Năm 1972 Giả Bình Ao theo học khoa Trung văn trường đại học Tây Bắc và bắt đầu sáng tác, từ đó đi vào con đường văn học. Sau khi tốt nghiệp đại học, Giả Bình Ao được phân công về Nhà xuất bản làm biên tập . Đã xuất bản các tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn ưu tú như: Thương Châu sơ lục,Mãn nguyệt nhi, Tháng chạp tháng giêng, Người vùng đất trũng ổ gà; Trước sẩy thai, Nôn nóng, Phế đô, Đêm trắng, Thổ môn, Thôn Cao lão, Huyệt đẹp, Có bầu, Tôi là nông dân, Làm người tự do, Hoài niệm sói, Nhu cầu sinh ly….
Trong sự nghiệp văn chương của Giả Bình Ao, truyện ngắn chiếm vị trí quan trọng. Nhiều truyện ngắn của ông được bạn đọc mến mộ và đã được trao Giải thưởng ưu tú quốc gia. Năm 1998, đã xuất bản Giả Bình Ao văn tập gồm 14 cuốn. Phần lớn các tác phẩm của Giả Bình Ao đều viết về nông thôn với tư tưởng tình cảm, phong tục tập quán nóng hổi hơi thở đời sống làng quê Trung Quốc đang trong quá trình cải cách, mở cửa, hiện đại hoá. Giả Bình Ao có nhiều tác phẩm được giải thưởng trong nước và quốc tế: Giải ưu tú quốc gia như: Dấu vết của tình yêu ( Tập Tản văn); Mãn nguyệt nhi (Tập truyện ngắn); Tháng chạp tháng giêng ( Truyện vừa). Giải thưởng quốc tế: Giải Ngựa bay của Hoa Kỳ cho tiểu thuyết Nôn nóng (1988); Giải thưởng văn học Femina của Pháp cho tiểu thuyết Phế đo năm 1997. Tác phẩm của Giả Bình Ao đã được dịch và xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.
Những truyện ngắn in trong tập sách này được chọn dịch từ Giả Bình Ao văn tập. Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2003. Biên tập: Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương.
Sau đây là Truyện ngắn: Bài giảng đầu tiên
Bài lên lớp đầu tiên đã giảng xong.
Tuấn Tú gập sổ bài khóa, cô phủi bụi phấn trên vạt áo, đi ra khỏi lớp. Ôi, mặt trời chưa lên khỏi núi, đèo cây như biển lớn mặc áo tuyết, yên tĩnh, trong trắng và sáng láng biết chừng nào! Hai tay vung một nửa vòng tròn trong không trung, cô hít một hơi thật sâu để nỗi lòng xúc động bình tĩnh lại. Nhưng trái tim cô càng hồi hộp. Hơi nóng trong miệng bắt đầu gắn vô số những viên ngọc li ti trên cái khăn quàng cổ len màu đỏ sẫm. Trong mỗi viên ngọc bé nhỏ ấy, Tuấn Tú đều nhìn thấy mình. Các cháu nhỏ đang hò hét vui nhộn ở bên kia, chúng đang chơi trò “diều hâu bắt gà con”, thỉnh thoảng bốc tuyết tung lên trời, có những cục tuyết bay nhè nhẹ vào cổ áo cô, cô không phủi đi, cứ cảm thấy ngưa ngứa dễ chịu.
Buổi sớm mùa đông ở miền núi vốn đẹp như thế đó! Dưới dốc núi là từng khe suối, từng khe suối, trong khe suối là từng mái nhà, từng mái nhà. Đài Thiên Môn cao cao này thật giống như gác chuông trong thành phố, từ đây thông với các đường lớn ngõ nhỏ. Ngôi trường ba gian nhà lá này chẳng phải là chiếc đồng hồ báo giờ ai ai cũng chú ý đó sao?
Sau khi đập tan “lũ bốn tên”, Tuấn Tú xin đi dạy học ở miền núi, và nguyện vọng của cô được Sở giáo dục tỉnh phê chuẩn. Từ khi vác ba lô lên đại đội Đại Thâm Sơn đến giờ, cô càng ngày càng yêu mến ngôi trường này. Ánh mắt cô lại nhìn thấy khẩu hiệu đỏ kẻ trên tường núi lớp học: Hoan nghênh nhà giáo mới! Mặt cô ánh lên niềm hạnh phúc, tự hào... “Là tôi ư? Là tôi ư?”, cô nghĩ, trái tim lại đập gấp, cô chạy lên Đài Thiên Môn như xấu hổ.
Từ đây nhìn xuống, con đường chữ chi trên lưng chừng dốc núi Đài Thiên Môn đang có một đội lừa leo lên. Trên lưng lừa đèo hai cái sọt to chứa đầy cái gì đó; một chàng trai chỉ huy đi đằng sau, gió núi đưa tiếng roi lên núi, thấp thoáng nghe thấy lừa đang kêu. Lừa đến hòn núi sau lớp học thì trẽ ngoặt, song đã dừng cả ở đó. Cô nhìn thấy một ông già trọc đầu chạy đến gần trước đội lừa làm cái gì đó, rồi ông già chỉ dắt một con qua chỗ ngoặt đi sang bên này.
“Ông bí thư!”, Tuấn Tú đã nhận ra ông già. Chẳng phải là bí thư chi bộ đại đội Đại Thâm Sơn mình đó sao? Cô gọi một tiếng, song một luồng gió đã thổi bạt đi. Ông già không nghe thấy, cứ cố sức dắt lừa đi. Con lừa ì ra, ông giơ roi lên, song không đánh, chỉ thúc thúc cây roi vào khuỷu chân lừa. Con lừa vẫn cứ ì ra, bốn chân chạy như đèn cù, lớp tuyết mỏng trên con đường lát đá tấm văng lên những cục tuyết không thành tiếng.
Tuấn Tú lại gọi:
- Chào ông bí thư!
- A, cô giáo Diên, ra chơi rồi à?
- Vâng ạ!
Tuấn Tú đón dây thừng trong tay ông bí thư. Cô bật cười khi nhìn con lừa được trang điểm đến là đẹp mắt: Bốn chân xỏ “giày đi mưa” bằng cỏ râu rồng, mồm lừa đeo “khẩu trang” bằng mũ nỉ.
Tuấn Tú nói:
- Hí, lừa thật là ấm.
- Con vật này là máy kéo của Thâm Sơn, nó không lạnh đâu!
Quả nhiên đúng vậy, toàn thân lừa đẫm mồ hôi, trên “khẩu trang” phì ra một luồng hơi trắng.
- Vậy thì tại sao còn bảo vệ thế này?
- Làm thế sẽ không có tiếng động.
- Tiếng động ư?
- Đừng tưởng móng lừa nhỏ, nó bập trên đường đá tóe lửa ra đấy. Cộc cộc cộc chẳng khác gì tiếng phách tiếng mõ trên sân khấu đâu. Lại hay réo nữa, tiếng thô khó nghe lắm. - Ông bí thư nói - Nó đèo hai sọt gạch ngói này đi qua sau lớp học, nếu không bó chân và bịt miệng sẽ ảnh hưởng đến cô giảng bài.
- Ảnh hưởng giảng bài ư? - Tuấn Tú nói câu ấy, thấy trái tim hồi hộp, đồng thời có một cái gì tê tê lan ra toàn thân. Cô nắm chặt tay ông bí thư, cô không biết lúc này nên nói gì với ông.
- Ông bí thư...
- Các cháu nghe giảng bài cần phải yên tĩnh, cô lại giảng bài học đầu tiên... Không biết làm thế nào, tôi bảo Nhị Oa dắt lừa đến chỗ ngoặt, lấy cỏ bó chân, lấy mũ nỉ bịt mồm nó lại; không giơ roi, tháo chuông ra...
- Các bác chở được mấy chuyến rồi?
- Năm con lừa, chở ba chuyến rồi!
Ba chuyến rồi, có nghĩa là, ông bí thư đã luân lưu bó chân bịt miệng lừa, dắt từ đây đi về ba mươi lần, vậy mà trong giờ giảng bài học đầu tiên, ngay một chút động nhỏ, cô cũng không nghe thấy.
- Con lừa này móng nó gớm lắm, đã giẫm nát năm đôi giày cỏ...
Ông bí thư nói rồi tiện chân đá một cái giày cỏ rách cạnh đường.
Tuấn Tú nhặt cái bọc cỏ lên, ấp vào ngực như bảo bối. Mắt cô rưng rưng. Cô tháo kính trên sống mũi ra, không nói gì, tay vạch nửa vòng tròn trong không trung rồi dừng lại. Cô lập tức đeo kính vào, cởi áo khoác ngoài, khoác lên người ông bí thư. Ông bí thư khăng khăng từ chối:
- Cô giáo Diên ơi, cô nhìn mồ hôi trên đầu tôi đây này! Các cô là người có tri thức, dáng mảnh mai, lại vừa mới đến, mau mau mặc vào, không sẽ bị cảm đấy. Điều kiện ở đây kém, một mình cô đi ra đi vào, không quen đâu nhỉ?
- Quen ạ, quen ạ. Vừa đặt chân đến, cháu đã yêu nơi này.
- Dần dần rồi sẽ đâu vào đấy. Nghe nói có một cô giáo chuyên trách về dạy học, dân bản mừng tới mức A di đà Phật. Hôm trước dân họp quyết định mở rộng trường. Cô giáo xem, tối hôm qua đã bắt tay vào làm, chuyển đến đây bao nhiêu là gạch ngói. - Ông bí thư chỉ tay vào bãi phẳng ở sau lớp học, quả nhiên có một đống to gạch ngói. - Sáng nay, tôi và Nhị Oa tiếp tục chở đến. Chủ nhật này sẽ động thổ khai công. Chà chà! Vốn định không để ảnh hưởng đến cô giáo chút nào, nhưng nhiệm vụ gấp gáp...
- Ông bí thư ơi! - Tuấn Tú xúc động nói - Các bác đừng dắt lừa chở như vậy nữa, không ảnh hưởng đến chúng cháu đâu, không ảnh hưởng đâu!
- Gạch ngói chở gần đủ rồi, đây là chuyến cuối cùng. - Ông bí thư cười, rồi vội nói - Ô, nhân lúc ra chơi, tôi nhanh chở hết chuyến này.
Ông bí thư quay người, đưa hai tay lên miệng thành hình cái loa hướng về chỗ ngoặt:
- Nhị Oa ơi, ra chơi rồi, đánh hết lại đây. Nhanh lên, nhanh lên!
Ở chỗ ngoặt có tiếng roi vung lên, một đội lừa kéo đến, vó sắt gõ cộc cộc, chuông kêu loong coong, lừa hí vang rền.
Tuấn Tú đứng ngẩn người tại chỗ. Tiếng nô nghịch của bọn trẻ mỗi lúc một ầm ĩ, mấy cục bột tuyết bị gió thổi rơi trên môi cô, liền tan ngay. Cô nhấm nhấm môi, nước tuyết trôi vào bụng ngòn ngọt. Chợt nghĩ ra điều gì, cô chạy gấp mấy bước, đuổi kịp ông bí thư, nói:
- Ông bí thư ơi, dỡ xong gạch ngói, ông có thể đến nghe cháu giảng bài được không?
- Nhất định đến, nhất định đến! - Ông bí thư vui vẻ, vung roi đánh mạnh vào hông lừa mấy cái, đi qua đằng sau lớp học.
Lúc này, trên đường núi có một người hối hả đi tới, đó là người đưa thư của xã, đưa cho Tuấn Tú một bức thư. Ở trên ghi: “Người nhận: Bạn học Diên Tuấn Tú”. Ở dưới là “Người gửi: Hạ Tây Vi, trường tiểu học Ma Thiên Lĩnh”.
- Ôi, nhanh thật, anh ấy...
Anh ấy là bạn học cùng khóa với cô, cũng là chồng chưa cưới của cô. Tuy hai người cùng được phân công ở một công xã, nhưng từ Đại Thâm Sơn đến Ma Thiên Lĩnh phải vượt qua ba dãy núi lớn và hai con suối. Trong lòng cô gái bồi hồi xúc động, cô ấp bức thư lên ngực. Nhìn chung quanh không có ai, mặt đỏ ửng, cô đứng trong tuyết bóc thư, đọc một mạch.
Tuấn Tú thân yêu!
Em biết không, anh viết thư này cho em với tâm tình xúc động biết chừng nào. Đây là bức thư đầu tiên sau khi tốt nghiệp được phân công công tác, anh giảng xong bài học đầu tiên, giờ ngồi trên bàn giảng viết cho em đây. Anh phải kể với em tình hình anh giảng bài học đầu tiên!
Bài giảng đầu tiên, đêm qua anh soạn cả đêm. Sáng sớm nay, tiếng kẻng báo giờ vang lên, anh cầm quyển giáo án đứng ở cửa lớp. Hình dung thế nào tâm tình anh lúc ấy nhỉ? Xúc động, căng thẳng, hạnh phúc, sợ hãi... Anh nhắc nhở mình: “Bình tĩnh, bình tĩnh!”, nhưng mồ hôi anh toát ra. Anh nắn lại cổ áo, kéo lại vạt áo, một lát sau lại vuốt cổ áo, kéo vạt áo. Anh không biết mình phải làm những gì nữa! Thầm nghĩ: “Lúc bước lên bục giảng, nhất định phải chững chạc, không được ngượng ngịu, cũng không nên xúc động quá”. Em biết đấy, con người anh hễ xúc động là cứ vã mồ hôi liên tục. Giữa lúc ấy, kẻng vào học nổi lên. Anh bước lên bục giảng. Trời ơi, anh không biết anh bước lên như thế nào. Vừa bước lên bục giảng, các em học sinh liền đứng dậy: “Chào thầy giáo buổi sáng!”. Thầy giáo! Lần đầu tiên có người gọi anh là thầy giáo! Anh mừng quýnh, song đã mất tự nhiên. Thầy giáo, đây là danh hiệu cao cả biết bao! Làm thế nào để xứng đáng với danh hiệu đó? Anh mở giáo án ra, liếc nhìn xuống dưới. Ôi, kín một lớp học là vô số những cặp mắt! Những con mắt ấy giống như vô số bong bóng nổi lên trong suối nước, giống như vô số ngôi sao lấp lánh trên bầu trời, tất cả đều phát ra ánh sáng đan xen nhau chiếu vào anh... Ái chà, mỗi cử chỉ động tác của anh đều ở trên điểm hội tụ ánh sáng của các em học sinh! Nhất định phải tự nhiên, chững chạc, thoải mái như một thầy giáo. Nhưng tim anh cứ đập thình thình, mặt anh cũng chợt ửng đỏ. Anh thầm vội nhắc mình “Bình tĩnh! bình tĩnh!”, liền ho một tiếng, nhưng trong cổ họng cứ cảm thấy tăng tắc, lại ho một tiếng nữa, ho thêm một tiếng nữa... Quả thật anh đã hoảng hốt. Nhưng khi ngẩng đầu lên lần nữa, thì anh ngẩn người ra, anh nhìn thấy ở hàng ghế đằng sau là ông bí thư của bản anh đang ngồi. Ông bí thư! Suýt nữa anh kêu lên. Ông ấy cười, gật đầu với anh... Anh đã rõ tất cả! Lạ thật, anh thấy yên tâm, không còn hoảng nữa, mở giáo án ra...
Tuấn Tú mỉm cười:
- Ai mà chẳng như thế kia chứ? Đâu chỉ có riêng anh? Anh à, anh à...
Cô lại đọc tiếp.
Tuấn Tú ơi, em còn nhớ cái buổi tối sau khi chúng mình xin đi dạy học ở Đại Thâm Sơn được phê chuẩn không? Lúc ấy, chúng mình nói tới lý tưởng của hai đứa, nói tới tương lai, tưởng tượng như được mọc đôi cánh màu rực rỡ, hình dung nơi chúng mình sắp tới. Đến ngôi trường quê hương miền núi này, anh càng yêu nơi đây! Tuy ở đây trường học chỉ có bốn gian nhà, thầy giáo thì chỉ có một mình anh. Anh không biết tình hình ở chỗ em thế nào, bài giảng đầu tiên em giảng ra sao?
Tuấn Tú lấy cái bọc cỏ rách ra, nói:
- Anh chờ nhé, em sẽ kể cho anh nghe câu chuyện tuyệt vời hơn.
Cuối cùng thư viết:
Chúng ta hãy hiến dâng sức mạnh của chúng ta cho sự nghiệp giáo dục miền núi, hãy để tuổi thanh xuân tươi đẹp tỏa ánh sáng rực rỡ!
Tuấn Tú gọi tên của Hạ Tây Vi, ấp chặt bức thư vào ngực. Cô nhìn dãy núi xa xa. Ở nơi đó, chân trời xa vời vợi bao la, ở đó có một nơi là Ma Thiên Lĩnh. Anh ấy ở Ma Thiên Lĩnh...
Keng… Keng… Keng! Tiếng kẻng vào lớp đã vang lên. Tuấn Tú quay nhìn lại, thấy ông bí thư giao con lừa đã dỡ xong gạch ngói cho Nhị Oa dắt xuống núi. Ông đội cái mũ nỉ lên đầu, phủi đất trên người, bước vào cửa lớp học. Còn cô giáo, Diên Tuấn Tú, cặp mắt ánh lên ánh sáng khác thường, cô đứng lên, vuốt lại mái tóc, hai tay ấn lên bộ ngực hơi phồng phồng, giống như giữ chặt một con thỏ đang vui đùa nhảy nhót, giống như úp chặt một suối nước đang phun ra dào dạt. Cô buông tay ra, từ từ đi vào lớp học.
Bài giảng thứ hai bắt đầu. Mặt trời đã nhảy ra khỏi núi, trên đèo cây phủ tuyết bay lên những vòng sáng rực rỡ.
Trúc Lâm Quan, đêm 13 - 6-1977
Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005. |