tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
25.08.2012
Lê Văn Thảo
Bà nội tôi

Ký ức tôi còn giữ được hình ảnh bà nội tôi vào khoảng tôi lên bảy lên tám. Lúc đó là những năm đầu đánh Pháp, bà nội tôi hồi đó đã già lắm rồi, người ốm, cao lòng khòng, tay chân xương xẩu, da đen bóng, nứt nẻ như thân tràm lụt. Ong nội tôi mất lúc nào tôi không biết, nghe nói từ hồi còn trẻ. Bà nội tôi một mình nuôi con mười một người, toàn con trai, ai cũng được học hành, ba tôi và chú Ba tôi còn được lên học Sài Gòn đậu bằng tú tài. Các chú khác đều có bằng cấp. Năm 45 ba tôi đi kháng chiến, nhiều chú cũng đi, số khác đi buôn hoặc làm ruộng xa. Ở nhà một mình bà nội tôi cai quản cả cơ ngơi nhà cửa vườn tược và hơn mười mẩu ruộng. Làng tôi nằm bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, xứ đồng chua nước mặn nổi tiếng, dân cư thưa thớt, tôm cá nhiều nhưng muỗi cũng lắm, làng không có đường sá gì cả, bước ra khỏi nhà phải lội ngay xuống đồng nước, nhà này cách nhà kia kêu hú không nghe thấy. Tuy vậy làng tôi không hẳn là làng nghèo, dân tình chí thú làm ăn có người cất được nhà ngói, thấp nhứt cũng lợp lá dừa nước cột kèo bằng cây tràm lụt. Nhà bà nội tôi thuộc loại khá giả, trung nông lớp trên hoặc tương đương như vậy. Có một dạo bà nội tôi xây được nhà nền đúc, mái lợp ngói âm dương, tường ốp gạch bông xanh đỏ, phía sau có nhà kho lẩm lúa. Sân nhà rộng lót gạch tàu làm sân phơi lúa, vườn sau trồng đủ thứ cây trái không thành hàng lối gì, có cây me già cao ngất chim chóc đậu hót ríu rít suốt ngày. Bà nội tôi nuôi gà, nuôi heo, trâu có ba đôi, chó mèo mặc sức sanh đẻ chạy rong trong nhà. Cảnh nhà bà nội tôi nói chung khang trang từ trước ra sau, chỉ trừ bà nội tôi là người chủ lúc nào cũng lam lủ tất bật, quanh năm chỉ bộ đồ bà ba đen bạc phếch, tay áo xăn tới khuỷu, quần xăn tới gối, đầu trần chân đất suốt ngày lặn lội ngoài đồng. Bà nội tôi quán xuyến tất cả việc cày cấy gặt đập hơn mười mẩu ruộng, làm từ việc lớn như coi sóc hằng trăm nhân công, tới việc nhỏ như đắp ống bọng, xả nước vào mương, thắt con cúi un muỗi cho trâu. Việc nào bà nội tôi cũng làm chăm chú hối hả, mặt mày cau có gắt gỏng, việc làm ruộng đối với bà nội tôi là việc quan trọng, cũng là nổi khổ lớn nhứt. Không nghe bà nội tôi than phiền điều gì, cũng không thấy hả hê vui sướng. Bà nội tôi làm ruộng bán lúa được nhiều tiền, lâu lâu giở tiền trong tủ ra phơi đầy một góc sân. Có một dạo cướp nổi lên dữ quá, không dám cất tiền trong tủ bà nội tôi đem dấu trên mái lá sau bếp, dấu nhiều chỗ rồi quên đi, lâu lắm mới nhớ ra lấy xuống phần bị ướt phần bị mối ăn hư rách gần hết. Bà tiếc của đem ra sông giặt rửa, phơi khô bó lại thành một bó thảy lên đầu tủ, cho mục dần đi với năm tháng. Tôi không biết bà nội tôi xài tiền vào đâu, bản thân bà không có nhu cầu gì, quanh năm chỉ vài bộ quần áo vải thô, cơm ngày ba bữa cá bắt dưới sông rau hái ngoài đồng, gà vịt nuôi dành ngày giổ tết đải khách. Lâu lâu thấy bà mua về bộ ván gỏ, bộ ghế xa-lông để ở nhà trên, nơi không khi nào bà bước chân lên tới, nhưng cửa nhà lúc nào cũng rộng mở, mặc cho gà vịt đậu ỉa, heo làm chỗ gải lưng. Một lần tôi nhìn thấy một con heo ngồi chồm chổm trên chiếc ghế xa-lông, một lần khác một con nghé từ đâu chạy xộc vào đứng giữa nhà nhìn quanh, khịt khịt mủi ngó chiếc tủ kiếng thấy hình nó trong đó, hoảng sợ chạy tuôn ra ngoài đồng xa, lôi cách mấy cũng không chịu trở vào.


Ruộng bà nội tôi rải rác khắp làng, mỗi thửa có một tên rất kỳ lạ, tên Giây Sấm, thửa khác tên Ông Bầu. Trâu bò cũng có tên, bà gọi chúng như con cháu trong nhà: con Pháo, con Xe… Nhà có người làm duy nhứt là thằng Tý mười lăm tuổi, chuyên giữ trâu, mồ coi cha mẹ, ở lâu thành như người nhà. Những người làm khác bà nội tôi thuê mướn theo mùa vụ, bà không ngại la mắng, không chỉ với chuyện làm ruộng mà còn chuyện nhà cửa vợ con, uống rượu say làm biếng để cỏ một lan trong vườn nhà. Có một lần bà nội tôi chửi rủa thậm tệ một người làm công vì người này ngủ quên để nước ngập ống bọng, ao nhà cá ra hết ngoài sông. Hôm sau bà nội tôi ân hận đem tiền tới cho, rồi hôm sau nữa lại la hét chửi nữa. Quan hệ bà nội tôi với chòm xóm không hiểu như thế nào, người khen kẻ chê, có người chửi bới, người khác đội ơn. Nhưng trên hết mọi người đều kính nể bà nội tôi, là người làm ruộng giỏi, sản lượng lúa cao hơn hẳn người khác.


Làng tôi ngoài chuyện đồng chua nước mặn còn thêm thời tiết thất thường, khi nắng hạn đất khô nứt nẻ, khi mưa dầm nước ngập linh láng, hết tát nước ra lại bơm nước vào. Rồi chiến tranh liên miên, năm này tháng nọ không lúc nào ngớt bom đạn. Những năm đó và mãi về sau này tưởng như thằng giặc có thù riêng gì với làng tôi, bom pháo dập liên hồi, hai ngày có trận càn lớn ba ngày có trận càn nhỏ, máy bay đi ném bom ở đâu chiều về cũng trút bom dư xuống đó. Thời giặc Tây có thằng Tây Ngựa thằng Tây Búa gian ác khét tiếng, giỏi đi càn bố bắn phá giết chóc cũng giỏi bắt gà vịt, xúc lúa. Lúa chôn dưới đất dấu trong quan tài chúng cũng lôi ra. Thằng Tây Ngựa chạy giỏi như ngựa, chuyên rượt bắt dân làng. Thằng Tây Búa giết người bằng búa.


Dân làng tôi căm thù thằng Tây Búa, tổ chức một toán người giả làm những thằng hình rơm giữa đồng, toàn đàn bà con gái, rình phục cả tháng trời mới bắt được nó. Chuyện đó tôi chỉ nghe kể, còn thằng Tây Ngựa tôi có gặp mặt. Nó cao lêu nghêu, chân dài như sào, mặt đỏ lựng lầm lỳ cau có, dẫn lính đi càn sục vào tận chuồng heo chuồng gà, ra sau vườn ngồi chồm hổm ngó xuống ao cá, chống súng ngó lên ngọn cây me già. Tôi đi theo sau nó, đầu chỉ ngang tới gối, nó quay nhìn tôi trợn mắt huơ huơ cái ống vố bằng nắm tay, như muốn nói chỉ cần chiếc ống vố đó thôi, nó cũng có thể đập chết tôi. Đó là vào năm 47, ba tôi đi kháng chiến đã hai năm, má tôi đem anh em tụi tôi từ Sài Gòn về cất chiếc chòi nhỏ cạnh nhà bà nội tôi, đồ đạc chỉ có chiếc rương lớn đựng quần áo, và chiếc kệ sách toàn chữ Tây, vì ba má tôi học trường Tây. Thằng Tây Ngựa đi sải chân giáp vòng nhà, dừng lại chiếc kệ sách ngắm nghía, lấy một quyển sách giở ra coi. Nó coi liền mấy cuốn như vậy, cuốn nào cũng chỉ giở lật vài trang đọc lẩm nhẩm rồi trả về chỗ cũ, xếp ngay ngắn, mặt vẫn cau có lầm lỳ. Rồi nó bỏ đi, không đốt nhà tôi như nó vẫn thường làm trong những trận đi càn trước đó. Do mấy cuốn sách, tôi đoán vậy. Nhưng nó đọc gì, hiểu gì trong mấy trang sách ngắn ngủi đó?


Hôm đó nó bắn chết ba người, đốt năm căn nhà, xế chiều trở lại cho lính xúc lúa bà nội tôi.


Thằng Tây Ngựa đứng giữa sân (nó không bao giờ ngồi), khẩu súng ngắn xề xệ bên hông, khẩu tiểu liên trong tay, trông đúng một thằng lính chuyên nghiệp. Nó hò hét chỉ huy đám lính xúc lúa. Đám lính bỏ hết súng, mình trần chân đất ồn ào cười nói, la hét chọc phá nhau, tranh nhau chạy ào vào lẩm lúa xúc từng thúng lớn đội lên đầu chạy băng xuống bến sông, đổ vào chiếc ghe chài lớn đậu sẳn đó. Bà nội tôi chạy bám theo đám lính níu kéo, quần áo rách bươm tóc tai sút sổ. Nhiều tên lính bị bà nội tôi túm được, hai bên giằng co, thúng lúa đổ văng tung tóe áng cả lối đi.


Thằng Tây Ngựa nói với bà nội bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ như ngậm kẹo:


“Bà già yên tâm, nhà nước Pháp mượn lúa có giấy tờ đàng hoàng. Còn hơn cho tụi Việt Minh ăn không. Bọn chui rúc trong lùm bụi có gì mà trả?”.


Một tên lính chạy như bay đụng bà nội té nhào, thúng lúa đổ tung tóe, tên lính cầm chiếc thúng không giơ cao cười ré lên, bà nội quì sụp xuống quơ tay gom hốt từng bụm lúa.


Đêm hôm đó chú Sáu dẫn một toán du kích về tới. Toán du kích mình mẩy đầy bùn sình, mặt mày trầy suể. Chú Sáu đứt cả vạt áo, quần chỉ còn một ống. Chú đi ra sau coi lẩm lúa rồi trở lại cười nói:


“Tụi lính xúc hết lúa rồi hả má? Thôi không sao, má làm ruộng giỏi lúa lại đầy bồ nữa thôi”.


Bà nội ngồi dựa gốc cột, mệt mõi, chán nãn, không nói gì. Chú Sáu ngồi xuống cạnh bên vuốt vai bà nội tôi. Tôi hỏi xin chú chiếc ê-tuy đạn. Chú cười nói:


“Tao có bắn phát nào đâu. Tụi nó đông quá súng ống rần rần, tụi tao chỉ có chạy thôi”. Rồi kêu: “Tụi con đói bụng quá, má còn gạo nấu cơm không?”


Bà nội đáp:


“Tụi bây làm du kích không đánh chúng để chúng xúc lúa tao, giờ còn đòi ăn cơm gì nữa?”.


Chú Sáu cười:


“Tụi nó đông quá có súng lớn tụi con đánh không lại. Thôi để bữa khác tụi con đánh, giờ ăn cơm cái đã”.


Bà nội tôi đứng dậy đi ra sau vườn khui chiếc hầm dấu lu gạo, xúc nửa rổ đem đi vo, nổi lửa đổ vô chảo nấu, cơm chín xúc ra chén đưa từng người, chú Sáu và toán du kích ăn hết chảo cơm lớn, ăn luôn cơm cháy, kéo ra lu nước mưa lấy gáo múc uống ừng ực. Bà nội ngồi nhìn chú Sáu và toán du kích, nói:


“Tụi bây đừng về đây nữa. Tụi bây cần gạo tao đem cho. Tiền cũng được. Nhưng tụi bây về đây đám lính có cớ xúc lúa tao, không cho tao làm ruộng”.


Chú Sáu cười:


“Tụi con không về đám lính cũng xúc lúa của má. Má bỏ tụi con sao?”.


“Tao không bỏ, nhưng tụi bây phải để tao làm ruộng”.


Làm ruộng là lẻ sống của bà nội tôi. Sáng hôm sau bà xúc hai thúng gạo gánh đi, trời tối mịt mới về. Hôm sau nữa cũng vậy. Ròng rả cả tháng trời bà nội tôi gánh gạo cho du kích, người gầy rạc đi. Bà đi lén lút làng xóm không hay biết. Nhưng đám lính đồn biết. Thằng Tây Ngựa cho lính xuống kêu bà lên tra hỏi hết ngày này sang ngày khác. Có lần bị đánh đập. Chuyện đó không khi nào bà nội tôi kể lại. Hay như lần bà từ đồn trở về té vật ra nằm vắt ngang bờ ruộng, may có người đi đồng nhìn thấy kêu người khiêng về chạy thuốc cả tháng trời, ăn cháo uống nước trái ô rô cho tan máu bầm. Cả chuyện đó và những chuyện khác bà không kể, chuyện bị đánh cướp dọc đường, bị bọn biệt kích treo lên châm lửa đốt, những lần chìm ghe gạo ngoài sông cái, lội cả cây số tắp được vô bờ.


Chú Sáu tôi tính tình thích bông lơn, bị bà nội ngăn không cho về nhà, tìm chuyện trêu chọc, tìm người du kích cao lớn cho đeo râu nhuộm tóc giả làm thằng Tây Ngựa, hai người du kích khác bận đồ rằn ri làm lính hộ vệ, chập tối chạng vạng xộc vào nhà bà nội đòi xúc lúa. Thằng Tây Ngựa xì xào giọng mủi, hai tên lính “thông ngôn” răn đe dọa nạt. Chú Sáu tính đùa giởn tới đó thôi, cốt làm cho bà nội tôi sợ, sau đó sẽ cho du kích tới bắt trói thằng Tây Ngựa giải đi. Nào ngờ thằng Tây Ngựa vừa mới xì xào, hai tên lính chưa kịp thông ngôn, bà nội tôi chụp cán cuốc bổ vào đầu cả Tây cả lính, cả ba bỏ chạy chửi rủa ỏm tỏi, không phải chửi bà nội mà chửi chú Sáu, không chửi bằng tiếng Tây mà bằng tiếng Việt.


Cuộc chiến càng ác liệt, ba tôi và mấy chú không có dịp về thăm nhà, giao hết vợ con cho bà nội tôi nuôi, con dâu cháu nội có tới vài chục. Bà nội tôi nuôi hết, như nuôi gia súc trong nhà, cá dưới sông rau ngoài đồng cứ thế đi bắt đi hái mà ăn, lúa trong bồ xúc đi xay giả, vải thô mua từng cây cắt may mỗi lần năm bảy đứa, con trai con gái bận giống nhau. Làng không có trường học, chúng tôi mặc tình suốt ngày chạy rong theo sau đuôi trâu, dầm mình dưới rạch nước đục ngầu mò tôm bắt cá, lội xuống đầm nhổ bông súng củ co, chạy ra ngoài đồng làm trâu chém lộn, đói bụng chạy về nhà lục cơm nguội vốc ăn từng nắm lớn, lại chạy đi cho đến tối mịt trở về, ngồi bên đống un ăn khoai nướng bắp nướng nghe bà nội tôi kể chuyện.


Bà nội tôi có tật hay nói chuyện rì rầm, ban ngày không có tụi tôi bà kể lể với con trâu con heo, với cả gà vịt. Có lần buổi trưa trở về nhà lục cơm ăn tôi nghe bà nội tôi nói láp giáp gì đó, ngó quanh không thấy ai, dòm lại thấy bà đang nói chuyện với con Vện vừa mới đẻ con. Bà rầy con chó về tội nó không biết cách ủ con, cho con bú, la mắng rồi vỗ về nó, giọng điệu giống như bà rầy má tôi và các thím tôi những lần sanh chúng tôi. Con Vện nằm yên nghe bà nội tôi nói, mắt ươn ướt, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm đám con, rồi liếm sang tay bà nội tôi. Chó nhà bà nội tôi nhiều vô số kể, chó mẹ đẻ chó con có bao nhiêu bà nội tôi nuôi hết. Mèo cũng vậy. Tới bữa ăn chó mèo chạy rần rần chung quanh, bà cho con này ăn, đánh mắng con kia, miệng không ngớt rầy la, cuối cùng con nào cũng có được phần mình. Trừ mấy con trâu có chuồng trại, đám gia súc khác mặc sức chạy rông ngoài vườn trong nhà, sống rất lộn xộn cũng rất hòa thuận, gà trống đậu trên lưng trâu cất tiếng gáy, heo ăn chung với gà vịt, chó mèo chạy giởn với nhau.


Buổi tối chúng tôi tựu về nhà, đám gia súc đã ngủ từ lâu, muỗi bay lèo xèo, chúng tôi ngồi cạnh đống un có đốt con cúi, khoai bắp nướng trong đống un, bà nội lấy từng củ khoai trái bắp chia đều cho chúng tôi.


Chuyện kể của bà nội tôi rất lộn xộn, thường không đầu không đuôi, chúng tôi ngủ gật từng chập hoặc giởn hớt chọc phá nhau, chỉ nghe lỏm bỏm. Chuyện thời tiết mưa nắng, ma quỉ trộm cướp, các thần linh và các phép thần, điềm lành điềm dữ, ứng mộng và bùa ngải, rừng rú và sông nước. Bà nội tôi kể rì rầm, không cần biết chúng tôi có nghe hay không, cũng không biết chuyện dẫn tới đâu, có ý nghĩa mục đích gì. Tuy vậy cũng có vài chuyện tôi còn nhớ được, như chuyện sau đây.


Có một người con trai ở xa đến làng tôi lập nghiệp, gia tài chỉ có chiếc bị bàng và con chó ốm. Anh nói: “Tôi không còn chỗ nào để đi nữa, tôi ở lại đây thôi”. Thuở đó đất rộng người thưa, anh cứ ở, ban ngày tìm chỗ làm thuê, tối đến lật nóp ngủ trong sân nhà ngoài vườn. Tính anh lầm lỳ ít nói, làm việc cần cù chăm chỉ, không quen thân ai cũng không làm phiền ai. Một thời gian sau anh cất được căn chòi trên bãi đất hoang, lâu sau nữa nới rộng thành căn nhà nhỏ. Anh sống kham khổ tằn tiện, chỉ tốn tiền mua gạo, rau rác tôm cá đã có ngoài đồng, ai giao việc gì làm việc nấy, tiền công do chủ ấn định, nhưng thanh toán sòng phẳng, thiếu đồng nào anh đòi cho kỳ được. Vài ba năm anh dành dụm được món tiền có thể mua được thửa ruộng nhỏ tự cày cấy. Một hôm có toán cướp qua làng, không biết ai chỉ chọt, nửa đêm xộc đến chòi dựng anh dậy bắt trói tra khảo lấy hết tiền mang đi. Đám cướp đi rồi sáng hôm sau anh cũng ra đi. Lâu lắm, cho tới lúc không ai còn nhớ anh nữa, anh trở về, mặt đen xạm, hai mắt sâu hoắm, lặng lẽ tiếp tục đi làm thuê, không hé môi nói  điều gì. Cho đến một hôm lính đồn xuống bắt trói anh dẫn đi, nói anh giết người, cắt cổ cả đám năm bảy tên cướp. Anh bị tù bảy năm, thời gian đủ để mọi người quên anh đi. Lại thấy anh trở về, người đen xạm, lặng lẽ đi làm mướn, một thời gian đủ tiền có thể mua thửa ruộng nhỏ tự cày cấy. Anh tìm đến một người nhà giàu hỏi mua ruộng. Người nhà giàu nói: “Thân mày không thể làm chủ ruộng, chỉ nên làm mướn thôi. Đào con mương kia cho tao!”. Anh lặng lẽ xách len ra đào con mương, từ sáng tới trưa, con mương sâu hoắm không nhìn thấy anh, những thỏi đất đen nhánh vẫn vun vút bay lên. Anh đào mương suốt mấy ngày liền. Trong nhà có người con gái hằng ngày đem cơm cho anh, một lần không biết có chuyện gì đó, ngồi lại nói chuyện với anh. Ong chủ nhà nhìn thấy bèn đuổi anh đi, tiền công chỉ tính một nửa, nói còn phải mướn người lấp con mương lại. Chủ nhà tỏ vẻ giận dữ, cô con gái càng giận dữ hơn. Cô nói để cô lấp con mương lại. Nói rồi liền nhào tới giành lấy chiếc len cào đất xuống, đất tuôn ào ào, cho đến khi cô ngất luôn trên đống đất…


Chuyện kể của bà nội tôi bao giờ cũng dừng lại đó, lần nào cũng vậy, có chuyện đống un tàn con trâu sút dây bà nội tôi phải chạy đi. Chúng tôi không màng, chúng tôi đã ngủ từ lâu rồi, nhưng sau này lớn lên chắp vá lại tôi ngờ rằng người con gái chính là bà nội tôi, còn người con trai có phải ông nội tôi hay không tôi không biết.


Cuộc chiến kéo dài, đám tụi tôi rồi cũng lớn lên, đi tan tác. Thằng Tí cũng ra đi, làm thương hồ hay thợ hầm than gì đó. Bà nội tôi còn lại một mình vẫn cặm cụi làm ruộng, chắt mót từng đồng xu cắc bạc làm giàu. Không ai biết bà nội tôi giàu tới cở nào. Tiền bán lúa dấu trên mái lá rồi quên đi. Vàng chôn dưới gốc cây sau vườn không nhớ chỗ nào. Có ai hỏi vay tiền bà nội tôi tính từng đồng tiền lời, nhưng họ quên trả bà cũng không nhắc tới. Bà nội tôi xây nhà nền đúc, cất gian thảo bạc phía trước, hai gian hai bên, lẩm lúa đóng vách ván kê sàn bằng nống đá xanh. Vậy rồi một hôm nhà trúng bom tan tành cả.


Lúc đó đã gần hết cuộc kháng chiến chống Pháp, thằng Tây bị kẹt ở Điện Biên không hiểu sao còn dư bom ném xuống nhà bà nội tôi. Từ ngoài đồng nghe bom nổ, nhìn thấy lửa bựng lên, bà nội tôi chạy bươn về lửa đã cháy cao ngọn, bà hối hả xách từng thùng nước tạt tưới, cho đến khi ngã vật ra, ngôi nhà cũng sụp đổ xuống.


Đêm hôm đó tôi cùng toán du kích về tới. Tôi nói: “Con đói nội ơi!”. Bà nội tôi ngồi ở bực thềm, cạnh cây cột còn đang cháy dở, mắt ráo hoảnh. Tôi lặp lại, y như chú Sáu tôi ngày xưa: “Con đói, nội ơi!”. Bà nội tôi lặng lẽ đứng dậy đi xúc gạo nấu cơm, lấy mấy thanh sà đang cháy chụm lại làm bếp. Cơm chín chúng tôi ăn hết nồi cơm lớn, ăn luôn cả cơm cháy. Rồi tôi nói, cũng y như chú Sáu:


“Nội làm ruộng giỏi, ít nữa cất lại nhà thôi”.


Tôi không có dịp về nữa, nhưng nghe bà nội tôi lại xây nhà nền đúc. Rồi bị đánh sập. Không phải máy bay ném bom mà lính bộ binh, chúng đóng quân ở làng lấy nhà bà nội tôi làm trụ sở, sau nhiều trận thua tan tác tức giận đánh sập trước khi bỏ đi. Một thời gian dài bà nội tôi buồn lòng không xây nhà, che chòi ở tạm trên nền nhà cũ. Nhưng vẫn chuyên tâm làm ruộng, không chỉ thói quen mà là thiên chức, món nợ đối với đất đai cần phải trả. Năm đó bà đã già lắm rồi, bắt đầu quên trước quên sau, hay nổi giận vô cớ, nhưng vẫn làm ruộng kỷ càng, mọi chuyện bón phân nhổ cỏ gặt đập đều chu tất không phạm chút sai sót. Tiếng đồn bà nội tôi trở nên giàu có, cũng có tiếng đồn bà nội tôi trở nên khắt khe tằn tiện. Chỉ vậy thôi không có gì hơn. Bà nội tôi có tính toán gì đâu, tiền bạc của cải đâu đem gì lại cho mình. Ngay cả hai cuộc chiến tranh bà coi như sấm chớp trên đầu, không hề biết tới. Bà nội tôi tin tưởng thương yêu những người kháng chiến vì có con cháu bà trong đó, ghét bọn lính vì chúng xúc lúa của bà. Nhưng trên hết bà tin ở thần thánh, vong linh ông bà tổ tiên, một lòng tin mơ hồ nhưng vững chắc, bám rể từ lâu đời và sẽ còn mãi mãi.


Phía sau nhà bà nội tôi có một con rạch nhỏ, bên kia có khu đất hoang cây cối rậm rạp, có cây da cao ngất và ngôi miếu cổ. Ngôi miếu thờ thần gì không ai biết, các chữ viết đã phai mờ tượng lớn tượng nhỏ sứt xẹo, nhiều bức đổ sụp không còn ra hình thù gì. Cả khu đất chỉ có cây da là quí, vô số chim cò làm ổ trên đó, nhiều vô số kể, ngày đi ăn chiều về đậu trắng cả cành cây vỗ cánh kêu xào xạc. Thuở nhỏ tôi hay qua đó lượm trứng chim, gió lớn trứng chim rớt xuống bể ướt nhớt cả một vùng quanh gốc cây. Những trứng không bể vẫn còn hơi ấm chim mẹ, những con chim mới nở nhú vài sợi lông nhọn hoắt, mắt nhắm tít há ngoác miệng đòi ăn. Tôi chơi với con chim non , đút ngón tay vào cho nó ngậm, để nó vào lòng bàn tay đưa cao lên nói: “Bay đi! Bay đi!”. Nhưng con chim non không bay, tôi đặt nó vào ngôi miếu cổ, hốt trứng đem về luộc ăn. Sau này đi học xa, thỉnh thoảng về thăm nhà tôi vẫn đi qua khu đất hoang ngắm lại cây da ngôi miếu cổ. Tất cả đều hoang tàn. Cây da từ lâu không còn chim cò đậu nữa, ngôi miếu cổ gần như sụp đổ hoàn toàn. Tôi lặng lẽ đứng nhìn, quên đi tất cả và cũng nhớ lại tất cả.


Bà nội tôi thường hay qua ngôi miếu cổ khấn vái. Làm ruộng mất mùa, mưa nắng thất thường cũng khấn. Má tôi và mấy thiếm tôi sanh khó cũng khấn. Con heo nái bỏ ăn, con trâu ghẻ lở cũng khấn. Thằng em tôi lội sình đạp gai ngón chân mưng mủ bà ôm bó nhang qua đó sụp đầu khấn vái, rồi chính bà kẹp đầu thằng em tôi trong hai ống chân khẳng khiu dùng miểng chén rạch mổ vết thương, giả lá vòi voi đắp lên, tin rằng chính vong linh ông bà giúp cho thằng em tôi tai qua nạn khỏi.


Duy chỉ một lần bà nội tôi không khấn. Đó là một lần bọn lính vào nhà xúc lúa, chúng ra đi rồi bà đứng nhìn chiếc bồ trống rổng một lúc đi ra sau vườn xúc số lúa dấu dưới hầm đem xuống ghe chèo đi. Sau nhà bà nội tôi có con rạch nhỏ chảy xuyên qua làng, qua cánh đồng mất hút vào trong rừng tràm xa bạt ngàn. Tôi chưa từng lần nào đi hết con rạch đó, những năm ấu thơ và cả đến sau này con rạch vẫn là điều bí ẩn đối với tôi. Tôi không biết nó đi qua vùng nào, ngọn nguồn của nó ở đâu mà nó cứ chảy mãi như thế. Khu rừng tràm cũng vậy. Đó là một khu rừng tràm ngập nước lấp xấp, chuột làm ổ trên ngọn cao, mùa mưa rạch nước tràn đầy, chỗ trủng lan ra thành chiếc đầm rộng. Dạo Tây mở cuộc càn lớn có lần bà nội xua chúng tôi đi tản cư vào đó. Con cháu bà nội tôi đông đảo, ngồi chật cả lòng ghe, năm bảy chiếc ghe tam bản đi thành hàng dài. Mấy chú tôi chống sào phía sau, má tôi và mấy thiếm bơi phía trước, tụi tôi ngồi chính giữa. Bà nội tôi đi chiếc ghe sau cùng, hò hét chỉ huy, như với cả một đạo binh, canh chừng chúng tôi vọc nước hái lá sen lá súng. Ký ức tôi còn giữ được hình ảnh thật kỳ lạ: ghe đang đi bỗng không thấy rạch đâu nữa, trước mặt cánh đồng chạy dài mặt đất khô nứt nẻ. Mấy chú tôi chống sào đứng ngẩn ngơ. Bà nội tôi hô: “Vác ghe lên đi tiếp”. Mấy chú tôi từng hai người vác bổng những chiếc ghe tam bản lên đi băng qua cánh đồng, chúng tôi chạy quấn theo sau mặc sức hái rau muống biển vạch cỏ tìm ổ chim.  Một lúc sau lại thấy con rạch, các chú thả ghe xuống đi tiếp, đến xế chiều vào khu rừng tràm hoang vu hầu như không có dấu chân người. Bà nội tôi lại hò hét cắt đặt mọi người làm việc, chặt cây làm chòi, đóng cọc làm bếp, đào lổ lấy nước nấu cơm. Chúng tôi ở đó cả tuần lễ, đám trẻ mặc sức chạy nhảy trên các thảm cỏ, cuộn dây tơ hồng làm ngựa, khoanh dây bòng bông làm nón, long dưới rạch giủ những dề lục bình bắt những con tép nhỏ nhai sống phun lèo phèo vào nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi theo mấy chú ra bìa rừng coi xe tăng Tây bò lổn ngổn ngoài đồng xa, lính Tây nhảy dù xanh đỏ lớp chớp trên nền trời.


Lần bị xúc lúa bà nội tôi chèo ghe lúa còn dấu lại vào chính khu rừng đó. Còn việc bà gặp du kích thế nào, đưa lúa cho họ ra sao không ai biết được. Nhưng bà về nhà bị thằng Tây Ngựa kêu lên đồn.


Thằng Tây Ngựa hỏi: “Bà chở gì cho du kích?”. “Chở lúa”, bà đáp. “Vậy là bà nuôi du kích, chở lúa cho chúng ăn để chúng đánh lại nhà nước Pháp. Bà theo phe nào?”. Bà nói: “Tôi không theo phe nào. Phe nào không ăn lúa của tôi?”. “A, bà già quá cở!”, thằng Tây la lên. “Bà không theo du kích, không theo nhà nước Pháp, bà ở trên hết thảy hả?”. Thằng Tây Ngựa cho bà về, mấy hôm sau lại cho xe đến rước, bóp còi inh ỏi, đưa về chợ quận, đích thân tên quận trưởng ra đón. Rồi nào là chào mời tiệc tùng, chụp hình phỏng vấn, ban nhạc kèn trống giúp vui, được tuyên dương là “người nông dân làm ruộng giỏi”, “nhà nông học”, đem nhiều lúa gạo về cho quốc gia. Rồi đưa về, đích thân tên quận trưởng dắt tay đưa ra xe. Không tra hỏi đánh đập gì cả. Cho đến một hôm máy bay rải truyền đơn xuống làng có in hình bà ngồi ăn uống với tên quận trưởng, kèm bài viết nêu rõ công lao của bà với quốc gia, đã nhiều lần hiến lúa cho nhà nước, có giấy tờ đàng hoàng. Đó là nổi đau lớn nhứt của bà nội tôi. Suốt mấy tháng trời bà không dám đi ra ngoài, ra đồng ban đêm, không gặp gỡ ai, con cháu về không mừng rỡ.


Nhưng nổi đau rồi cũng qua đi, bà lại cắm cúi làm ruộng, chuyển sang phương pháp canh tác mới, gieo cấy lúa thần nông, bón phân hóa học, nuôi cá rô phi, nuôi gà công nghiệp, nuôi heo bằng sữa bột Mỹ, trong nhà có máy bơm nước, máy phát điện. Nhưng rồi xảy ra chuyện xe tăng Mỹ càn lên lúa.


Không phải một lần mà nhiều lần. Lúa vừa chín vàng chuẩn bị gặt đập, trời sáng tinh mơ bỗng nghe gầm rú đinh tai nhức óc, một bầy xe tăng xuất hiện ở đầu làng. Dân làng chạy túa ra, bà nội tôi cũng chạy ra, nhưng không còn kịp nữa. Bầy xe tăng đã nhào xuống ruộng, xích sắt nghiến rào rào trên lúa, thửa ruộng vừa mới mượt mà trĩu bông bỗng chốc biến thành bãi bùn rơm rạ. Một chiếc tăng chạy ngang qua định càn tiếp thửa ruộng kế bên, bà nội tôi nhào tới cản trước đầu nó. Nó có thể cán chết bà nội tôi không chút ngần ngại, nhưng phát hiện thấy trò vui đùa liền ngoặt sang hướng khác. Bà nội tôi lại nhào tới chận đầu nó. Nó lại ngoặt. Bắt đầu trò mèo vờn chuột, cho đến lúc bà nội tôi mệt lả bò lóp ngóp trên mặt ruộng bùn sình, cố lết lên nằm vắt ngang qua một bờ ruộng, thằng tăng rú lên phụt khói đen xì chồm qua thửa ruộng khác.


Đêm hôm đó thằng em con chú tôi cùng toán du kích về tới. Bà nội tôi ngồi rũ ra dưới gốc cây me già, trông còn thảm hại hơn những lần bị Tây xúc lúa, bị cháy nhà, bị tụi lính đồn rải truyền đơn làm nhục. Nó kêu: “Con đói nội ơi!”. Bà nội tôi ngồi làm thinh. Nó lại kêu. Bà nội tôi ngước nhìn lên nó với ánh mắt vô hồn, rồi gượng đứng dậy đi xúc gạo nấu cơm. Thằng em tôi cùng toán du kích ăn hết chảo cơm ăn cả cơm cháy.


Thằng em tôi là người cuối cùng trong đám chúng tôi về thăm bà nội tôi. Chiến tranh đã quá ác liệt, đường sá cách trở, ba tôi và mấy chú đã già đi đứng khó khăn, đám trẻ chúng tôi giỏi bay nhảy, nghĩ việc về thăm bà nội chuyện vãn năm ba câu không đáng gì, so với công việc lớn lao chúng tôi đang làm. Vậy rồi ngày tháng qua đi, chúng tôi quên bà nội. Có lần tôi cùng đơn vị hành quân ngang làng bên cạnh, cách nhà bà nội tôi một cánh đồng, có thể nghe tiếng chó sủa, nhưng tách ra về thăm bà nội tôi thật phiền toái. Vậy rồi tôi đi qua luôn, coi như ngoài tôi ra không ai biết chuyện đó.


Từ trên rừng sâu tôi còn nghe thêm một chuyện, như đòn cuối cùng đánh vào bà nội tôi, nổi đau thương cơ cực theo bà nội tôi suốt đời. Năm đó bà nội tôi đã già lắm rồi, không còn đi đồng nữa, chỉ nằm nhà sai bảo cắt đặt công việc cho những người làm công. Vậy mà đám lính đồn vẫn kéo tới, chúng vào tận giường bắt ký tờ giấy giao ruộng.


Bà nội tôi nói:


“Mấy ông lấy ruộng của tôi hả? Mấy ông biết làm ruộng không?”.


Nói rồi bà nội tôi nằm quay vô vách lịm đi, đám lính không nói gì được nữa đành phải bỏ đi. Bà nội tôi nằm liệt giường cả mấy ngày trời, không ăn uống, bỗng vùng vậy đi ra ngoài đồng sai bảo cắt đặt công việc, rồi trở vào nằm, lần này không đậy nữa, cho tới ngày giải phóng đám con cháu tụi tôi tụ hội về.


Chúng tôi có mặt đông đủ. Bà nội tôi nằm thở thoi thóp, người mỏng dính dán sát xuống mặt giường. Ba tôi kề sát miệng vào tai nói lớn:


“Tụi con về tới rồi nè, má có biết không?”.


Bà nội tôi vẫn nằm yên, hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn trên má.


Bà nội tôi mất sau đó không lâu. Đêm hôm đó em gái tôi, đứa em chính bà nội tôi đở đẻ nó trong một trận càn lớn, túc trực bên giường, chợt nghe tiếng ú ớ, choàng dậy kề tai nhưng không nghe được gì, chỉ thấy bà chỉ tay ra đám ruộng trước mặt, đoán bà định sai bảo cắt đặt gì đó. Rồi bà nhắm mắt, hơi thở nhẹ dần rồi tắt hẳn. Lúc đó vào rạng sáng ngày 28 tháng 6 năm 1975, bà nội tôi thọ tám mươi ba tuổi.


Tôi về kịp dự lễ tẩn liệm bà nội tôi. Bà nằm trong áo quan, mặt thanh thản, người khô quắt, mỏng dính như chiếc lá khô.


Lễ tang bà nội tôi không có nhiều người dự, ai nấy đều bận túi bụi công việc sau ngày giải phóng. Mộ chôn ban đầu định ở ngoài ruộng, sau tính đem về sau vườn, cuối cùng dời qua bên khu đất hoang có ngôi miếu cổ. Ngôi miếu đã sụp mất chỉ còn lại vài khuôn tường rêu phong. Lúc hạ huyệt nhìn thấy một mảnh tượng nằm lăn lóc, tôi định khấn một câu gì đó, nhưng không biết nói như thế nào.


Đắp xong mộ không kịp mãn tang, tôi trở về thành phố vì có công việc.   


 


5-1989


Nguồn: Tuyển tập truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 


                                                                                                           

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »