tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
26.06.2012
Anna Seghers
Chốn nương thân


Vào một buổi sáng tháng 9 năm 1940, khi trên Quảng trường Xôglaxie ở Pari tung bay lá cờ lớn nhất được cắm lên bởi những tên lính Đức xâm lược, và khi những “cái đuôi”(1) trước các cửa hàng bám theo tận đường phố dài nhất, Luiza Menie, vợ người thợ tiện, mẹ của ba đứa con, nghe nói cửa hàng thực phẩm khu phố 14 bán trứng.


Chị đi nhanh đến đó, đứng xếp hàng cả giờ, mua được năm quả, đủ cho mỗi người trong nhà một quả. Nhưng chị chợt nhớ đến người bạn gái ở gần chị trước đây cùng học ở trường, Anneta Villar, nay đang làm việc quét dọn lau chùi trong khách sạn. Ghé vào chỗ người bạn gái, chị găp bạn không hiểu sao đang nổi nóng, khác với một người phụ nữ vốn dịu dàng, biết tự kiềm chế như bạn.


 


Lau các cửa sổ và chùi các chậu rửa mặt – Luiza thấy thế, giúp bạn làm – Villar nói rằng đêm qua bọn Ghextapô(2) đã bắt đi một người ở đây. Trong khách sạn, anh trình giấy tờ tạm trú, nhưng bây giờ mới rõ là anh đã trốn khỏi trại tập trung của Đức. Người ấy, Villar vừa kể vừa lau kính, đã bị đưa đi Xante(3), rồi từ đó sẽ bị đưa gấp trở lại Đức, nơi nhỡn tiền, anh sẽ bị treo cổ. Nhưng cô ta không chỉ lo lắng cho số phận của người thuê phòng kia – cuối cùng thì đàn ông vẫn là đàn ông, chiến tranh vẫn là chiến tranh – cô ta còn lo cho vận mạng đứa con của người ấy. Em mới 12 tuổi. Trước đây, em sống với bố, đến trường đi học. Em nói tiếng Pháp không tồi hơn mẹ. Người mẹ đã bị chết. Việc nuôi dưỡng em phó mặc cho trời, không hơn gì những người ngoại quốc lánh nạn nói chung.


 


Đi học về, biết bố đã bị bắt, em không nói không rằng, cũng không khóc, nhưng khi tên sĩ quan Ghextapô ra lệnh cho em gói đồ để hôm sau về Đức ở với những người thân, thì em bật khóc. Viên sĩ quan quát vào mặt em: “Không được thế, câm mồm, trả lời đi, có về Đức không?” Em hỏi lại là về thì em sẽ ở đâu – về chỗ người ruột thịt hay là đưa em vào xưởng lao động cải tạo?


 


Đêm ấy, em lẻn đến tìm Anneta và yêu cầu đưa em đi trốn. Hôm sau, trời chưa sáng hẳn, cô ta đã đưa em ra khỏi khách sạn, đến một tiệm cà phê đợi. Cô nghĩ rằng thu xếp che giấu một đứa trẻ như vậy không khó, nhưng mọi người đều từ chối – vì sợ. Chỉ lo chủ tiệm đưa em đi ra trước mặt bọn Đức, rồi vì run sợ hoặc vì ác ý – thả em ra.


 


Luiza im lặng nghe Anneta, xong rồi mới nói;


 


- Có muốn mình đến đó xem thằng nhỏ không?


 


Villar đưa cho chị địa chỉ tiệm cà phê.


 


- Cậu còn không lo mà đưa thêm đồ cho nó à? – chị hỏi.


 


Chủ tiệm cà phê xem mảnh giấy Anneta do Luiza đưa, dẫn chị vào trong một cái phòng đóng kín từ sáng. Đứa trẻ đang ngồi gần cửa sổ và nhìn ra sân. Em có cặp mắt màu tro, dáng người nhỏ như đứa con trai lớn của chị, và trên người đồ mặc hầu như không có gì đáng kể: đúng là người nước ngoài. Luiza đưa đồ cho em. Em không cảm ơn mà chỉ sững người nhìn chị.


 


Lâu nay Luiza Menie cũng như tất cả mọi người mẹ khác: Hàng giờ phải đứng xếp hàng mua các thứ, ráng sức làm cái gì đó từ chỗ không có gì, và làm được một cái gì đó thì đã là cả một điều kỳ diệu. Giờ đây, thêm vào sự bận rộn của người lo toan chính trong gia đình, chị lại gánh thêm một công việc nữa, và tất cả là bởi chị thấy cần phải thế. Lúc này với ý muốn đến để xem thằng nhỏ đang lẩn trốn như thế nào, chị cảm nhận được rằng, phải xác định giới hạn, tách bạch các việc, và sức lực của chị phải tăng lên cho phù hợp với hoàn cảnh. Chị nói với cả nhà:


 


- Chiều nay khoảng 7 giờ phải đi tiệm cà phê Biar gần Khu chợ Trung tâm.


 


Rồi chị vội đi làm một số việc. Cần phải tranh thủ thời gian để xoay xở và đến bữa tối phải đặt lên bàn một bữa ăn tiềm tiệm. Mà lúc này, chồng chị đang trên đường về nhà. Anh bị bắt đi lao dịch trên đường Majinô và chỉ ba tuần trước đây mới được thả về; hàng ngày anh chỉ có việc làm nửa ngày ở nhà máy, còn sau đó tiêu phí hàng giờ trong quán rượu, rồi về nhà, cáu với cả chính mình, vì đồng lương rẻ mạt vẫn chưa nhận được ở xưởng.


 


Người vợ ái ngại khi thấy chồng có vẻ bất bình tợn, lúc đó chị đặt cái giỏ cồm cộm sang một bên, lựa lời nói với anh về thằng nhỏ, muốn anh cùng đồng cảm với mình. Nhưng khi nghe chị nói rằng thằng nhỏ lúc này đã trốn khỏi khách sạn và đang tìm sự che chở để lẩn tránh bọn Đức, thì người chồng liền ngắt lời vợ:


 


- Em cũng dại dột như bạn gái của em, Anneta! Đi bao che một việc làm vô lí. Ôi chao, đi lo cho một đứa trẻ đang ngồi chờ dưới ổ khoá... Hãy để cho bọn Đức tính chuyện với người đồng bào của chúng. Có nghĩa là bọn Ghextapô đúng, mỗi khi họ muốn bắt thằng bé về nhà. Thế mà nó lại không muốn về, trong khi bọn Hitler đã xâm chiếm khắp nơi.


 


Luiza là một phụ nữ tinh ý, chị quay lại tìm cách nói khác. Chị hiểu rằng mọi chuyện bây giờ chồng chị đều phải dựa vào chị. Anh đã tham gia vào các cuộc bãi công, biểu tình, và hàng năm, đến ngày 14/7, lúc nào anh cũng như đang chuẩn bị một mình tấn công vào ngục Baxti(4). Rõ ràng anh đang như nhân vật thần thoại khổng lồ Krixtôphor – có nhiều kẻ quấy nhiễu cần phải xua đuổi, những cái đó hút nó về một hướng, về kẻ dần lộ mặt, và cuối cùng thấy sức mạnh hơn hẳn của địch thủ, thế là, nó bị rơi vào dưới chân con quỷ đó. Tuy nhiên, đó không phải là tính cách của Luiza, chị chưa bao giờ chìm đắm trong buồn rầu. Chị có thể làm gì được: vì anh là chồng chị, vì chị là vợ anh. Bây giờ thì có thêm một đứa trẻ đang chờ chị.


 


Chiều hôm ấy chị đến tiệm cà phê gần Khu chợ Trung tâm.


 


- Chỉ đến sáng mai bác mới lại đến chỗ cháu được – chị nói với thằng nhỏ đang lẩn trốn.


 


Em tò mò nhìn chị:


 


- Đừng che chở cháu nữa, nếu bác sợ.


 


Người phụ nữ trả lời ngắn gọn rằng đừng nói vậy. Chị nói với người chủ tiệm hãy cho đứa trẻ qua đêm rồi chị sẽ đưa nó về trả lại cho người nhà của nó. Trong lời đề nghị ấy không có gì là lạ: Pari nhan nhản lính Đức.


 


Sáng hôm sau, chị nói với chồng:


 


- Em có gặp vợ người thợ rèn Alix. Chồng cô ta đang ở Pitiv, trong bệnh viện dã chiến dành cho các tù binh. Cô ta muốn đến thăm chồng vài ngày và nhờ em trông đứa con trai cô ta vài hôm.


 


Người chồng không muốn vợ mang người lạ về nhà liền nói:


 


- Hãy xem, như thế có ra gì không?


 


Luiza đã chuẩn bị cho thằng nhỏ một cái nệm. Trên đường về, chị hỏi nó:


 


- Sao cháu lại không muốn về nhà?


 


- Đừng mang theo cháu, nếu bác sợ – em lại nói. – Về nhà ư, cháu không đi đâu. Mẹ và bố cháu, bọn Hitler đã tống giam cả rồi. Chúng rải truyền đơn khắp thành phố nói rằng mẹ cháu đã chết trong tù. Bác thấy không, cháu bị mất cái răng cửa. Đó là do bọn trẻ đánh cháu ở trường, khi cháu từ chối hát những bài hát của bọn phátxít. Những người ruột thịt của cháu cũng là đảng viên quốc xã, họ đã làm cháu đau khổ và cháu đã cãi lại bố và mẹ.


 


Luiza nói trước với em để em đến nhà đừng nói gì về những điều đó với chồng chị, với bọn trẻ trong nhà và với láng giềng xung quanh.


 


Bọn trẻ bàng quan khi thấy đứa trẻ lạ. Em cũng rụt rè xa lánh mọi người, hầu như không bao giờ cười. Menie vì thế không thích em ngay. Anh nói rằng anh không thích cách thằng lỏi nhìn như vậy. Anh bắt đầu mắng vợ đã lấy mẩu thức ăn của mình cho khách, và mắng cả vợ người thợ rèn: “Đồ láo xược – ném một đứa trẻ vào nhà người lạ!”. Càu nhàu, anh lập luận. Chiến tranh đã ngã ngũ... Người Đức đã chiếm được đất nước này... Nhưng bọn chúng làm gì có kỷ luật, có trật tự!...


 


Có một lần, thậm chí anh còn đánh thằng nhỏ, khi em làm đổ bình sữa. Lúc người chồng đã đi khỏi, Luiza muốn an ủi em, nhưng em đã nói nhỏ:


 


- Dầu sao thì ở đây vẫn khá hơn ở nhà...


 


Một lần nghĩ thế nào đó, Menie nói với vợ:


 


- Ước sao sau bữa ăn được nếm một mẩu phomát ngon.


 


Và buổi chiều ấy, anh đi làm về với một trạng thái bị kích động mạnh:


 


- Hãy tưởng tượng xem anh đã thấy cái gì! Một cái xe tải của bọn Đức chở thùng phomát đầy đến tận miệng. Chúng chiếm lấy những gì chúng muốn. Những cái máy của chúng in tiền ra và chúng mua tất cả!...


 


Mấy tuần lễ trôi qua, Luiza Menie lại đến chỗ Anneta. Nhưng tất cả không làm người bạn gái vui, và cho chị hiểu rằng tốt hơn là không nên làm lộ bí mật khu phố đó. Bọn Ghextapô la hét, doạ dẫm. Chúng đánh hơi thấy trong tiệm cà phê có thằng nhỏ lẩn trốn, nghe nói có một người phụ nữ nào đó thường đến chỗ nó và sau đó hai người đã đi ra, mỗi người theo một thời gian khác nhau.


 


Khi trở về nhà, Luiza nghĩ đến mối nguy hiểm. Có thể chúng sẽ đe doạ chị và gia đình. Nhưng chị đã nghĩ nhiều về việc chị làm mà không hề so đo, như trái tim hiến dâng nhịp đập đầu tiên, tất cả những gì chị nhìn thấy trên đường về nhà: Những “cái đuôi” trước dãy cửa hàng mở cửa, số còn lại sập cửa kín mít, xe bọn Đức bóp còi inh ỏi, phóng vùn vụt trên đại lộ, phanh ken két ở chỗ ngoặt, qua những ngôi nhà – càng củng cố thêm quyết định của chị. Và, về đến nhà, bất giác chị xoa đầu thằng nhỏ, đưa nó trở lại nhà.


 


- Thằng nhỏ cứ bám lấy em hay sao? – người chồng hỏi chị.


 


Menie túm lấy áo chị giật, giận dữ: anh tiếc thay cho bọn trẻ, mọi hy vọng của anh tiêu tan, chờ đợi phía trước là cuộc sồng mù mịt, buồn chán, nô lệ.


 


Thằng nhỏ trở nên dè dặt, im lặng hơn và hạn chế tạo ra những cớ để người khác đánh giá mình, Menie thường đánh em vô cớ: lầm lì im lặng, cái nhìn trâng tráo, anh nghĩ về thằng nhỏ như thế.


 


Tự Menie – hỡi ôi – đã đánh mất cả niềm vui cuối cùng của mình. Anh trở lại như trước, hầu hết thời gian rỗi đều cúng cho quán rượu, đưa tâm hồn mình lẩn trốn ở đó. Nhưng chẳng bao lâu, bọn Đức trưng thu cái nhà của người thợ rèn trong ngõ hẻm, gần tiệm rượu. Đường phố yên tĩnh, trước nay chưa hề nhìn thấy cảnh lộn xộn, bây giờ nhan nhản bọn Hitler. Tại đây, xe bọn Đức đổ về, cần phải sửa chữa, và quân lính phát xít kéo vào tiệm rượu, tuỳ ý sử dụng mọi thứ như ở nhà mình.


 


Menie không chịu được cảnh đó. Bây giờ, anh ở nhà nhiều hơn, ngồi lì sau bàn ăn, vẻ cau có, im lặng. Có một lần, thấy anh ngồi, chống tay lên bàn, ôm lấy đầu, như thế đã cả giờ đồng hồ, Luiza hỏi anh đang nghĩ gì. Anh nói;


- Chậc, về tất cả và không về cái gì. Và, em biết không, có một ý nghĩ vừa chợt đến trong đầu anh. Hãy tưởng tượng xem, anh đã nghĩ về người Đức mà Anneta đã kể với em. Anh không biết còn nhớ không... Về người Đức, người đã chống lại Hitler mà bọn Ghextapô đã bắt. Anh muốn biết, điều gì đã xẩy ra với anh ta và đứa con anh ta.


 


Luiza nói:


 


- Cách đây không lâu em có gặp Anneta. Bọn Đức các nơi đã trở về Xante. Anh ta hình như đã bị tra tấn chết. Còn thằng nhỏ thì đã biến mất. Pari rộng lớn. Nó, có thể, đã tìm được nơi ẩn náu...


 


Không ai trong số công nhân còn muốn uống cốc rượu của mình giữa đám lính phátxít, và những người bạn của Menie, thường giữ lấy hai ba chai, rồi đưa về cất trong nhà bếp của anh, khiến trước tiên người ta cảm thấy họ kỳ quặc và thậm chí thô tục. Hầu hết các anh đều làm với nhau ở chỗ Menie, và cùng với anh họ có thể nói chuyện mà chẳng phải dè chừng gì. Họ tranh luận về việc ông chủ xưởng của họ đã dành phòng làm việc của mình cho tên uỷ viên Đức: Hắn phải đến và đi khi nào tên Đức muốn. Những tên chuyên viên Đức hỉ mũi khắp nơi, xem xét, treo đồ, cuỗm đi tất cả những gì chúng chợt nhớ đến. Mọi việc trong văn phòng không thể che đậy, những người công nhân thấy cần phải “rút gân” ai. Chuẩn bị chế tạo cái máy từ đống kim loại, người Đức sẽ chuyển về phía Đông để “uốn cong” các dân tộc khác như uốn sừng những con cừu. Và cuối cùng, chúng dồn ngắn tuần lao động, rút bớt lương, lùa con người vào thân phận nô lệ.


 


Luiza Menie che kín cửa sổ, trong nhà mọi người nói nhỏ hơn. Thằng nhỏ cụp mắt, hình như em sợ, dường như những ánh mắt mọi người nhìn nó sắc nhọn và có thể đâm vào tận tim em. Em trở nên tái mét, gầy rạc đi, Menie nghi ngờ nhìn em, em có cần cứu chữa, em có ốm không, bọn trẻ trong nhà có bị lây không.


 


Luiza tự viết cho mình một lá thư lấy tên người vợ anh thợ rèn. Chị yêu cầu Luiza để thằng nhỏ ở chỗ chị một thời gian nữa, vì chồng chị ốm nặng và chị muốn ở lại để chăm sóc anh một thời gian.


 


- Ném thằng lỏi vào nhà người lạ mà không hề biết ngượng! – Menie kêu lên.


 


Luiza trở nên hay khen thằng nhỏ: em thông minh, và sẵn lòng giúp đỡ người khác, sáng thứ 5 hàng tuần đi chợ, còn hôm nay thì xoay được miếng thịt bò mà không cần tem phiếu.


 


Trong một nhà nọ có hai chị em gái, mà cả hai thường xuyên dùng chính cái thanh danh xấu của mình. Bây giờ họ luôn đến tiệm rượu đối diện và ngồi lên đùi bọn lính Đức. Bọn cảnh sát thấy cảnh ấy kéo vào tiệm. Hai chị em cười ré, ngả ngớn trong lòng chúng, nhưng chúng không giúp họ được: Họ bị ghi tên vào sổ là đĩ điếm. Cả phố vui sướng vì chuyện ấy, nhưng hai chị em kia thì vẫn cứ lả lơi, buông thả, lính Đức bây giờ cả ngày và đêm cặp kè bên hai chị em, chúng xử sự như ở nhà mình, và ở trong nhà bếp của Menie mọi người nghe rõ việc chúng làm náo động bên đó.


 


Menie và những người khách của anh trở nên ghê tởm trước sự cai quản của người Đức. Người chồng của Luiza từ lâu đã không ngạc nhiên trước trật tự mà chúng điều khiển ở khắp nơi; đó là cách thức đã ăn sâu vào, khiến mọi người bị khốn khổ bởi trật tự đó, phá huỷ cuộc sống anh tạo nên ở nhà máy và ở nhà, tước mất niềm vui, lớn và nhỏ, sự đầy đủ, danh dự, bình yên, bữa ăn no, khí thở.


 


Rồi đến một lần hai vợ chồng ngồi với nhau ở trong phòng bếp. Sau một lúc lâu, cuối cùng Menie phá tan sự im lặng. Anh kêu lên:


 


- Chính quyền trong tay bọn chúng, làm gì được! Bọn quỷ đó rất mạnh. Giá như trên thế giới có được người nào mạnh hơn chúng! Còn ta... ta không đủ sức. Anh thì đứng như cái bình há miệng – còn em như cái nắp nằm đó. Còn cái người Đức mà Anneta đã kể với em. Em, chắc chắn, anh nghĩ rằng đã quên, nhưng anh thì vẫn nhớ. Đấy, ai mà không biết nỗi khủng khiếp! Còn đứa con anh ta! Đó, con người cần phải kính trọng!... Bạn gái của em có thể tự chăm sóc đứa con trai đó được hay không, với cô ta thì anh không mảy may can hệ. Còn đứa con trai của người Đức ấy, anh muốn mang về nhà, nó can hệ đến anh, vì sự sống! Anh muốn được yêu nó hơn những đứa con của mình và muốn cho nó ăn tốt hơn. Giá mà được che chở một đứa trẻ như thế! Còn bọn cướp thì hãy để chúng ở đó, chúng thậm chí không thoát khỏi cả ý nghĩ trong đầu anh, anh đã quyết định một điều, anh biết anh là ai, anh sẽ che chở ai. Đứa trẻ như vậy anh muốn đưa về nhà với cả tấm lòng thành!


 


- Anh đã có nó rồi đó! – người vợ nói, ngoảnh lại nhìn chồng.


 


Câu chuyện ấy tôi nghe kể ở khách sạn Khu phố 16, từ chính Anneta, người đã đến đây làm việc, như ở lại một nơi khá nguy hiểm.


 


Năm 1941


Quán Vi Miên dịch


Rút từ sách “Anna Seghers – Povesti i rasskazư, NXB. Goslitizdat, Moskva, 1957 (tiếng Nga).


Nguồn: Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/2012.


--------


(1) Từ chỉ bọn mật vụ Đức.


(2) Mật vụ Đức.


(3) Nhà tù ở Pari (Pháp).


(4) Nhà tù ở Pari (Pháp).

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »