Gió xuân mặc ý, ai còn tiếc ai.
Nghìn vàng thân đã trao rồi,
Nỗi riêng riêng cũng bồi hồi vấn vương.
Ân cần dặn với tình lang.
Vì nhau giữ kín miệng vàng từ đây,
Nguyên văn:
(Điệu bồ tát man)
Dạ thâm thâu triển song sa lục
Tiểu đào chỉ thượng lưu oanh túc.
Hoa nộn bất câm trừu
Xuân phong tốt vị hưu
Thiên kim thân dĩ phá
Mạch mạch sầu vô ná
Đặc địa chúc đàn lang
Nhân tiền khẩn cẩn phường.
Sinh cũng làm một bài đáp lại:
Trong song đựng giá khuynh thành,
Sóng thu hai đợt long lanh dưới đèn.
Mỉm cười, vào bức màn tiên,
Lòng xuân phơi phới, đôi bên cũng lòng.
Mây mưa nổi trận đùng đùng,
Mình vàng e ấp sượng sùng khéo xinh.
Từ đây thăm hỏi Vân Anh
Xa xăm lọ đến Ngọc kinh chi mà.
Nguyên văn:
(Điều bồ tát man)
Lục song thâm trữ khuynh thành sắc
Đăng hoa tống hỷ thu ba dật
Nhất tiếu nhập la vi
Xuân tâm bất tự trì
Vũ vân tình tán loạn
Nhược thể tu hoàn chiển
Tùng thử vấn Vân Anh,
Hà tu thưởng Ngọc Kinh
Từ đấy đêm nào sinh cũng lén đến buồng Kiều, trải hơn một tháng trời tịnh không ai biết. Không ngờ sau hai người mê nhau, chẳng biết giữ gìn cẩn thận, nên những con hầu trong nhà như Phi Hồng, Tương Nga, chúng đều biết cả, chỉ có cha mẹ Kiều chưa biết mà thôi. Kiều đút lót cho bọn Phi Hồng, nên chúng cũng chưa dám để lộ chuyện.
Chợt sinh tiếp được thư cha gọi về. Về đến nhà vì nhớ Kiều, sinh quên ăn mất ngủ, bèn cậy người nói với cha mẹ, nhờ mối đến dạm hỏi Kiều cho. Lúc người mối đi, sinh nhờ đưa hộ cho Kiều một bức thư, đại khái nói rằng:
Từ ngày xa cách, thoắt đã hơn tuần, tùng trúc thề sâu, vẫn ghi trong ký ức. Quê cũ thần hôn hầu hạ, hồn mộng lúc nào cũng quanh quẩn bên em. Việc nhà cửa và việc đèn sách, không những không để ý đến, dù có muốn miễn cưỡng cũng không thể nào. Lòng trời rủ thương, nay có băng nhân đi sang, chưa biết nhã ý của cậu mợ ra sao. Nếu được không nỡ rẻ bỏ một kẻ hèn mọn này, thì lứa duyên đôi ta, tốt đẹp gấp mấy Thôi Trương ngày trước. Việc tốt đến nơi, nỗi mừng không sao đè nén được; xin để ý giúp sức cho thành. Sương mới đã gieo, mong em sẽ giữ mình trân trọng".
Mụ mối đem bức thư đi. Sang đến nơi, ân cần nói với cậu mợ của sinh về việc cầu hôn ấy.
Người cậu nói:
- Anh ba nó là người tài huấn, vả lại nhanh nhẩu khôn ngoan, lão phu được anh chàng rể ấy còn gì thoả nguyện hơn nữa. Song triều đình định lệ: anh em con cô con cậu không được lấy nhau, có lẽ không thể trái điều ấy được. Dạo trước anh nó sang chơi đây mấy tháng, lão phu rất để lòng yêu, đã có ý muốn bàn việc hôn nhân lắm. Chỉ vì e ngại về điều kia nên lại phải thôi.
Bà mối nói đi nói lại mấy lần cũng không công hiệu gì.
Ngày hôm sau, người mợ lại đặt tiệc khoản đãi bà mối. Kiều đứng hầu bên cạnh, biết việc hôn nhân không thành, trong lòng phiền khổ, nhưng không dám nói câu gì cả.
Tiệc tan, Kiều nhân đến bên cạnh bà mối để gợt bấc đèn. Bà mối khẽ nói nhỏ với Kiều:
- Cô có phải là người yêu của Hậu Khanh không? Hậu Khanh có một bức thủ thư, nhờ tôi đưa đến tay cô.
Kiều tái người đi, khẽ đáp phải, rồi nước mắt ròng ròng chảy xuống. Bà mối cũng phải động dụng rồi thò tay vào túi lấy bức thư đưa Kiều. Kiều vội vàng giấu đi không dám xem vội. Rồi mẹ Kiều vào nhà trong, Kiều cũng theo vào.
Sáng hôm sau, bà mối lại nói với người cậu, bằng một giọng nài nẵng khẩn thiết. Người cậu tức giận nói:
- Tôi đã bảo tôi rất bằng lòng, nhưng vì pháp lệnh nghiêm cấm, chả lẽ lại cố đẩy tôi vào vòng tội lệ ư?
Biết việc không thành, bà mối bèn cáo từ xin về. Người cậu lại bảo vợ đặt một bữa tiệc tiễn biệt. Kiều nhân đứng hầu, khẽ bảo riêng với bà mối rằng:
- Nhân duyên tan hợp, đều bởi tự trời. Anh ba có rỗi, xin mời cứ sang chơi. Tuổi tôi đã lớn, ngày tháng ở nhà này chẳng được bao lâu. Mong anh ấy đừng vì việc hôn nhân không thành mà không sang nữa.
Nhân lấy một bức thư đưa bà mối cầm về để trả lời Sinh.
Bà mối về, kể việc người cậu không thuận gả và đưa bức thư của Kiều gửi cho sinh. Sinh mở xem thì là một bài từ mới "mãn đình phương", dịch ra như sau:
Mành buông chiếu rải so le,
Buồng sâu sân vắng rợp che bóng cành.
Đêm dài quạnh quẽ buồn tanh,
Quên làm sao được khi mình với ta:
Dưới trăng thủ thỉ lời hoa.
Một đi để mối duyên ta hững hờ.
Ân cần lá đỏ trao thơ,
Cầu hôn mới biết đương chờ tin hay.
Trăm điều ngang ngửa ngày nay,
Mong chi ân ái tròn đầy được đâu.
Má hồng phận bạc mà đau,
Đành thôi, bạn lữa phong lưu lỡ làng!
Nguyện xin lối cũ tìm sang,
Ước xưa đừng để bẽ bàng cho ai.
Nguyên văn:
Liêm ảnh si kim,
Đạm văn chức thuỷ
Lục âm đình viện thanh u.
Dạ trường nhân tĩnh, tiêu đắc hứa đa sầu.
Trường ký đương thời nguyệt sắc,
Tiểu song ngoại tình thoại trù mâu.
Nhân duyên thiển
Hành vân khứ hậu, diểu bất kiến tung do
Ân cần hồng nhất diệp
Truyền lai mật ý, giai hảo tân cầu.
Nại bách đoan gián trở,
Ân ái thành hưu
Ưng thị chu nhan bạc mệnh,
Nan bồi bạn tuấn nhã phong lưu.
Tư tương niệm trùng tầm cựu ước,
Hưu vong Đỗ Gia thu.
Sinh đọc đi đọc lại, cảm động vô cùng. Những khi ngắm nguyệt xem hoa, bất giác không cầm được nước mắt.
Trước đây sinh có quen một người đào hát ở Thành Đô tên là Đinh Liên Liên, Liên Liên là người mẫn tuệ, thường được Soái Phủ yêu thương đến. Sinh đương lúc tuổi trẻ, đẹp trai, nên Liên Liên vẫn tỏ ý khuynh mộ. Từ dạo mùa thu sinh về quê, ả thường vẫn sai người mời sinh lại chơi, nhưng sinh vẫn thác cớ không đến. Đến nay có người bạn của sinh là Trần Trọng Du, cũng là con nhà giàu có, thấy Sinh trong những lúc trước gió, dưới trăng, thường tỏ ra vẻ rầu rĩ, bèn kéo sinh đi chơi Thành Đô, cùng vào nhà Liên Liên. Liên mừng lắm, bầy tiệc khoản đãi. Nhưng trong khi ả trò chuyện ân cần, sinh chỉ ngoảnh mặt vào tường, không thèm để ý chút nào cả. Liên lấy làm lạ, gạn hỏi sinh, nhưng sinh nhất định không nói. Liên cho là chàng vì ngại có Trọng Du nên không chịu nói, bèn giữ ở lại chơi cả đêm, để người em gái bồi tiếp Trọng Du. Còn mình thì tự hiến cho sinh. Nỉ non bên gối, gặng sinh tại sao mình hỏi lại không chịu trả lời. Sinh bèn kể hết đầu đuôi việc cùng Kiều gặp gỡ. Liên hỏi:
- Nàng Kiều là con gái nhà ai?
Sinh nói:
- Nàng là con quan Thông Phán họ Vương hiện đương nhậm chức ở My Châu.
Liên hỏi người thế nào. Sinh nói:
- Người đẹp lắm! Có thể sánh với Tây Thi, Phi Tử mà lại có phần hơn.
Liên ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:
- Người tên là Kiều nương, lại đẹp như thế, có phải cô ta có tên tự là Oánh Khanh không?
Sinh sửng sốt hỏi:
- Tại sao chị lại biết?
Liên nói:
- Gần đây cậu công tử nhỏ trong Soái phủ định sắp lấy vợ. Cậu ta rất muốn tìm người đẹp, không cần gì môn hộ cao thấp, miễn đẹp thì thôi. Có bỏ ra mấy nghìn quan tiền, thuê thợ vẽ đi lùng khắp mười quận quanh đây, vẽ những người đẹp để đem về kén chọn. Thợ vẽ có vẽ được chín bức mỹ nhân, trong đó có bức vẽ Oánh Khanh là một. Oánh màu da trắng nõn, mắt dài mà xinh, tóc hay búi lối hợp thuyền, duy bộ mặt có vẻ lo sợ. Tôi thường vào trong Soái phủ, trông thấy bức tranh ấy cho nên nhớ được tên họ. Chả biết có đúng người ấy không?
Sinh nói:
- Chị nói thật như trông thấy người rồi đấy.
Liên nói:
- Trách nào mà anh chả cứ coi em như đất bùn. Người anh gặp đó, thật là người tiên ở trên trời. Em nhìn bức tranh, đến nỗi nhìn mãi không dời mắt đi chỗ khác. Chỉ tiếc là không được trông thấy người thật. Sau này nếu anh có đến nhà cô ấy, làm ơn lấy cho em xin đôi hài cũ.
Sinh nhận lời.
Ngày hôm sau về nhà, chạnh nhớ đến câu Liên Liên nói người tiên trên trời, rồi nghĩ sự gặp nhau rất là khó khăn, nhân thế đau buồn thành bệnh, nằm bả lả mấy ngày không dậy. Cha mẹ thấy thế lo sợ, gặng hỏi cái duyên do ốm yếu của sinh. Sinh nhân nói bịa là mình thường chiêm bao thấy những ma quái, bây giờ phải mời thầy pháp đến, kiếm cách nhương trừ mới được.
Người cha mời một thầy mo đến cúng lễ. Sinh nhờ người nói riêng và đút lót thầy mo để thầy bảo với cha mẹ mình, nói bệnh có ma làm, nên cho tránh đi một nơi xa ít lâu, nếu không thì sống chết thế nào chưa thể biết được.
Cha mẹ sinh nghe thầy mo nói, tin cho là thực và rất lo sợ, nhân bàn lại gửi sinh sang nhà ông cậu để tránh tai ách trong một thời kỳ. Trước khi lên đường hai ngày, cho người đến hỏi nhà cậu mợ. Cậu mợ ưng thuận. Kiều khi ấy đứng hầu cha mẹ, nghe tin sinh sắp sửa đến, mừng rỡ khôn xiết. Sinh cũng thấy bệnh tật nhẹ vèo cả đi. Cha mẹ sinh thấy thế, càng cho việc gửi sinh đi xa là rất đắc kế.
Đã đến nhà cậu, sinh gặp Kiều ở đình Tú Khê, hai tình bốn mắt, không thể nào cầm giữ lại được. Tạm hỏi mấy câu hàn huyên xong, sinh muốn vào yết kiến cậu mợ, nhưng Kiều ngăn đi mà nói:
- Ngày hôm nay, nhà quan Tự thừa họ Vương bên láng giềng mời hai thân em đi Thiên Ninh xem hoa mẫu đơn, đến tối mới về. Vậy anh hãy ngồi đợi nghỉ ngơi, không phải vào chào vội.
Sinh bèn cùng Kiều ngồi sánh vai nhau ở trên đình. Kiều nhân bảo sinh:
- Anh hình như không được khoẻ mạnh, vậy đến đây có việc gì?
Sinh không bằng lòng câu hỏi ấy, nhân nói:
- Ngày tháng chưa bao lâu mà đã quên nhau rồi ư? Từ sau khi xa cách, nằm không yên gối, ngồi chẳng yên giường. Nhân thế đã xin với nghiêm quân cho hài duyên cầm sắt. Không ngờ trời chẳng chiều người, uổng lòng ong ước. Hoa xuân, trăng thu, sương chiều, gió sớm, không một cái gì không là mối gợi cảm khêu sầu. Vì thế phải bầy ra trăm cách mới được đến đây, trở lại với lời ước cũ. Vậy mà nay em lại hỏi đến đây có việc gì. Thì ra tôi đã lầm nhiều lắm.
Kiều thẹn thùng, xin lỗi mà nói:
- Lòng anh quả như vàng đá, em biết lấy gì để đáp tạ lại được.
Hai người nhân chuyện trò vui vẻ hồi lâu mới sánh bước cùng vào nhà trong. Sinh vào đến nếp nhà mình ở ngày trước, thấy bài thơ đề cũ, nét vẫn tươi sáng như mới, trong bụng bùi ngùi, nhân lại làm một bài thơ như sau:
Xa lìa quán cũ hàng năm.
Còn nguyên cảnh vật, qua thăm bữa này
Buồng tiên dựa mãi bên mây,
Cõi phù riêng sợ tháng ngày trôi đi.
Chưa phai nét cũ thơ đề,
Vần xưa đọc lại như chia mối sầu.
Gió xuân quen sẵn từ lâu,
Khéo đưa dìu dặt bên lầu tiếng oanh.
Nguyên văn:
(Điệu giả cô thiên)
Sanh quán khuê vi dĩ cách niên,
Trùng lai song kỷ thượng y nhiên.
Tiêu phòng trường ủng vân yên thụy,
Phù thế không kinh nhật nguyệt thiên.
Nùng đạm bút
Đoản trường thiên
Cựu ngâm tân tụng vạn sầu khiên.
Xuân phong dữ ngã hồn tương thức
Thời khiển lưu oanh tấu quản huyền.
Đến tối cậu mợ mới về, sinh vào lạy chào rất cung kính. Cậu hỏi sinh rằng:
- Nghe nói anh ba hơi yếu, chắc là nay đã khoẻ mạnh rồi?
Sinh tạ rằng:
- Cháu nếu được khoẻ mạnh, cũng còn phải chờ ở cậu mợ rủ thương, ơn tái tạo không biết bao giờ quên được.
Cậu mợ đều lấy lời an ủi.
Sinh lui về phòng mình. Từ đấy sinh với Kiều tình ý khăng khít lại hơn ngày trước.
Ở đó được vài tháng, vì đối với nhau thân thiết lắm, sinh nhớ lời của Liên Liên dặn, bèn nói với Kiều để xin đôi hài cũ. Kiều gạn hỏi:
- Anh lấy hài cũ để làm gì?
Nhưng sinh nhất định không nói thực. Kiều cũng không cho.
Người cậu sinh có ả thị nữ tên là Phi Hồng, nhan sắc cũng đẹp nhưng còn kém Kiều xa. Duy đôi chân xuýt xoát với Kiều, thường vẫn đi lẫn hài nhau, mà thơ từ ngâm vịnh cũng ngang với Kiều. Nếu không có Kiều đứng bên thì Phi Hồng cũng đáng kể là một người đẹp. Duy vì tính mợ hay ghen, nên ả không thường được người cậu âu yếm. Sinh đi lại nhà này, đã từng có khi cùng Phi Hồng trò chuyện.
Tính Kiều nhút nhát e dè, vốn không hay nói, nhìn ai một lát lại phải dời mắt đi chỗ khác; khi nào gặp sinh, sinh không hỏi thì Kiều không tự nói câu gì; lúc vui đùa lắm mà nhoẻn một nụ cười, đủ khiến cho người ta hồn bay phách lạc. Song Phi Hồng thì không thế, ả thích nô đùa, giỏi ứng đối, lém trò chuyện, nhiều khi tuy sinh không nói với, cũng cứ gợi ra để nói. Bao giờ như thế, Kiều trông thấy thường tỏ ý không bằng lòng. Lần này sinh đến, Hồng cũng lại cùng sinh thân mật suồng sã. Kiều bất giác sinh lòng ngờ vực.
Sinh xin hài của Kiều, nhưng mãi không được. Một hôm Kiều ngủ ngày thì sinh chợt vào, lấy trộm đôi hài rồi lén ra. Về đến phòng riêng thì vì bận việc khác phải đi, chưa kịp cất hài. Hồng rón bước theo sinh, thấy sinh bỏ quên đôi hài, ngờ là Kiều cho, bèn nhặt lấy. Sinh đi một lúc trở về phòng, tìm hài đã không thấy nữa, bụng rất buồn bực.
Tối hôm ấy Kiều hỏi sinh về đôi hài. Sinh nói:
- Quả anh có lấy trộm thật, nhưng rồi lại mất, chắc là em đã lấy về rồi, lại còn đòi hỏi gì!
Kiều bèn thôi, vì Phi Hồng đã nhặt đôi hài đưa trả cho Kiều. Kiều nhân thế đem lòng ngờ sinh tư thông với Hồng.
Một hôm thấy Hồng đùa với sinh ở ngoài cửa sổ cùng bắt bươm bướm, Kiều tức lắm, mắng Hồng một mẻ. Hồng lấy làm giận, định đem việc nhặt được đôi hài mách mợ, nhưng chưa có dịp.
Sau gặp ngày rằm, mọi người vào chào mừng cậu mợ. Kiều cũng ở đấy. Hồng nhân nhìn đôi hài của Kiều rồi bảo với sinh:
- Đó tức là đôi hài ngày trước cậu bỏ quên trong buồng mà tôi nhặt được.
Kiều biến sắc mặt, vội lấy chuyện khác nói loà đi. May bấy giờ cậu mợ vì bận ứng tiếp đông người nên không nghe tiếng. Kiều nhân thế ngờ sinh xui Hồng nói lộ chuyện kín, càng đem lòng oán vọng sinh lắm.
Từ đấy về sau, trừ những lúc gặp mặt nhau ở trung đường, Kiều không lần nào kiếm dịp để gặp riêng sinh nữa; các việc nữ công cũng chán nản không buồn để ý, từng lúc đi, đứng, ngồi, nằm, không sao mà tạm khuây khoả được. Nhưng sinh vẫn chẳng hiểu duyên do thế nào.
Một hôm tình cờ ra chơi vườn sau, sinh thấy ở dưới hoa có một mảnh tờ, cầm lên xem thì thấy có một bài như sau:
Nhành hoa oanh đạp tơi bời
Lòng xuân nặng trĩu cho người ngán ngao.
Non mây rứt nẻo chiêm bao,
Dạ sầu bứt rứt xôn xao khó đành,
Khôn đem gửi một tấm thành
Trên lương cái én hiểu mình hay chăng?
Nguyên văn:
(Điệu thanh ngọc án)
Hoa đê oanh đạp hồng anh loạn,
Xuân tâm trọng đốn thành sầu lãn.
Dương hoa mộng đoạn Sở vân bình
Không nhạ khởi tình vô hạn.
Thương tâm tiệm giác thành khiên bạn,
Nại sầu tự thốn tâm nan quản,
Thâm thành vô kế ký thiên nhai
Cơ dục vấn lương gian yếu,
Sinh mở xem ngẫm nghĩ hồi lâu, đoán là bài của Kiều, nhưng lại ngờ nét chữ không giống chữ Kiều ngày trước. Nhân cầm về để ở đầu án trong phòng, định hỏi Kiều nhưng chưa có dịp.
Tối hôm ấy, con yểng trong chiếc lồng treo ngoài cửa sổ phía tây, nói được tiếng người rất thạo, nhân Kiều đi qua, đùa lấy hạt đậu đỏ ném vào mình nó, nó bẻo lẻo nói:
- Làm sao cô Kiều lại đánh tôi?
- Sinh nghe nói, vội chạy ra vẫy Kiều; nhưng Kiều không lại. Sinh khẩn khoản mãi, Kiều mới theo vào phòng của sinh. Nàng đương lúc im lặng chưa nói gì, bỗng trông thấy bức tờ hoa ở trên đầu ná. Nàng cầm xem rồi nhìn Sinh lúc lâu không nói gì cả. Sinh hỏi:
- Em làm bài ấy bao giờ thế?
Kiều không nói. Sinh lại hỏi:
- Tại sao em lại không nói?
Kiều vẫn không trả lời.
Sinh cố gạn hỏi thì Kiều nói:
- Đó là bài từ của Phi Hồng. Anh được ả ấy đưa cho, sao còn nói vờ vẫn như vậy?
Sinh hết sức biện bạch. Nhưng Kiều cứ im không nói gì. Bùi ngùi lúc lâu rồi nàng thở dài mà phất áo đi ra. Sinh giữ lại cũng không được. Từ đấy sự họp mặt nhau lại càng thưa thớt lắm. Kiều thường nằm ngủ lỳ từ sáng đến tối. Hàng một hai ngày mới cùng sinh một lần gặp mặt, mà gặp cũng không nói câu gì. Chừng hơn một tháng như thế, sinh không thế nào để tỏ giải được.
Một buổi tối, sinh đi thẳng đến buồng Kiều, bốn bề im lặng như tờ, thấy trên cửa sổ có một bài tứ tuyệt:
Nén tắt hương khôn toả.
Hoa lay bóng dễ dời.
Đoạn trường thơ vịnh mãi,
Khôn xiết dạ bồi hồi.
Nguyên văn:
Hôi triện hương nan chú,
Phong hoa ảnh dị di
Bồi hồi vô hạn ý
Không tác đoạn trường thi.
Sinh xem thơ, biết Kiều buồn khổ vì mình, bèn khẽ nói với Kiều:
- Từ khi tái hội đến nay, đội ơn em tỏ tình yêu thương, có phần hơn trước. Gần đây bỗng vì sự ngờ vực mà anh bị em ra ý ruồng bỏ. Sao mà trước sau lại đổi khác như vậy?
Kiều ban đầu không nói. Sinh gặng hỏi mãi. Kiều giàn giụa nước mắt nói rằng:
- Em từ khi gặp anh, lúc nào cũng chỉ lo không chiều được cho anh vừa lòng. Nay chính là anh bỏ em chứ đâu em dám bỏ. Lòng anh đã vui chốn khác rồi, còn cần gì đến em nữa!
Sinh nói:
- Nếu anh mà có hai lòng, anh xin thề để cho em biết.
Sinh liền trỏ lên trời mà thề để tỏ không có bụng nào khác, và nói:
- Sao em đa nghi quá vậy!
Kiều nói:
- Anh tình cờ bỏ quên đôi hài để cho Phi Hồng nhặt được, rồi Phi Hồng lại tình cờ bỏ quên bài từ để cho anh nhặt được, làm sao trong thiên hạ lại có nhiều việc tình cờ thế? Em chẳng dám oán giận gì anh, chỉ xin anh để lòng yêu lấy người mới mà đừng bận lòng gì đến em nữa.
Sinh ngửa mặt lên trời thở dài:
- À ra như thế! Thảo nào, gần đây anh cứ thấy em buồn rầu. Nhưng bây giờ nếu em vẫn chưa tin lời thề vừa rồi của anh, anh xin cắt tóc mà thề một cách trịnh trọng ở trước thần minh. Em nghĩ thế nào?
Kiều bèn cười mà nói:
- Anh nói có thật không?
Sinh nói:
- Sao lại không thật!
Kiều nói:
- Nếu vậy, cách cái ao ở vườn đằng sau, có đền thờ Minh linh đại vương. Vị thần này thông minh chính trực, khấn vái bao giờ cũng linh ứng. Nếu anh chịu cùng em ra đền ấy thề thì may lắm.
Sinh nói:
- Anh xin bằng lòng. Minh linh đại vương chắc cũng soi rõ lòng anh không hề thay đổi.
Kiều bèn hẹn sáng hôm sau, hai người cùng đi thề. Sáng sớm hôm sau, Kiều và sinh cùng ra vườn sau, đến bên bờ ao, cúi lễ vọng sang đền Đại vương, hai miệng một lời, đồng thanh thề nguyện. Những lời thề thiết tha chặt chẽ, không thể kể hết ra đây được. Thề xong, dắt tay cùng về, ân tình càng mặn nồng hơn trước. Sinh từ đấy, không trò chuyện với Phi Hồng một câu nào nữa. Hồng thấy vậy, để bụng căm hờn.
Một hôm, sinh thủng thỉnh ra chơi vườn sau, đến bên khóm mẫu đơn, chợt thấy Kiều đã đứng ở đấy. Sinh ôm choàng lấy Kiều, ra chiều lơi lả. Kiều lấy lời đoan chính khuyên ngăn, sinh mới buông ra. Hai người cùng dắt nhau đi ra chỗ khác. Không ngờ lúc ấy Phi Hồng trông thấy, vào nói với mợ rằng:
- Chiều trời mát mẻ dễ chịu, hoa mẫu đơn vườn sau nở nhiều đẹp lắm, mời phu nhân ra xem kẻo hoài.
Người mợ ưng lời, vội bảo Phi Hồng đi theo hầu cùng ra vườn sau.
Ra đến nơi, mợ trông thấy sinh đương cùng Kiều sánh vai đi bên cạnh chòi, chung quanh không có ai cả. Mợ nghi ngờ lắm, nhân gọi Kiều quở mắng. Sinh lật đật quay vào, lòng rất hậm hực, biết là Phi Hồng phản mình mà không làm gì được.
Cách đó hai hôm, sinh tự thấy hổ thẹn không còn mặt nào ở đấy, bèn nói với cậu mợ xin về. Cậu mợ cũng bằng lòng không hề nài giữ. Đêm hôm ấy, Kiều lén ra cùng sinh từ biệt mà rằng:
- Trời! Há chẳng vì số mệnh hay sao! Sum vầy chưa biết có ngày nào mà lại xẩy ra việc ấy, em còn biết làm sao được nữa! Anh về nên tìm cách khuây khoả rồi lại kiếm dịp đến đây. Đừng nên vì thế mà vĩnh viễn bỏ em, khiến kẻ kia nó lại tự lấy làm đắc kế.
Nói rồi nàng khóc sướt mướt; sinh cũng bưng mặt khóc rồi cùng tương biệt.
Cha mẹ sinh nghĩ vì sinh đi chơi lâu, trễ nhác sự học, vả kỳ thi lại sắp đến, bèn bắt sinh phải dùi mài sách vở. Sinh cùng người anh tên là Luân tuy sớm tối cùng học, nhưng nỗi lòng nhớ Kiều không lúc nào khuây đi được. Đêm cùng anh ngủ riêng giường, suốt đêm mơ màng, thường phát ra những lời hậm hực; hận không thể cưỡi gió hay rút đất để đến với Kiều ngay được.
Đến trung tuần tháng bảy, người cậu vì nhậm chức mãn lệ ở My Châu, đổi đi nơi khác, đường qua cửa nhà sinh, nhân rẽ vào tạm lưu vài ngày. Trong những ngày ấy, cả người mợ và Kiều cùng ở nhà sinh, song mợ kèm luôn bên cạnh Kiều không rời một bước; lại thêm có các con hầu Phi Hồng, Tương Nga cũng quanh quẩn luôn bên tả hữu, nên sinh cùng Kiều muốn nói với nhau một câu cũng không được.
Sau ba ngày, người cậu đem gia quyến lên đường, xe ngựa rộn ràng, tiễn đưa tấp nập. Mợ và Kiều lên xe, các thị nữ theo hầu kẻ sau người trước. Sinh cũng cưỡi ngựa đi tiễn, thừa được một lúc vắng, vén mành xe cùng Kiều hỏi chuyện. Kiều nước mắt tầm tã như mưa không nói được gì. Lúc lâu mới nói rằng:
- Từ khi gặp gỡ anh, một ngày xa nhau còn không chịu được. Huống nay đi kỳ đến ba năm, đường đến nghìn dặm, những lúc thương nhớ, biết làm thế nào cho lại được thấy anh? Chỉ lo em hồn tan phách héo, thịt nát xương mòn. Còn anh sẽ say hoa đắm liễu, có mới quên xưa; ái ân bên gối của em, sẽ cướp mất bởi tay người khác.
Sinh nói:
- Minh linh đại vương còn kia, anh thề không bao giờ như vậy.
Kiều nói:
- Nếu vậy em được đội ơn anh, dẫu chết cũng không bao giờ quên được.
Nàng bèn lấy một cái đai lưng nạm những vàng ngọc, kết thành cái nút đồng tâm, đưa tặng sinh mà rằng:
- Anh cầm lấy để hễ trông thấy vật thì nhớ đến người. Có rỗi thì liệu kiếm dịp đến chơi, đừng nên vì đường sá xa xôi mà nản.
Nói chưa hết lời thì bánh xe đã bắt đầu chuyển; mảnh trăng ban mai đã chìm xuống một nửa ở đầu núi xa. Sinh chào biệt cậu mợ trở về, thẫn thờ đi vào phòng sách. Từ đấy song sớm đèn hôm, biếng lười sự học, động hạ bút viết là viết thành những câu để gửi niềm u hận của mình. Một hôm, sinh làm một bài sau này đưa cho anh Luân xem:
Gió xuân phơi phới lòng đây,
Vèo trôi uổng tiếc những ngày tươi xanh
Song thêu nhớ lúc băng minh,
Đẫm hoa mưa ướt, lọt mành trăng soi.
Còn đâu thôi đã thôi rồi,
Hoa bay rấp lối qua chơi nguồn đào,
Mây đi thăm thẳm nơi nào?
Mắt mòn theo hút phương nao: bóng hồng?
Ai đi có nhớ ta không?
Xa chơi ước được ta cùng cưỡi loan.
Anh xem rồi vỗ vào lưng sinh mà nói:
- Em Hậu Khanh, cứ cái tài của em, nên lo cố gắng mà chiếm lấy mũ bạc bảng vàng. Làm vẻ vang cho hai thân mới phải. Vậy mà xem như bài này thì lòng em đương vướng víu về một mối tình. Kỳ thi chẳng còn cách bao lâu, em nên đem cây bút viết những bài này dùng vào việc tranh chiến ở chốn trường văn trận bút.
Sinh im lặng không nói gì.
Đến tháng tám, hai anh em cùng đi thi hương. Thi xong, Sinh liền đòi về; người anh vật nài giữ mãi, bất đắc dĩ mới đành ở lại.
Sau mấy ngày, bảng thi đã treo, sinh và Luân đều đỗ cao cả, hai anh em cùng vinh quy. Sang năm sau, sinh lại cùng anh đi thi hội đều đỗ tiến sĩ. Luân được bổ làm Chủ bạ ở huyện Viên Sơn thuộc Miên Châu; sinh được bổ làm Tư hộ ở Dương châu. Anh em cùng về nhà đợi kỳ phó nhậm.
Bấy giờ người cậu nhân mua được quyển Đăng khoa ký, mở xem thấy anh em sinh đều đỗ cả, mừng rỡ bảo với vợ rằng:
- Anh hai anh ba chúng nó đều đỗ cả, thật rất đáng mừng nhà ta có những cháu làm nên. Chỉ buồn nghìn dặm đường xa, không thân về mừng được.
Người cậu bèn sai người mang thư về thăm hỏi hai cháu được bổ vào chức quan gì và nếu có rỗi thì qua chơi cho thoả lòng lão phu mong đợi.
Sinh được thư bàn với anh rằng:
- Cậu đã bảo thế, anh nên đi chơi.
Luân nói:
- Cha mẹ tại đường, làm con không nên đi chơi xa. Nhưng cậu đã bảo thế, em nên đi chơi thăm cũng phải.
Sinh mừng rỡ sắm sửa hành trang, lần đến ngay nhiệm sở của cậu. Cậu thấy cháu đến mừng rỡ không biết chừng nào. Thoắt chốc rồi cả mợ và Kiều cùng ra tương kiến. Mợ hỏi sao anh hai không lại, sinh đáp là anh em không tiện cùng đi cả đôi. Cậu mợ đều săn sóc hỏi han ân cần hết sức.
Người mợ nghĩ sinh trước đã có cái việc đáng ngờ một chút nên lần này để sinh ở gian phía đông nhà khách, cách với trung đường rất xa. Sinh cũng để ý gìn giữ, vô cố không có lệnh vời thì không lên nhà trên. Khi lên, cũng chưa hề cùng Kiều chuyện trò suồng sã. Lúc cùng Kiều tình cờ gặp mặt, chung quanh còn có kẻ hầu người hạ, hai người chỉ im lặng nhìn nhau không nói một lời.
Sinh thấy buồn tẻ lạ thường, ở được hơn mười ngày, đã định cáo về, nhưng lại nghĩ đường xa đến đây, chưa được cùng Kiều trò chuyện một câu nào, về sao đành được. Vì thế mà cứ quanh quẩn mãi.
Một hôm sinh dậy sớm lên nhà thăm mợ, nhưng mợ chưa dậy, tình cờ gặp Kiều ở đầu nhà. Bấy giờ còn sớm, nên các tôi đòi chưa dậy cả, Kiều vội rảo đến gần sinh nói:
- Xa anh lâu ngày, mong nhớ không lúc nào khuây khoả, rất mừng anh mới đỗ cao khoa. Nhưng kẻ bạc mệnh này, không được hầu sửa túi nâng khăn để dự hưởng phần phú quý, đó là một điều đại hận. Anh không nỡ bỏ, từ xa lại đây, em không ngờ lại được cái may mắn ấy. Em cùng Phi Hồng có hiềm khích, anh đã biết đấy. Nay mẹ em tuổi cao lắm bệnh, không trông nom được mọi việc, quyền hành về tay Phi Hồng cả. Mỗi cái em cử động, nó đều để ý. Sở dĩ anh đến chơi đã mười ngày nay, em vẫn không được cùng anh trò chuyện một lần nào, chính vì cớ thế. Em thấy anh mỗi ngày buổi sáng buổi tối thường lên nhà thăm thầy mẹ em, nên luôn bẩy buổi sáng, em đều dậy sớm để chờ anh, nhưng anh lại đều lên muộn. Nếu hôm nay anh không dậy sớm, em cũng đến đành chẳng có dịp nào trò chuyện với anh được.
Sinh nói:
- Anh thấy tình sự như vậy, suốt ngày ngồi rù, nỗi buồn khổ thật không xiết nói. Đương định một hai ngày nữa sẽ xin cáo về. Chỉ vì chưa được cùng em trò chuyện một lần nào, nên chưa nỡ dứt mà về được. Nay đã như thế này, anh dẫu ở lại đây cũng không ích gì.
Kiều nói:
- Em chỉ vì anh mà phải lún mình chiều chuộng Phi Hồng, nhưng vẫn chưa được lòng nó. Nay về sau, em càng phải hết sức chiều nó. Muôn một được nó hồi tâm thì đôi ta lại được như trước. Anh có thể hẵng thư thả lại độ hơn một tháng nữa không?
Nhân lấy hai mươi lạng vàng ở trong túi ra đưa cho sinh mà nói:
- Anh cầm lấy khoản này để hoặc có phải tiêu dùng hay may vá.
Sinh nói:
- Nếu có thể mưu tính để gần nhau được, dù anh có phải giam vào cái buồng ma quỷ hàng một nghìn ngày để đợi cũng không sao.
Lúc đó đã có người dậy, sinh vội lánh đi. Từ đấy ngày ngày rất buồn rầu, thường đi quanh trong nhà ngâm vịnh nghêu ngao, kiếm đường khuây khoả.
Ở nhà cậu từ thu sang đông, năm đã hồ tàn, tấm lòng luyến mộ, không làm sao mà khuây đi được. Đêm đêm thường đốt sáp ngồi buồn một mình, mãi đến nửa đêm mới đi nằm.
Phía đông nếp nhà sinh ở có mấy cây trúc, bên ngoài dẫy trúc là một cái đình. Trong đình khi xưa có quàn một cái linh cữu của người con dâu viên quan trị nhậm trước ở đây. Người con dâu này trẻ đẹp, bị cảm mà mất, tạm quàn linh cữu trong đình hơn một năm rồi đưa về quê. Linh cữu tuy đã đưa đi, nhưng tinh linh hãy còn lẩn quất ở trong đình, thường làm yêu làm ma mê hoặc những người trẻ tuổi. Nhưng sinh không biết gì cả.
Một buổi tối, sinh khép cửa ngồi, ước gần trống canh hai, bỗng nghe ngoài cửa sổ có tiếng giầy đi lẹp kép. Sinh cho là lính tráng họ dậy, không để ý đến. Một lát, bỗng thấy tiếng gõ cửa rất gấp. Sinh đứng dậy ra xem, thấy Kiều đương đứng một mình dưới cửa sổ, nàng nói:
- Sao anh không mở cửa? Em đợi anh đã lâu lắm rồi!
Sinh không biết là yêu ma, bèn rủ Kiều vào trong buồng, chàng hỏi:
- Sao em lại đến được đây thế?
- Vì thầy mẹ em ngủ say, không ai biết cả, nên em mới lên được đến đây với anh.
Lúc sắp trở ra, dặn sinh rằng:
- Giờ về sau, cứ đêm em đến, nếu anh không có việc gì cần, bất tất phải lên nhà trên; hoặc có gặp em, đừng hỏi han gì cả; em có nói gì với anh, anh cứ lờ đi không trả lời. Như vậy mọi người sẽ cho là anh không có tình ý gì với em, mối nghi ngờ sẽ tan đi được.
Sinh nói:
- Nếu đêm nào em cũng lại, anh còn cần lên nhà trên làm gì nữa.
Nói xong cùng chia tay.
Từ đấy con yêu đêm nào cũng đến, hơn một tháng không ai biết chuyện gì cả.
Kiều từ khi sinh lại đến đây, phải lún mình chiều chuộng Phi Hồng. Ngày thường Hồng ước muốn bất cứ vật quý báu gì, chỉ khẽ nhích miệng là Kiều phải mua sắm để tặng. Vàng ngọc gấm vóc, thôi thì muốn thứ gì được thứ ấy. Kiều lại nịnh nọt gọi Hồng là Hồng Nương tử. Hồng thấy Kiều đối đãi với mình tử tế, cũng dần dà bỏ mối hiềm cũ, cùng Kiều thân mật. Kiều lại càng chiều chuộng hơn lên.
Bấy giờ con Tiểu Tuệ tuổi đã lớn khôn, thấy Kiều cứ phải lún mình chiều chuộng Hồng, nó bảo Kiều rằng:
- Cô là người cao sang, Phi Hồng là kẻ hèn hạ, sao cô lại cứ phải luồn luỵ hắn thế?
Kiều thở dài:
- Mối tình giữa ta với cậu Thân, hẳn mày đã rõ. Hồng cùng ta có mối hiềm khích, hắn thường muốn kiếm chuyện, bởi vậy ta phải bỏ lòng tự ái để luồn cúi nó, chẳng qua chỉ vì cậu Thân đó thôi.
Nàng nhân ngâm một bài thơ rằng:
Mưa tuôn mây kéo từng từng.
Cho hoa lạnh lẽo, cho trăng lu mờ.
Cậy ai vén sạch mây mưa?
Trăng tròn hoa đẹp còn chờ đến khi....
Nguyên văn:
Vũ lặc xuân hàn hoa tín trì
Du vân ngại nguyệt dạ quang vi
Phi vân các vũ bằng thuỳ lực?
Hoa nguyệt khai viên thả đãi thì.
Ngâm xong rồi nàng khóc nức nở. Tiểu Tuệ nói:
- Cô vốn người tuổi xuân tươi đẹp, bẩm tính thông minh lập thân trịnh trọng. Con còn nhớ ngày trước ra chơi vườn hoa, cùng đi với Tương Nga, Tương Nga lanh chanh trèo lên thang lầu trước, cô giận mách với phu nhân, phu nhân không đánh nó, thế rồi cô dỗi hai ngày không ăn cơm, tính dễ giận biết chừng nào. Năm trước quan nhà đổi đi, dọc đường vào ngủ trong nhà trọ, giường màn chẳng được như ý, cô bắt đem đốt trầm xông xạ để cho thơm tho, đến mãi nửa đêm cô mới ngủ, quý báu thân thể biết chừng nào. Cô hát hay, ai cũng biết tiếng, những khi họ hàng họp tập, nài nẵng hàng ba, bốn lần để cô hát cho nghe, cô vẫn nhất định không chịu hát, quý báu lời nói biết chừng nào. Vậy mà nay coi rẻ tấm thân nghìn vàng như một chiếc dép nát để vì cậu Thân, lại uốn mình luồn cúi Phi Hồng, mất cả phẩm giá, điều đó thật con không thể hiểu. Phương chi cô tài sắc nức tiếng đã bao lâu nay, nếu cần hôn nhân, há lo không kiếm được một người như cậu thân sao? Vả xem cậu Thân sau khi đỗ rồi, đối với cô có vẻ vô tình; nay tuy ở đấy mà gọi chẳng buồn lên, hỏi chẳng buồn nói, chắc hẳn đã thay lòng đổi dạ. Vậy cô tội gì mà cứ đeo đẳng mãi!
Kiều nói:
- Mày đừng nói thế. Thiên hạ không làm gì có người chung tình được như sinh đâu! Quyết hẳn chàng chẳng phụ ta.
Tiểu Tuệ biết lòng Kiều như là sắt đá không thể lay được, bèn cũng phải chiều chuộng Phi Hồng. Hồng cảm tấm lòng Kiều, bỏ hết mối hiềm khích trước, bùi ngùi bảo Kiều rằng:
- Cô gần đây hình dung tiều tuỵ quá lắm, chắc là có mối buồn riêng gì, sao không nói thực với Hồng? Hồng chịu ơn của cô rất nhiều, nếu có thể giúp cô việc gì, dù chết cũng không dám quản.
Kiều chỉ giàn giụa nước mắt mà không nói. Hồng cố gạn, Kiều mới nói rằng:
- Mối tình của tôi với Thân sinh, nương tử đã biết đấy, còn phải nói gì.
Hồng nói:
- Việc đó rất dễ. Bà nay có tuổi, suốt ngày chỉ ở trong cái lầu nhỏ xem kinh, công việc cửa nhà là quyền ở cô cả. Nếu cô muốn mưu tính sự gì, tôi đâu dám chẳng như mệnh!
Kiều trịnh trọng cảm tạ.
Từ đấy Hồng thường muốn giúp Kiều được gặp mặt sinh.
Song sinh đêm đêm gặp con yêu, cho là thật Kiều đấy rồi, nên có khi hàng mười mấy ngày không lên đến nhà trên; thỉnh thoảng có gặp Kiều thì xa lánh. Vả tinh thần mỏi mệt, suốt ngày chỉ lờ mờ muốn ngủ. Kiều thấy thế cũng phải đâm ngờ.
Một đêm Kiều sai Tiểu Tuệ cùng con hầu ở buồng Phi Hồng và Lan Lan lén đến nhòm vào buồng sinh xem sinh làm gì.
Tuệ và Lan đến, do chỗ khe hở cửa sổ nhòm vào trong phòng, thấy ở dưới bóng đèn, sinh đương ngồi đôi với một người con gái, nhan sắc thái độ giống hệt như Kiều. Hai ả đều kinh ngạc quay về, thấy Kiều và Hồng vẫn đương cùng ngồi ở trong buồng. Tuệ nói:
- Cô vừa mới đến buồng cậu Thân phải không?
Kiều nói:
- Từ lúc ta sai mày đi, hai chúng ta vẫn ngồi ở đây, chưa hề đứng lên, sao mày lại nói bậy thế!
Tuệ và Lan đồng thanh nói:
- Vừa rồi cậu Thân ngồi với một người con gái giống cô như tạc, vậy thì người ấy là ai?
Kiều và Hồng kinh hãi lúc lâu. Hồng nói:
- Tôi vẫn nghe ở đây có nhiều ma quái biến hiện; hay chính là ma nó quyến dụ chàng thật, nên gần đây chàng đối với cô có vẻ hững hờ?
Hồng toan cùng bọn Tuệ, Lan thử đến ngó lại xem sao, nhưng ngại vì đêm khuya lại thôi.
Sáng hôm sau, Kiều sai con hầu đến nói dối sinh là phu nhân mời lên, vậy mà gọi đến ba, bốn lần sinh mới chịu lên. Tiểu Tuệ đưa sinh vào buồng sau sinh trông thấy Kiều, vội vàng toan quay ra. Kiều đứng lên túm lấy áo sinh mà nói:
- Sao anh lại đi; hãy ngồi đây em có câu chuyện.
Sinh bất đắc dĩ mới ngồi xuống. Kiều nói:
- Gần đây sao anh hững hờ với em thế! Em đối đãi với anh thật là hết lòng. Nhất đán anh xử như thế, làm cho em thật là thất vọng!
Sinh không trả lời. Kiều lại nói:
- Anh mỗi đêm vẫn gặp người con gái nào thế?
- Không, có gặp ai đâu!
- Anh không nên chối.
Sinh nhìn chung quanh rồi nói:
- Em dặn anh đừng nói gì, sao bây giờ còn hỏi lôi thôi như vậy?
Kiều nói:
- Em có việc gì mà dặn anh đừng nói?
Sinh rất kinh ngạc:
- Quanh đây có ai không?
- Không có ai cả.
Kiều lại nói:
- Từ khi em cùng anh xa cách, đến nay hai năm. Chuyến này anh đến, em nào đã có dịp nào tiện tỏ bày được hết tâm sự với anh đâu, nào em dặn anh bao giờ là đừng nói gì cả?
- Sao em lại tráo trở thế nhỉ? Từ hai tháng trước đến giờ, đêm nào em cũng đến buồng anh, dặn anh không được nói năng gì với em, sợ bọn Phi Hồng sinh chuyện. Nay em lại nói thế thì ra thế nào?
- Em chưa hề đến buồng anh một lần nào. Cái nhà anh ở vắng vẻ, đã lâu vẫn nghe nói là có nhiều ma; chắc là con ma nó hoá thành hình em quyến rũ anh đấy. Từ sau khi em chịu luồn cúi Phi Hồng, đã được hắn bằng lòng với em, ngày đêm em sai chúng nó đến mời anh lên, anh đều không lên; hay nếu lên thì có hỏi han trò chuyện, anh đều làm thinh không nói. Em không hiểu ra làm sao cả, đã bắt đầu ngờ anh là có bụng khác. Đêm qua nhân sai hai đứa là Tiểu Tuệ và Lan Lan đến phòng anh ở dò xem. Chúng nó thấy một người con gái hình trạng như em đương ngồi đôi với anh. Đó không phải ma quỷ thì còn là gì. Vì thế hôm nay mời anh lên nói để anh rõ. Nếu anh không tin, để em gọi Phi Hồng đến đây làm chứng.
Kiều sai đi gọi Hồng, Hồng đến bảo với sinh rằng:
- Sao cậu gần đây lại bỏ cô ấy thế?
Hồng bèn kể chuyện đêm qua cho sinh nghe. Sinh kinh hãi mướt cả mồ hôi, không hiểu ra thế nào, nhân tạ lỗi rằng:
- Nếu không nhờ em rủ lòng yêu thương không nỡ bỏ, anh sẽ phải chết về tay giống yêu ma. Đáng buồn trong hai tháng trời nay, anh đã phụ biết bao ân tình của em, biết lấy gì mà đền lại được!
Sinh sợ hãi không dám trở về phòng nữa, ở luôn tại nhà trên đến tối. Hồng cùng Kiều bàn mưu với nhau, chỉ nói với phu nhân là sinh sợ ma không dám về phòng. Phu nhân không tin, nói:
- Đâu lại có lẽ như thế!
Hồng muốn chứng thực, đến khoảng canh một bảo sinh lại trở về phòng sinh sợ hãi không dám về. Hồng nói:
- Cậu hẵng cứ về đấy, tôi có việc phải cần như thế.
Nhân dặn sinh:
- Đêm nay vào độ canh hai tôi với phu nhân sẽ đến dò xem. Nếu nó lại, chúng tôi chỉ đứng ở ngoài xa trông vào, vì sợ nếu trông gần nhận rõ nó giống cô Kiều, phu nhân sẽ sinh lòng nghi hoặc. Hễ nó hỏi han gì, cậu cũng im chứ đừng trả lời.
Sinh bất đắc dĩ phải đánh liều nghe theo.
Đến khoảng canh hai, con ma ấy quả lại hiện đến, ngồi đối diện với sinh. Sinh sợ hãi run lên. Chợt Hồng và người mợ đã đến ở ngoài cửa sổ, cùng nhòm vào quả thấy một người con gái. Người mợ toan nhìn kỹ nhưng Hồng sợ nếu để trông thấy giống Kiều sẽ tiết lộ ra nhiều chuyện. Nhân vỗ vào cửa sổ mấy tiếng, con ma tức thời biến đi không thấy đâu nữa.
Sinh ban đầu nghe lời Kiều nói, lòng còn nửa tin nửa ngờ, đến bấy giờ mới rõ là ma quỷ thật.
Người mợ hỏi sinh rằng:
- Người nào vừa rồi thế anh ba?
Sinh thẹn thùng tạ lỗi rằng:
- Trước đây cháu vẫn không biết là ma quỷ đấy. Xin mợ cứu cháu.
Người mợ cùng Hồng bèn bảo sinh lên ở nhà trên. Cậu sinh thấy thế, đón những thầy phù thuỷ cao tay cho sinh bùa dấu để đốt uống. Sinh ốm yếu qua loa mấy ngày rồi lại được yên ổn như thường. Từ đấy sinh ở luôn nhà trên. Kiều cũng không vì việc trước mà giận sinh, lại cùng nhau mặn mà đằm thắm, có khi luôn mấy đêm đến ở buồng sinh mà mẹ vẫn không biết gì cả.
Sau hai tháng, mẹ Kiều ốm chết, Kiều khóc thương vật vã, cơ hồ như không thể sống được. Sinh nhân lúc nhà cậu mọi việc rối ren, bèn xin cáo về. Kiều bảo với sinh rằng:
- Chia tay buổi trước, không ngờ lại còn có ngày nay. Đương vui về cuộc sum vầy, bỗng gặp phải một cơn gia biến. Trong lúc đau buồn, không rỗi cùng anh săn sóc được. Vậy anh tạm về rồi chóng chóng xin tái lai.
Kiều nhân thở dài:
- Mấy năm nay, đưa tiễn anh biết đã bao lần! Không biết chuyến này xa nhau rồi sau đây sẽ ra làm sao!
Sinh im lặng không nói gì, chỉ ứa nước mắt để tương biệt.
Sáng hôm sau chào cậu ra về. Về đến nhà, cha mẹ sinh nghe tin người mợ mới mất, đều giật mình than khóc.
Tháng sáu năm sau, người cậu mãn nhiệm trở về lại đi qua cửa nhà sinh, cũng dừng lại mấy ngày ở đấy. Từ khi người mợ mất, Phi Hồng được người cậu tự do yêu dấu; Hồng để ý giúp Kiều, dịp ấy nhân nói với người cậu rằng:
- Phu nhân không may tạ thế, Thiện Phủ (em trai Kiều) còn nhỏ, việc nhà không có người chủ trương, vậy tưởng nên kéo cả anh ấy cùng đến nhà ta để trông nom đỡ mọi việc; vả tiện khi anh ấy chưa đi nhậm chức.
Người cậu vui vẻ bằng lòng ngay, định rủ sinh đi; song khi ngỏ lời thì cha mẹ sinh không bằng lòng. Sinh nghe thấy việc người cậu định rủ mình đi, lòng khấp khởi mừng, thừa lúc vắng vẻ, nói với Hồng để Hồng giục cậu cố nài mình đi theo kỳ được. Người cậu theo lời cố nói, cha sinh bất đắc dĩ phải cho sinh đi. Sinh nhân thế lại được đến ở nhà cậu. Ở được hai tháng, người cậu vì phải đi vận động để được bổ nhiệm, bảo sinh rằng:
- Trong nhà lắm việc, các em mồ côi và còn nhỏ tuổi cả, vậy anh nên cứ ở đây trông nom hộ cậu, đợi khi có chỗ khuyết nào tốt, cậu sẽ hết sức giúp anh.
Sinh vâng lời.
Sinh đút lót rất hậu cho những đầy tớ của cậu, người nào cũng rất bằng lòng với sinh cả. Nhân thế, sinh được cùng Kiều quấn quít, không còn bị ngăn cách gì nữa; gác gấm thâm nghiêm, rèm hoa lộng lẫy, cửa son cùng tựa, gối ngọc chung nằm, lúc cười cợt hoa, khi ngâm người nguyệt, lạc thú ở nhân gian, đã hưởng thụ một cách đầy đủ.
Ước chừng nửa năm thì người cậu về, nói công việc bổ nhiệm chưa xong phải tạm đi lĩnh một chức phó viên ở My Châu. Bọn người nhà vì đã ăn đút của sinh, vả nhân là một việc quan hệ nên không ai dám mách lẻo cả, chỉ ca tụng sinh là một người rất tốt. Người cậu về xem thấy cửa nhà rất đâu ra đấy, biết sinh là một người tài sán có thừa, vả lại tuổi trẻ đỗ cao, tiến trình chưa thể hạn lượng được, rất hối cái việc ngày trước sinh cầu hôn mà mình từ chối, bèn bảo Hồng thử dò hỏi xem ý sinh bây giờ thế nào.
Một tối sinh đương cùng ngồi chơi với Kiều, Hồng vào bảo rằng:
- Này cậu và cô, cái ước nguyện bình sinh đã được thoả đấy, tôi xin có lời chúc mừng.
Kiều hỏi thì Hồng nói:
- Quan nhà đã bằng lòng cho cô cậu lấy nhau đấy, có bảo tôi thử dò ý cậu, xem cậu có còn muốn thế không. Kiều nói:
- Trời lại tựa người như vậy ư?
Đêm hôm ấy mừng rỡ quá đến không ngủ được.
Hồng trả lời để người cậu biết, cậu bèn đưa mối sang nhà sinh. Cha mẹ sinh cũng đều bằng lòng; lễ vật đưa sang, chỉ còn chờ ngày làm lễ cưới.
Lại nói về Đinh Liên Liên, từ sau khi tương biệt với Sinh, một hôm chợt vào Suý phủ đến chỗ thư viện, thấy những bức tranh mỹ nhân còn treo trên vách, ả ngẩng đầu nhìn ngắm hồi lâu. Lúc ấy người con trai quan Suý cũng đứng ở đấy, hỏi ả rằng:
- Thiên hạ có những người đẹp như thế không?
Ả nói:
- Có chứ?
Nhân trỏ bức vẽ hình Kiều mà nói:
- Bức vẽ này so với chân dung người thật, chưa thấm vào đâu cả. Người con gái này chân cực nhỏ, mày cực dài, văn thơ hay không ai có thể vượt được. Nghiệm một người ấy thì biết những người khác chắc cũng không kém thua bức vẽ.
Con trai quan Suý mừng rỡ nói:
- Nếu vậy, ta sẽ lấy người con gái ấy.
Liên nói:
- Vô dụng! Cô ta tôi nghe đã có người tình, chắc thân thể chẳng con nguyên lành.
Con quan Suý nói:
- Được người đàn bà như thế làm vợ đã là may mắn lắm, còn sự đó có thể không cần.
Liên Liên rất hối là mình đã lỡ lời, cố nói giãn ra mà cũng không được. Con quan Suý bèn nhờ người khẩn nài cùng cha cầu hôn với nhà họ Vương, Vương bấy giờ đương ở My Châu chưa về, nên việc ấy còn tạm gác lại. Sau Vương lại về để đợi thuyên bổ, quan Suý bèn sai người cầu hôn. Ban đầu Vương chối từ đến ba bốn lần; nhưng sau quan Suý bức bách bằng uy thế, buông thả bằng tiền tài, bất đắc dĩ Vương phải nghe vậy. Đêm ấy Kiều cầm thư của quan Suý đến buồng sinh bảo rằng:
- Cái hôm ước hôm nọ lại hỏng mất rồi! Con trai quan Suý cầu hôn, cha em bị bách về quyền thế, đã phải ưng thuận. Anh có kế gì không?
Sinh nói:
- Để rồi anh sẽ từ đồ.
Kiều từ đấy càng năng gặp sinh. Nhưng mỗi khi gặp nhau, nàng lại buồn rầu không vui. Nàng vốn hát hay, mỗi khi hát bằng giọng buồn rầu, khiến người nghe phải động dung hoặc đến rơi lệ. Tuy cùng sinh tương đắc bấy lâu, nhưng chưa từng hát cho sinh nghe bao giờ cả. Có khi đương hát mà biết sinh nghe trộm, nàng lại thôi ngay; sinh vẫn lấy làm tức mình. Đến bây giờ sinh vừa nhắp miệng bảo hát, nàng liền hát ngay một bài:
Việc đời biến chuyển như không!
Đôi ta ân ái mặn nồng bấy lâu.
Tin vui vừa đến cho nhau,
Tin buồn thoắt đã theo sau, chẳng ngờ
Mối manh thôi đã bằng thừa.
Giai kỳ đã lỗi bây giờ hỏi ai?
Muốn ca, nghẹn chẳng nên lời,
Đông tây từ đó mỗi người một phương,
Kinh thay những buổi hôn hoàng,
Ngoài song mưa khóc trong hàng bích ngô.
Nỗi mình nghĩ lại cay chua,
Gió đông làm bạn, mình thua mận đào.
Nguyên văn:
Thế gian vạn sự chuyển đầu không.
Hà vật tự tình nùng?
Tân hoan cộng bả sầu my chiển
Tẩm tri đạo lân hận trung phùng.
Môi chước vô bằng.
Giai ký hựu ngộ.
Hà xứ vấn lưu hồng?
Dục ca tiên yết ý xung xung
Tòng thử các tây đông.
Sầu phạ đào hoàng hôn,
Song nhi ngoại sơ vũ khấp ngô đồng.
Tủ tế lư hương.
Bất như đào lý do giải giá đông phong.
Hát chưa hết bài, mặt Kiều đã thảm thê và nước mắt trút xuống như mưa tầm tã. Ngày thường sinh hay có những sự ước muốn mà không được thoả, bấy giờ Kiều đều đem vàng bạc mua sắm để tặng sinh cả. Một hôm nhà có tiệc, ăn xong trở về phòng ngủ, nhưng sinh say rượu còn ngồi ngất ngưởng chưa đi nằm. Kiều đốt sáp đứng hầu bên cạnh. Sinh thung dung hỏi rằng:
- Gần đây sao em chiều anh quá thế?
Kiều nói:
- Ban đầu em tưởng là có thể gửi cả một đời vào anh. Nhưng nay đã không được như nguyện, cái ngày thờ anh chỉ có hạn mà thôi. Vậy dù đem hết thân này mà chiều chuộng anh đến bực nào, cũng chưa đủ tạ lòng anh được.
Sinh nghe nói rất là cảm động.
Sau đó mấy hôm, Kiều bỗng bị ốm nằm một chỗ, đến hai tháng trời không được cùng sinh hội họp. Một hôm nhân người cậu đi vắng, sinh đút lót các kẻ hầu hạ, muốn được gặp Kiều. Bọn họ bèn vực Kiều đến cạnh buồng sinh. Sinh đón gặp Kiều, hai người cùng nghẹn ngào nức nở. Lúc lâu Kiều mới nói:
- Vui quá hoá buồn, lời tục ngữ thật là rất đúng. Bệnh em khó lòng mà khỏi được. Nhưng sống không được thoả nguyện thì chết cũng xin theo dõi ở bên anh.
Nói xong, lả người vào lòng sinh như là ngất đi. Bọn tôi đòi sợ hãi vội vực trở vào. Lúc lâu Kiều mới tỉnh lại. Sinh từ đó cũng sinh ra thẫn thờ buồn bã, nói năng lẩn quẩn, việc vừa trước mắt, chỉ một lát đã quên lú rồi. Người cậu rất lấy làm lạ.
Mùa thu tháng tám, con trai quan Suý đưa lễ vật đến, hẹn kỳ sẽ làm lễ thân nghênh. Người cậu nhận lời.
Kiều ốm đã đỡ; vì sự sai bảo, quở mắng một con hầu nhỏ là Lục Anh, Lục Anh tức tối, nhân lúc vắng vẻ, đem hết việc Kiều làm hàng ngày, kể thực cho người cậu biết. Cậu tức giận, dò hỏi Phi Hồng và định sẽ trừng trị. Hồng chối rằng:
- Tiểu nương tử là người đọc sách biết lễ, há lại không biết thất thân là một điều nhục lớn. Vả lại người vốn trì trọng ít nói, quý thân thể như là vàng ngọc, đại nhân hẳn đã biết đấy. Huống chi thân sinh công danh đã đến tay rồi, cử động rất là đứng đắn, thường nhà trên có mời mới lên, đối với Kiều chưa từng nói một lời nào đùa cợt cả. Nếu có cái việc bất chính thì thể nào thiếp lại không biết. Lời nói của những kẻ đầy tớ, sao nên tin nghe làm gì! Vả ngày cưới đã sắp đến nơi, không nên tự làm ra một câu chuyện chẳng đẹp đẽ ấy.
Người cậu bấy giờ đương yêu Phi Hồng, nên liền tin nghe lời ả, không hỏi gì đến việc ấy nữa, chỉ để ý phòng giữ hơn trước mà thôi.
Thân sinh thấy tình thế không nên ở nữa, bảo với Kiều rằng:
- Câu chuyện của chúng ta cậu đã biết rồi. Vậy anh phải về chứ không tiện ở đây nữa. Kỳ cưới của em chỉ còn cách có hai tháng nữa. em nên khéo thờ người chồng mới. Hai chúng ta quyết biệt từ đây.
Kiều giận nói:
- Anh là một kẻ trượng phu, đường đường một tấm thân bảy thước. Vậy mà không giữ nổi một người đàn bà mình yêu dấu, việc đến thế này, đành phải trao cho một người khác, lòng anh yên được hay sao! Thân em không thể lại chịu nhục được đâu! Đã đem trao tặng cho anh thì thân này là của anh rồi.
Kiều bưng mặt khóc rưng rức. Sinh bối rối, về hay ở rất là khó quyết. Bỗng đâu tiếp được bức thư nhà, nói cha bị ốm, sai đầy tớ đem ngựa sang đón, giục sinh phải về. Sinh bất đắc dĩ, vào chào cậu để xin từ biệt. Bấy giờ cậu sinh ngồi ở trung đường, Kiều nghe tin ra đứng bên cha, để mắt nhìn chòng chọc vào sinh không nói nửa lời. Người cậu nói:
- Cháu về nhà, sau khi cha cháu mạnh khoẻ vô sự, nên lại đến đây. Còn em Kiều ngày cưới đến nơi, việc nhà bộn bề, vắng cháu thì chẳng biết lấy ai trông nom cho được.
Sinh từ chối:
- Em cháu ngày cưới gần đến nơi rồi; cháu về nhà, ít cũng phải vài tháng mới lại đi được, vả kỳ tựu nhiệm cũng sắp đến, thường mấy năm nữa mới lại được gặp cậu cũng chưa biết chừng. Xin chúc cậu giữ gìn ngọc thể được mạnh khoẻ luôn.
Sinh nhân phục xuống lạy hai lạy. Người cậu nói:
- Em nó sắp về nhà chồng, cháu lại chưa nhất định cái kỳ lại đây, thế thì anh em chưa biết bao giờ mới lại được gặp nhau.
Người cậu nhân bảo Kiều ra chào biệt sinh. Kiều lúc ấy nghe nói, nước mắt giàn giụa hai hàng, sợ cha trông thấy không dám quay ra, vội lui lủi trốn vào, gọi ba bốn lần cũng không trở lại. Sinh bèn từ biệt cậu ra về.
Kiều từ khi sinh về, ngày đêm khóc lóc chẳng thiết gì đến gương lược, mặt hoa càng biến đổi đi dần. Ước gần nửa tháng thì bệnh lại nặng lắm, dần đến cái thế nguy kịch. Hồng bèn ngầm đưa thư sang cho sinh, bảo nên đến cùng Kiều quyết biệt. Sinh được thư, nghĩ không có cớ gì không dám xin phép hai thân, bèn nhân đêm đi lén đến cửa nhà Kiều, ở đấy hai ngày người cậu vẫn không biết. Sinh đỗ thuyền ở dưới bến sông, định được gặp mặt Kiều một lần thì sẽ quay về, vì sợ cha mẹ biết sẽ bị nghiêm trách. Ngày hôm sau, người cậu nhân đưa quan thái thú cũ ra ngoài thành, Hồng bèn vực Kiều lén ra xuống thuyền của sinh. Kiều cầm tay sinh khóc mà nói:
- Em không may bị bách về quyền cha mẹ, không thể làm bạn cùng anh được. Anh nay đường mây muôn dặm, rồi đây sẽ kén chọn lứa đôi tốt đẹp, cùng hưởng vinh quý; còn em thì chẳng dám mong gì, Ngày trước đôi ta ngồi bên lò sưởi, em có nói việc nếu không thành, em xin lấy cái chết để tạ lòng anh, lời nói ấy, em chẳng khi nào dám trái. Anh là người khí chất đơn nhược, thường hay lắm bệnh, nên để ý về sự điều dưỡng, đừng bận nghĩ gì đến em nữa.
Kiều càng khóc một cách thê thảm; Hồng cũng không cầm được nước mắt.
Lúc lâu, Hồng sợ sẽ xẩy ra sự gì, nói dối Kiều rằng:
- Quan nhà sắp về đấy, ta nên lên bờ đi thôi.
Kiều ngậm lệ khẩu chiếm một bài thơ tứ tuyệt:
Hợp hoan dải thắt nút Chân Châu,
Từng nút tròn lành chẳng khuyết đâu.
Bao độ trên tay đem ngắm nghía,
Đâu ngờ nghìn thuở đến xa nhau.
Nguyên văn:
Hợp hoan đới thượng Chân Châu kết,
Cá cá đoàn viên cựu vô khuyết,
Đương thời bả hướng chưởng trung khan.
Khởi ý kim chiên thiên cổ biệt.
Sinh đau buồn không thể hoạ được, chắp tay vái mà từ biệt.
Ngày cưới của Kiều đã sắp đến, nàng bèn giả cách làm như người điên rồ, đầu bù mặt bẩn, để mong từ chối được việc hôn nhân ấy. Cha nàng bức bách, nàng lấy lưỡi dao toan tự tử, nhưng may tả hữu cứu được nên không chết. Nàng nhân tuyệt thực mấy ngày, nằm bệt không dậy được. Hồng phải lấy lời khôn khéo dỗ dành rằng:
- Cô ngày thường bốn người khôn sõi, há lại không am hiểu thế sự. Nhà quan Suý là bậc phú quý tuyệt mực, các con em đều là những người thông minh đứng đắn có phần hơn cả Thân sinh. Vậy cô can gì mà tự khổ như vậy! Vả nghe lời người mối nói thì chú rể thèm khát muốn lấy được cô lắm kia, rồi đây chửa biết hắn sẽ quý cô đến thế nào! Tội gì mà cô lại tự phí cái mình như thế làm gì! Huống chi Thân sinh sau khi về nhà, cũng đã cầu hôn một nhà sang trọng rồi, tức là chàng cũng đã thôi không nghĩ về cô nữa.
Hồng nhân vẽ phác hình tượng con trai quan Suý đưa cho Kiều xem và nói:
- Cô được người chồng như thế, tưởng cũng không uổng phụ một đời.
Kiều nói:
- Người ta đẹp thì đẹp thật. Nhưng tôi cũng không thể được thờ người ta. Chí tôi không sao thay đổi được đâu.
Hồng lại dối trá đem những thoa vòng, các đồ mà trước kia Kiều tặng cho sinh, bảo là sinh đưa trả lại. Kiều khóc mà nói:
- Gần nhau mấy năm, tấm lòng của sinh tôi đã rõ lắm. Chàng thấy tôi ốm yếu mãi, nên làm như thế để cho tôi phải quên chàng đi đó thôi.
Nhưng sau đem những đồ vật ấy nhận kỹ, thấy là không đúng, nhân nói rằng:
- Tôi đã biết sinh không thể như thế mà. Ban đầu tôi lấy sự bất chính mà đãi sinh, rút lại đến nay tôi lại bội chàng để đi lấy người khác, thế thì tôi là tuồng dâm đãng, còn ra gì nữa! Đã không giữ được trước, lại không vẹn được sau, người ta sẽ bảo tôi là người thế nào? Hồng Nương tử vốn yêu thương tôi, xin bất tất phải nói nhiều; cố nhiên tôi phải liều bỏ thân này để tạ tấm lòng sinh cho xứng đáng.
Người cha nghe thấy như vậy cũng thương xót lắm, nhưng việc đã nghiệp dĩ, không thể làm sao được nữa, đành chỉ bảo bọn Hồng tìm trăm cách dỗ dành yên ủi, cũng chẳng có công hiệu gì.
Kiều nhân làm hai bài thơ này gửi đi để quyết biệt sinh:
I
Chung tình đến thế hiếm xưa nay,
Mộng đẹp ngờ đâu đến nỗi này!
Trước gió rưng rưng đôi mắt lệ,
Dương đài còn đến hoá mưa bay.
II
Trăng có tỏ mờ với tròn khuyết,
Người có bi hoan cùng hội biệt.
Bên lò thầm nói quỷ thần hay,
Má thắm vì chàng xin phá diệt.
Nguyên văn:
Như thử chung tình cổ sở hy,
Hu ta hảo sự đáo đầu phi:
Uông nông lưỡng nhỡn tây phong lệ,
Do hướng Dương đài tác vũ phi.
Nguyệt hữu âm tình dữ viên khuyết,
Nhân hữu bi hoan dữ hội biệt.
Ung lô tế ngữ quỷ thần tri
Biện bả hồng nhan vị quân tuyệt.
Cách đó vài ngày Kiều chết. Sinh vừa mới nhận được thơ thì tin buồn cũng tiếp đến theo. Sinh bàng hoàng như là mất một cái gì, đối cảnh đau lòng, ngồi một mình thường lấy tay viết lên trên không, miệng thì lẩm bẩm như là nói chuyện với ai vậy. Rồi sinh làm bài sau này để viếng Kiều:
Gặp nhau trong Thục những lần,
Yên tài sớm đã trao thân nghìn vàng,
Xinh trai thủa trước Phan lang,
Mà duyên kỳ ngộ phải nhường thua ta.
Đồng tâm nguyện chữ cùng già,
Trước thần minh đã thiết tha khấn nguyền.
Vì đâu rẽ thuý chia uyên?
Đành thôi, tan tác lứa duyên còn gì!
Mưa tuôn dòng lệ lâm ly,
Theo nhau liệu phải cùng về Cửu nguyên.
Anh sinh là Luân thấy câu đối có giọng bất tường, tìm lời khuyên giải mấy lần, nhưng sinh cũng không sao khuây khoả đi được. Sinh lại đề một bài thơ lên vách để từ biệt cha mẹ rằng:
Đậu ông đức lớn tựa cây xuân.
Sái mẫu niên cao cùng tuổi hạc,
Sinh dục ân sâu chửa báo đền,
Vì tình thân đã đành oan thác.
Đề xong, lấy một bức khăn là thơm của Kiều tặng ngày xưa, buộc vào cửa sổ mà tự ải: may người nhà biết, cứu được khỏi.
Anh Luân và các người quen biết đều đến khuyên giải. Người anh nói:
- Đại trượng phu chí ở bốn phương. Em tuổi trẻ đỗ cao, mây xanh dưới gót, thế mà đành cam chịu chết ở trong tay người con gái ư? Phương chi thiên hạ thiếu gì đàn bà đẹp, hà tất lại phải như vậy!
Sinh biến sắc, nghẹn hơi, không thể trả lời ngay được, thủng thỉnh nói được một câu:
- Giai nhân nan tái đắc.
Rồi ngoảnh vào hai thân mà ân cần nói:
- Anh hai con tài học hơn người, công danh sẵn bước, kỳ bổ quan cũng sắp sửa đến, tiến trình muôn dặm, đủ để hiển thân dương danh và làm vẻ vang cho môn hộ nhà ta: nối dõi tông đường, một anh con cũng đã đủ rồi. Mong hai thân rủ ơn cho con mà rộng lòng tha thứ.
Lại ngoảnh vào anh Luân mà nói:
- Hai thân tuổi hạc càng cao, việc thị dưỡng từ đây trông cả vào anh; em là kẻ bất hiếu, không đền trả được công ân trời bể.
Từ đấy sinh tâm thần mê mải, không thiết ăn uống, ngày một gầy rạc đi rồi chết. Cha mẹ sinh khóc thương vật vã, lập tức viết thư báo tin với người cậu. Cậu được thư, rồi cả bọn Phi Hồng biết tin, cả nhà đều thương khóc. Người cậu bấy giờ mới gọi Hồng trách mắng:
- Sao trước ta hỏi, nàng lại không nói thực với ta! Gây thành những hoạ biến đến như ngày nay, đều là cái lỗi của nàng cả.
Hồng không trả lời làm sao được, đành phục xuống đất nhận tội và van xin. Lúc lâu người cậu mới nguôi giận, nói rằng:
- Việc đến như thế, hối lại đã không kịp nữa rồi. Hai lần chối việc hôn nhân, cũng là cái tội của ta nữa.
Người cậu vì xót thương mà càng hối hận lắm, lại bảo Hồng rằng:
- Nguyện ước lúc sống, chúng nó đã không được thoả, âu là ta cho được vẹn mối nhân duyên sau khi đã chết. Nay ta viết thư sang nói chuyện, sẽ đưa cữu của Kiều về nhà họ Thân để táng cùng một huyệt với nhau. Kẻ chết mà có linh thiêng, chắc cũng được hả lòng ở dưới suối vàng.
Đó rồi người cậu viết thư sang, tỏ ý của mình với cha mẹ Thân sinh. Qua tháng sau chọn được ngày lành, người cậu cho đưa cữu Kiều về nhà sinh, lại viết một bức thư tự hối trách mình về sự đã hai lần trái lời hôn ước, sai Phi Hồng sang điếu viếng và giúp đỡ tang sự. Lại hơn một tháng nữa, sau khi mọi người đồng ý cả, bèn đem hợp táng hai cữu của sinh và Kiều ở bên sông Trạc cẩm.
Việc tang ma đã xong, Hồng trở về nhà; sáng hôm sau nhân cùng Tiểu Tuệ đi qua nơi buồng ngủ của Kiều, bỗng trông thấy Kiều cùng sinh đương ngồi đối diện nhau nói cười vui vẻ. Hồng hoảng hốt chạy đi báo với người cậu. Người cậu vội vàng chạy vào xem, đã không thấy gì, chỉ thấy trên vách có một bài từ, dịch ra như sau này:
Buồng lan sớm dứt dây ân ái.
Chốn đài dao tìm tới sum vầy.
Về thăm chốn cũ hôm nay,
Cảnh còn nguyên đó, người rầy khác xưa.
Ánh trăng toả trong như nước dội,
Sáng soi trên mồ mới đôi uyên.
Hạc vàng cất cánh bay lên,
Biết bao giờ nữa còn duyên trở về?
Nguyên văn:
Liên khuê ái tuyệt
Trường hướng bích dao thâm xứ yết.
Hoa biểu lai quy
Phong vật y nhiên nhân sự phi
Nguyệt quang như thuỷ
Thiên chiếu uyên ương tân chủng lý
Hoàng hạc thôi ban
Thử khứ hà thời đắc tái hoàn?
Người cậu xem thấy bài từ đó, bất giác xót thương không biết chừng nào. Nét chữ viết chỗ đậm chỗ nhạt, sau một lát thì mờ đi mất. Mọi người đều kinh dị ta thán hồi lâu.
Nguồn: Tình sử. Trúc Khê dịch. NXB Văn học, 2002.
|