tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
12.02.2016
Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí (4)

Sau khi báo chí Đài Bắc đăng tin con trai tỷ phú Rockefeller (Rốc-cơ-phê-lơ) đi thám hiểm


New Guinea (Tân Ghi-ne) bị thổ dân ăn thịt, tức thì có nhiều người bảo: "Có phúc mà không


biết hưởng, mình mà như nó thì đi Ghi-nê làm khỉ gì!"


Khi ở Phoenix (Phê-nic) tôi trú chân lại nhà một gia đình Mỹ khoảng năm, sáu ngày. Con gái


chủ nhà tên là Margaret (Ma-ga-rét), 16 tuổi đã đi Honduras (Ôn-đu-rát) để dậy cho người bản


xứ hiểu được cách giữ gìn đôi mắt. Trình độ vệ sinh ở nước này còn tệ hơn ở Trung Quốc nữa,


nghĩa là một nơi rất bẩn. Thế mà đúng lúc tôi ở đó thì cô ta về nhà, kể chuyện cho mẹ nghe,


mặt mày hớn hở bảo rằng sang năm cô sẽ lại đi nữa, vì cô thấy cần giúp đỡ những người


nghèo và lạc hậu ở nơi đó. Mẹ cô không những đồng ý mà còn khích lệ cô.


Người Trung Quốc chúng ta có lẽ sẽ nghĩ rằng nếu là mình chắc chẳng cần đi đến cái nơi khỉ


ho cò gáy đó làm gì. Nhưng người mẹ ở nước Mỹ kia lại ca ngợi con gái mình, cho rằng con


gái mình có ý thức, có lòng tốt, biết tỏ ra có thể xả thân vì người khác, và vì vậy rất lấy làm


hãnh diện. Thật ra đối với tôi bà ta cũng chẳng có nhu cầu khoe khoang cái lòng tốt của cô con


gái làm gì. Mà tôi cũng không thể cho cô ta làm quan hay tiền bạc gì cả. Dưới mắt của bà ta


chẳng qua tôi cũng chỉ là thành viên của một dân tộc lạc hậu mà thôi. Cái động cơ trong thâm


tâm người mẹ ấy chỉ là lòng chân thành.


Trong những hoàn cảnh tương tự người Trung Quốc lúc nào cũng sẽ quá thông minh. Bởi tôi


nghĩ rằng trên thế giới này không dân tộc nào, kể cả dân tộc Do Thái, có thể thông minh như


kiểu người Trung Quốc được. Nếu một đối một, người Trung Quốc tất phải thắng. Nhưng nếu


từ hai trở đi, người Trung Quốc không thể nào không thua, bởi tựa hồ như thiên tính của người


Trung Quốc là không đoàn kết được với nhau. Ý nghĩa của đoàn kết là mỗi người đều phải hy


sinh một phần quyền và lợi của mình. Ví dụ, có hai vật hình tròn muốn dính sát lại với nhau


thì phải gọt ra thành hai hình vuông bé hơn một tý. Nhưng chả ai muốn mình bị gọt cả, chỉ


muốn người khác bị gọt thôi, kết cục làm sao đoàn kết được?


Người Trung Quốc thông minh đến mức nào? Đến độ khi bị đem đến lò sát sinh, còn cố cò kè


về giá cả của mình, nếu kiếm thêm được vài đồng thì chết rất hả hê.


Cái kiểu thông minh quá cỡ này nhất định sẽ thành kiểu ích kỷ quá cỡ. Ở Trung Quốc người


nào mà không suy nghĩ một cách ích kỷ, cư xử một cách ích kỷ đều bị chế diễu là ngu ngốc.


Người Trung Quốc không khoan dung, hễ ai có tâm địa tốt, rộng lượng với người khác, tán


dương người khác đều bị chửi là đồ ngốc. Có người tát anh mà anh lại phản kháng, có người


phạm pháp mà anh lại can ngăn thì anh đúng là ngốc. Hễ cứ làm một việc mạo hiểm để sau đó


không thể làm quan, hoặc không thể phát tài, là mọi người đương nhiên cho anh là thằng ngốc.


Tôi cho rằng để cứu dân tộc mình, mỗi người Trung Quốc cần có ít nhiều cái ngốc đó, nếu


không rồi cũng sẽ dần mòn suy đồi như dân da đỏ.


Tục ngữ có câu: "Người không ích kỷ thì trời tru đất diệt" (nhân bất tự tư, thiên tru địa diệt),


nghĩa là ai mà không ích kỷ thì bị người khác xem là không có cách gì cứu chữa được. Chúng


ta không thể nào tự mình bắt đầu, không cần dựa vào chính phủ hoặc người khác mà vào chính


bản thân mình để làm một vài điều mà mọi người cho là ngốc nghếch chăng?


Để kết luận, tôi cho rằng chúng ta đừng nên làm cho cái quan hệ con người trở thành phức tạp.


Phải bắt đầu bằng sự rèn luyện bản thân mình, con cái mình. Ví dụ trẻ con ở Mỹ được mẹ


chúng dạy cách thu dọn, lau chùi bàn ăn, vứt rác vào thùng sau khi ăn xong. Những thứ giáo


dục đó phải bắt đầu từ bản thân, bắt đầu từ tấm bé. Sự huấn luyện này phải bắt đầu như một


khởi điểm cũng như một lịch trình.


Người Trung Quốc có rất nhiều đức tính, nhưng đáng tiếc chúng chỉ ở trên sách vở. Bây giờ


chúng ta mong rằng chúng sẽ xuất hiện trên hành động. Hãy thử xem chúng ta có làm nổi hay


không?


Tôi xin dứt lời vì đã lạm dụng quá nhiều thì giờ của quý vị, xin thứ lỗi và xin chỉ giáo.


PHẦN THẢO LUẬN


Thính giả: Ông vừa nói đến chế độ phong kiến dày xéo nhân quyền, cụ thể trong thời nhà


Minh. Thực ra tình hình phương Tây thì có khác gì? Tôi nghĩ văn hóa hóa Tây phương cũng


trải qua những thử thách của thời đại quân chủ chuyên chế như vậy, nhưng tại sao họ lại có thể


đẻ ra được quan niệm nhân quyền và chủ nghĩa tự do mà Trung Quốc cho đến ngày nay vẫn


không làm được?


Bá Dương: Rất tiếc tôi không thể trả lời vấn đề này. Cứ cho rằng chúng ta không thể hiểu


được vì sao người phương Tây lại ăn bằng dao nĩa mà người Trung Quốc lại ăn bằng đũa. Văn


hóa phát triển dần từng bước, hai nền văn hóa này từ thuở xa xưa không có gì dính dáng với


nhau, không có khả năng ảnh hưởng lẫn nhau, mỗi cái phát triển theo mô hình riêng của nó.


Sinh hoạt của từng cá nhân và vận mệnh của mỗi dân tộc thường bị những yếu tố rất lớn hoặc


đôi khi rất nhỏ làm chuyển đổi phương hướng. Nhưng chúng ta lại không hiểu cái nhân tố lớn,


nhỏ ấy là cái gì và ở đâu.


Thính giả: Những điều ông vừa nói làm chúng tôi cảm thấy buồn về cái thời trẻ tuổi lạc quan


của chúng tôi. Tôi thuộc vào thế hệ những người lớn lên sau chiến tranh, và từ trước đến giờ


tôi vẫn cho rằng thế hệ chúng tôi từ cách suy nghĩ cho đến nếp sống xã hội đều nhất nhất


không giống thế hệ đàn anh.


Nói ví dụ, hiện giờ tôi không làm quan chức gì, nhưng biết đâu có một ngày nào đó tôi lại


chẳng có một chức vị, để rồi chỉ có quan tính mà mất nhân tính. Nhưng dù có rơi vào trường


hợp đó, tôi tin rằng cái quan tính của tôi so sánh với quá khứ vẫn ít hơn một tý, mà nhân tính


nhiều hơn một tý. Tuy nhiên hôm nay ông nói vậy, tôi lại thấy không giống cách nghĩ của tôi.


Bá Dương: Tôi nghĩ tôi chỉ nói lên sự thực lịch sử. Nhưng vì thời đại và hoàn cảnh vẫn đổi


thay, giáo dục tiến triển, có thể ngày nay rồi sẽ không như thế nữa. Vả lại tôi tin tưởng vào sự


thành tâm của anh và tin rằng anh sẽ làm được chuyện ấy.


Thính giả: Tôi vẫn thấy cách giải thích của ông khác tôi.


Bá Dương: Tôi cần nhấn mạnh thêm rằng cái chuyên chế chính trị ở Trung Quốc với cái


chuyên chế chính trị của Tây phương về nồng độ và kích thước hoàn toàn không giống nhau.


Tôi học sử phương Tây không nhiều, nhưng nếu đem so sánh thì chuyên chế Trung Quốc rất


cực đoan.


Ở cung đình phương Tây chỉ quỳ một gối, trừ phi đối với thượng đế thì mới quỳ hai gối. Ở


Trung Quốc không những phải quỳ cả hai gối mà còn phải khấu đầu, thậm chí đập đầu xuống


đất cho kêu thành tiếng (Khải hưởng đầu).


Cuối đời nhà Thanh có câu: "Đập đầu nhiều, nói ít" (Đa khải đầu, thiểu thuyết thoại). Cái khái


niệm nội tại cùng trình độ của chuyên chế Trung Quốc e rằng Tây phương không thể so sánh


nổi.


Tôi được thấy một bức tranh sơn dầu vẽ Louis XIV (Lu-is XIV) của Pháp. Ông này ngồi giữa,


các đại thần và hoàng hậu ngồi chung quanh. Cái cảnh này không thể nào có ở Trung Quốc


được, các đại thần ở Trung Quốc nhất định phải nơm nớp lo sợ, lấm la lấm lét quỳ mọp chung


quanh.


Thính giả: Xin ông cho biết ý kiến về chữ giản thể (chữ Hán đơn giản hóa, dùng ở lục địa, so


với chữ cũ nhiều nét vẫn dùng ở Đài Loan).


Bá Dương: Tôi tán thành chữ giản thể, lại càng tán thành việc phải phiên âm tiếng Trung


Quốc. Tối hôm qua nhiều bạn tụ tập nói chuyện về vấn đề này, đại khái không ai nhất trí. Cái


tâm lý bị bế tắc của những người phản đối chữ phiên âm cần phải được giải tỏa.


Lấy ví dụ, lúc gọi điện tôi hỏi anh họ gì? - Tôi họ Lưu! Chữ Lưu này viết thế nào có lẽ trên


điện thoại khó mà giải thích cho rõ ràng được. Nếu tôi bảo anh đi tra từ điển, dĩ nhiên không


phải tra được ngay, tra đến lần thứ hai, thứ ba vẫn không thấy chắc phải nổi điên lên.


Ngày xưa chúng ta trách cứ cổ văn không có dấu chấm câu, không biết ngắt câu thế nào và


hiểu làm sao. Có ai đọc qua "Sử đời Nguyên" chưa? Tên Mông Cổ như mớ bòng bong, dài


lòng thòng không biết là mấy người. Ngày nay tuy đã có dấu chấm câu, nhưng những khuyết


điểm lớn của cái loại chữ vuông này lại càng lộ rõ.


Vấn đề đầu tiên là tách chữ. Vì tiếng Trung Quốc có nhiều từ ghép, dù biết hết các chữ đơn ở


trong câu cũng chưa chắc đã hiểu.


Sau đó là không thể phiên âm. Loại chữ vuông này thông thường chữ nào đọc riêng chữ đó,


không thể dính liền âm tiết lại với nhau, nên phải phí rất nhiều sức lực để tập trung mới hiểu


được ý từ những âm tiết rời rạc đó. Ví dụ tôi nói "Tôi từ Mã-lai-xi-a đến" (Ngã tòng mã lai tây


á lai), ở đây chữ Malaisia phải liên âm và cách âm với chữ lai sau đó. Nếu không "Mã lai"


(ngựa đến), "Tây á lai" (Tây á đến), và nếu có em bé nào lại lấy tên là Tây á thì câu nói này lại


thành vấn đề lớn.


Ngày nay máy chữ, điện não (máy tính điện tử) đánh nhanh biết bao, tôi chỉ sợ rằng cái thứ


chữ vuông này không thể nào bắt kịp bước tiến. Tôi chỉ mơ ước có được một cái máy đánh


chữ tiếng Trung Quốc để khỏi phải ngày ngày làm cái loại động vật bò lên trang giấy.


Nhưng phiên âm tiếng Trung Quốc không phải dễ, chủ yếu vì cái trở ngại tâm lý nơi chúng ta,


vì chúng ta cho rằng dùng ABCD là dùng mẫu tự tiếng Anh, chữ phiên ra là tiếng Anh. Kỳ


thực không phải như vậy. Chúng ta phải hiểu là chữ ABCD này là mẫu tự Trung văn. Chữ


phiên ra là chữ Hoa, không đến nỗi có cảm giác nhục nhã vì bị đồng hóa. Đúng vậy, nó là


tiếng Trung Quốc, tiếng Hoa chứ không phải tiếng Anh, tiếng Đức. Nếu dùng ABCD mà lại


thành tiếng Anh thì người Đức, người Pháp có thể tức chết được.


Văn tự hoàn toàn là công cụ, giống như cái xe, anh mua nó thì nó là của anh, ai mua nó thì nó


là của người đó. Kỳ thực nếu chúng ta dùng văn tự phiên âm ngay hôm nay, người chết đói


đầu tiên sẽ là tôi vì tôi đang dùng cái loại chữ vuông này để kiếm cơm. Nhưng tôi cảm thấy


sinh mệnh của riêng mình rất ngắn ngủi, những lý do chính trị cũng rất ngắn ngủi, chỉ có văn


hóa dân tộc là quan trọng, rất quan trọng. Nhất là các vị tại Mỹ, các vị có thể thấy con cháu


đời thứ hai nói được tiếng Trung Quốc mà không viết được. Khó như thế thì làm sao mà dậy


chúng?


Cứ như chữ Quốc (nước) viết thế nào? Muốn biết nó chỉ có cách học thuộc lòng, không có


phương pháp nào khác. Ngay cả lúc trẻ con gào lên: "Tôi ghét tiếng Trung Quốc! " mà chúng


ta vẫn còn chưa thức tỉnh sao? Chúng ta không thể làm cho những khó khăn trên đường tiến


bước của Trung Quốc tăng thêm, không thể tự xích tay, cùm chân được.


Tại sao lại phải sống cho quá khứ, cho tổ tiên thay vì sống cho con cháu mình? Nếu chỉ vì


phiên âm mà rồi không đọc được sách cổ nữa thì cũng chả sao. Hiện giờ chưa phiên âm mà


anh đọc cũng đã chẳng hiểu rồi còn gì!


Việc quá khứ, việc tổ tiên, chúng ta có thể nhờ một số người để chuyên đi quét dọn miếu


đường. Chúng ta phải vì con cháu, vì thế hệ sau này, vì tương lai của nước nhà và dân tộc.


Một ngày nào đó, nếu tiếng Trung Quốc bỗng nhiên trở thành tiếng quốc tế, chắc chắn nó


không thể phổ cập được trừ phi dùng phiên âm.


Hôm nay tôi nhai đi nhai lại những khuyết điểm của Trung Quốc chắc có người nghe bị mất


tinh thần. Nhưng tôi thấy rằng cần như vậy, vì nếu cứ lải nhải khoe khoang những ưu điểm,


đức hạnh, sự thông minh của mình, rồi sẽ chẳng còn ai tôn trọng mình nữa, vì chính mình đã


không tôn trọng mình gì cả.


Các bạn nên biết, những hoạn nạn của người Trung Quốc, không phải là chỉ của riêng người


Trung Quốc mà còn là của cả thế giới. Một chiếc thuyền nhỏ chìm thì không sao, một chiếc


tầu lớn bị chìm có thể cuốn theo vào vòng xoáy nước của nó những chiếc thuyền nhỏ xung


quanh.


Tại sao Nhật Bản lại đến xâm lược chúng ta?


Chính vì sự yếu đuối của chúng ta đã dụ dỗ họ ra tay. Chúng ta phải tự cứu lấy mình. Điều đầu


tiên để tự cứu là phải biết được những khuyết điểm của mình. Nếu không tự biết những khuyết


điểm của mình thì chẳng khác gì suốt ngày chỉ nghĩ đến những chuyện đắc ý, chỉ sợ rồi cũng


như Giả Bảo Ngọc (một nhân vật trong Hồng Lâu Mộng) suốt ngày luẩn quẩn với những ý


tưởng dâm dật.


Thính giả: Tôi thường nghe được hai câu này - "Dĩ bất biến ứng vạn biến" (Lấy sự không


thay đổi để ứng phó với mọi thay đổi), và câu "Báo thiện bất báo ưu" (Đáp lại bằng điều thiện,


không đáp lại bằng sự lo buồn).


Bá Dương: Đối với câu "Dĩ bất biến ứng vạn biến" thì tôi không dám có ý kiến gì, còn câu


"Báo thiện bất báo ưu" tôi cho rằng đấy chỉ là một đặc trưng của giới quan trường.


Thính giả (người Mỹ): Hôm nay hình như ông chỉ nói về khuyết điểm của người Trung


Quốc, tôi muốn xin ông cũng nói về những cái xấu của người Mỹ. Qua những sách ông đọc,


những việc ông nhìn, ông thấy được những điều gì nước Mỹ cần phải học hỏi ở năm nghìn


năm lịch sử Trung Quốc?


Bá Dương: Về những điều xấu của nước Mỹ, chính người Mỹ đã nói lên nhiều rồi, đó là chỗ


tôi rất khâm phục. Vì nước Mỹ có cái khả năng tự cân đối, tự phản tỉnh và tự điều chỉnh. Tự


mình có chỗ sai trái đều dám tự nói ra, tự mình có thể tiếp thu, đánh giá. Đấy là những điểm


mà người Trung Quốc chúng tôi không có được. Dĩ nhiên nước Mỹ không phải mười phần


toàn mỹ, vì trên thế giới này chưa có gì như vậy, mà nước Mỹ nếu như vậy chỉ sợ rồi nó sẽ xơ


cứng mất.


Thính giả: Lúc ở đại học tôi có đọc qua vài tác phẩm của ông, tôi rất thích cái ngòi bút châm


chọc, cay chua, mỉa mai những điều không hợp lý trong xã hội. Hôm nay, được nghe ông nói


về những khuyết điểm của người Trung Quốc, tôi rất cảm động mà cũng rất khổ tâm, chán


nản, buồn rầu. Nhưng tôi cho rằng cũng giống như một con bệnh, nếu đã biết mình bị bệnh tất


phải tìm cách cứu chữa, thuốc thang. Tôi không biết trong các tác phẩm của ông có những gì


mách bảo chúng tôi làm chuyện đó? Ngoài ra tôi muốn ông nói một tý về tình hình trên văn


đàn Đài Loan, giới thiệu cho chúng tôi những tác giả và những tác phẩm hay.


Bá Dương: Tôi xin nói về vấn đề thứ hai trước. Trần Ánh Chân, Vương Tháp, Tam Mao, Ai


Quỳnh Quỳnh, Trần Minh Bàn, Dương Thanh Toàn là những nhà văn hạng nhất. Tôi không


đọc được nhiều vì ngồi tù mắt bị yếu đi, đọc chữ bé quá không được, mà sách báo Đài Loan


chữ quá bé. Vấn đề này có lẽ phải xin nhà tôi đáp hộ.


Nói đến khuyết điểm, đến bệnh tình của người Trung Quốc, tôi biết các bạn rất buồn và tôi


cũng rất buồn. Bởi vì trước kia tôi toàn nghe nói đến những vinh quang của Trung Quốc, như


kiểu Chu Nguyên Chương là một vị anh hùng dân tộc. Sau này tôi mới khám phá ra rằng


không phải vậy. Trong lúc những người khác chiến đấu với quân Mông Cổ, thì y ở tại hậu


phương mở rộng địa bàn của mình, đánh triệt hậu những người khác để chiếm đất, cuối cùng


cướp chính quyền, hoàn toàn tính toán cho ý đồ riêng tư, chờ cho mọi người khác đánh xong


quân Mông Cổ rồi y tọa hưởng kỳ thành.


Phát hiện được chuyện này tôi rất lấy làm chán nản. Tôi nghĩ nếu muốn phục hưng dân tộc


phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, những sai trái của mình. Nếu không thừa


nhận thì làm sao cải cách được? Không cải cách thì làm sao tiến được? Thời trước mình đã


không thừa nhận vì không biết phân biệt phải trái, dù có thấy khuyết điểm cũng không dám


nói. Nếu có kiểm thảo thì chỉ toàn thấy những điều hay. Cho nên chúng ta toàn bị người ta bắt


nạt, lúc thì người này, lúc người nọ.


Mỗi người Trung Quốc phải tự xét mình trước khi oán thán, kêu ca, trách cứ người khác. Tại


Đài Bắc có cặp vợ chồng cãi nhau tìm tôi phân bua. Người chồng hùng hổ bảo: "Vợ tôi không


yêu tôi". Tôi nói rằng nếu muốn người khác yêu anh, điều kiện đầu tiên là tự anh phải là người


khả ái. Nếu tự mình không khả ái làm sao người khác có thể yêu mình. Nếu mình muốn người


khác tôn trọng, thì trước hết phải có cái điều kiện để được tôn trọng. Cái điều kiện này không


thể cứ chửi bới hoặc hô khẩu hiệu là có được. Ví thử nơi này là nơi không thể tùy tiện khạc


nhổ mà anh cứ khạc nhổ; tiểu tiện phải vào nhà xí, anh lại cứ ở trên đại lộ mà làm, thì hỏi rằng


làm sao người ta tôn trọng anh được? Vì vậy, để được tôn trọng chúng ta phải có những điều


kiện tiên quyết, phải biết chúng ta khác người ở điểm nào, phải biết cái dở của ta, cái hay của


người.


Nếu anh bảo người Mỹ tốt, người ta sẽ bảo anh là sùng bái Tây phương. Sùng bái thì đã sao?


Hệ tư tưởng của chúng ta ngày nay, về kinh tế, học thuật, dân chủ, chính trị, nhân quyền có cái


nào là do cha ông chúng ta truyền lại không? Chế độ xã hội, hình thái ý thức, phương thức


sinh hoạt đều do từ nước ngoài đến, có cái nào là truyền thống không? Những sinh hoạt vật


chất của chúng ta như xe ô-tô, máy bay, kính mắt, cách cắt tóc, cạo râu, nhà ở,..v.v... đều


chẳng phải do người Trung Quốc phát minh ra. Cho nên tôi thấy không phải là vấn đề sùng bái


mà là vấn đề học tập. Hiện nay ở Đài Bắc người ta thích ăn gà ta, mà tôi cũng rất thích, không


ai thích ăn gà tây, không ngon thành ra không ai ăn cả. Tóm lại cái gì hay thì người ta thích.


Cái tinh thần người Trung Quốc không hiểu thế nào mà hễ cứ tôn sùng Tây phương là họ nghĩ


tất yếu phải nịnh bợ nước ngoài. Không hiểu vì sao lại đưa đến cái kết luận đó? Sùng bái ở đây


chẳng qua là học những ưu điểm của họ. Ví dụ có một ngày nào đó người Mỹ đều hút thuốc


phiện tự sát, chẳng nhẽ chúng ta cũng lại bắt chước họ sao? Chúng ta phải có cái tiền đề là làm


sao cho người ta tôn trọng mình, phải có khả năng tự tìm hiểu mình. Đó là điều kiện tối cần để


dân tộc mình có thể tồn tại và phát triển.


Trách tới trách lui rồi chung quy cũng chỉ đi trách người khác thì không thể nào cứu được dân


tộc. Dân da đỏ nói mãi là người da trắng giết hại họ, họ thù hận đến xương tủy, nhưng thù họ


thì làm được g ? Phải tự mình mạnh lên mới được. Không tự ngoi lên được, trong tương lai có


thể còn bị giết nhiều hơn nữa. Không nên trách cứ oán thán ai cả, mà phải thấy được cái sai,


khuyết điểm của mình thì mới có khả năng khá lên được.


Thính giả: Trong quyển "Những con trùng dậy sớm" ông lên án những tiểu thuyết huyền ảo,


khuyên mọi người không nên xem tiểu thuyết kiếm hiệp. Trên nguyên tắc tôi hoàn toàn đồng ý


với ông. Nhưng Nghê-Khuông lại bảo: "Ở trên đời nếu không đọc tạp văn của Bá Dương đã là


một sự mất mát lớn, nếu không xem được chuyện kiếm hiệp của Kim Dung lại là một sự mất


mát lớn khác nữa". Không hiểu ông nghĩ gì về câu nói này? Vấn đề thứ hai là nghe nói lúc ở


Lục Đảo ông đọc rất nhiều sách về tướng số. Tôi cho rằng môn tướng số là một bộ phận của


văn hóa Trung Quốc rất thần bí, ông nghĩ sao?


Bá Dương: Khi tôi viết quyển sách đó tôi chưa đọc tác phẩm của Kim Dung, bởi vì thời đó


tiểu thuyết của Kim Dung chưa xâm nhập vào Đài Loan (từ Hồng Kông). Sau khi đọc Kim


Dung rồi thì không thể đọc các loại truyện kiếm hiệp khác. Tôi đọc qua Vương Độ Lư, Bất


Tiêu Sinh và rất nhiều kiếm hiệp khác. Nhưng sau khi đọc Kim Dung rồi, thấy chẳng ai sánh


kịp. Cái trình độ văn tự, cảnh ý của Kim Dung đều cực giỏi, thêm nữa tiểu thuyết kiếm hiệp


của ông ta lưu hành ở nước ngoài nên ý nghĩa lại càng lớn. Nó làm mọi người say mê, giúp


phổ cập hóa tiếng Trung Quốc. Ông ta viết quả là hay, bút pháp thật tài tình, đúng là không


tiền khoáng hậu, tôi rất khâm phục.


Lúc ngồi tù tôi cũng đã đọc nhiều sách tướng số. Vì 12 năm vừa qua, thời cuộc đổi thay, có


khả năng tôi không kiếm được cách sinh nhai, định ra ngồi lề đường bốc quẻ. Tôi đọc được


hơn một năm. Sau đó có người bảo tôi là một chính trị phạm không được phép làm thầy bói,


cho nên tôi cũng bỏ luôn. Nói đến vận mệnh thì tôi tin là có. Các bạn trẻ thường không tin số


mệnh, tôi thời trẻ cũng thế. Tăng Quốc Phiên có một lần nói với Lưu Thứ Thanh rằng: "Đừng


tin sách, tin số mệnh". Lưu Thứ Thanh bảo: "Lời nói đúng, truyền vạn thế". Đời người có


những thứ mình không thể khống chế, nếu không dùng số mệnh để giải thích thì dùng cái gì để


giải thích được? Những hiện tượng không thể điều khiển được, chúng ta gọi là vận mệnh, anh


gọi là "bất vận mệnh" cũng được, miễn là đặt cho nó một cái tên. Tối hôm qua, phi cơ của Đài


Bắc Viễn Đông Hàng Không bị nổ. Trước đó tôi có hay dùng phi cơ từ Đài Bắc đi Cao Hùng


để khám mắt, nhưng bình thường vẫn chỉ ngồi viết bài tại tòa soạn "Đài Loan thời báo", còn


chủ báo là Ngô Cơ Phúc và Tổng biên tập Tô Đăng Cơ rất hay đi đi về về giữa Cao Hùng và


Đài Bắc bằng phi cơ, nên hiện nay tôi rất lo cho họ. Đấy chỉ là một dẫn chứng. Anh có thể cho


phi cơ bay được, nhưng không thể làm cho phi cơ tránh được những chuyện xảy ra ngoài ý


muốn.


Thính giả: Hôm nay là lần đầu tôi được gặp ông tại nước ngoài sau những năm ông bị tù đày.


Tôi có một chuyện nhỏ muốn hỏi là sau bao năm khổ ải ấy bây giờ đứng trước mọi người đây,


cái tâm tình của ông như thế nào, ông có gì để nói về những gian truân ấy?


Bá Dương: Tôi cho rằng riêng tôi chẳng có gì thay đổi cả. Trong nhà lao cái gì phải khóc thì


tôi đã khóc, lúc phải cười thì tôi cũng đã cười. Có người bảo ở trong tù thì mặt ủ mày ê, đó là


chưa thật ở tù. Nếu 10 năm mà lúc nào cũng sầu não thì sống thế nào được? Lúc được vui thì


cứ vui, đó là cách nhìn của tôi. Nhất là đời người mà gặp hoạn nạn như tôi, thậm chí nghiêm


trọng tưởng có thể bị tử hình, sau bị xử 12 năm tù.


Mười hai năm là một khoảng thời gian rất dài chả lúc nào thích ứng được. Gia đình lại xảy ra


biến cố, nào vợ xa chồng, chồng xa vợ, dù hẹn biển thề non lúc này đều hoàn toàn thay đổi.


Ngoài ra lại còn tác động đến tình bè bạn, đột nhiên rất nhiều bạn đâm ra sợ tôi. Có những


bạn, bình thường có thể phó thác tài sản tính mạng được, bây giờ bỗng dưng thay đổi hẳn. Có


những người chẳng thân thiết gì lại nhờ vả được. Cho nên tôi quan niệm rằng không thể khái


quát hóa vấn đề này được, nó tùy theo mỗi trường hợp riêng.


Tôi ngồi tù được hai tháng thì vợ tôi bỏ tôi, chưa được hai năm sau thì chính thức ly hôn. Tôi


ký giấy ly hôn gửi cho vợ tôi, cô ta hỏi còn đồ đạc của anh thì sao ? Tôi hỏi đồ đạc nào? Đồ


đạc trong nhà vốn tất cả là của tôi. Tôi bảo cho cô ấy toàn quyền định đoạt, những cái gì thuộc


về tôi thì cứ vứt hết ra đường, vì ở Đài Loan tôi không có người thân, chẳng có chỗ nào để cất


giữ.


Tôi nghĩ đấy là một trường hợp cá biệt, chẳng phải người đàn bà nào cũng như vậy. Đàn ông


cũng thế, cũng có người thay lòng đổi dạ, nhưng không phải tất cả đàn ông trong thiên hạ này


đều như vậy.


Bạn bè thì cũng chẳng khác mấy, có bạn lại sợ tôi mượn tiền, có người thì dậu đổ bìm leo, chờ


người ngã xuống giếng để ném đá theo, có người chẳng đoái hoài đến mình nữa, có người lại


lên án kịch liệt, chỉ muốn tôi bị xử bắn đi cho rồi.


Cái này cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt và cũng chỉ có dăm ba người nào đó như vậy thôi.


Vẫn còn những người khác sẵn sàng giúp đỡ mình. Sự thật là như vậy.


Tôi hoàn toàn không cảm thấy bị mất mát, có mất chăng, đó là những kẻ không phải là bè bạn.


PHẦN II: CÁC BÀI VIẾT


CÁI TRIẾT HỌC BẮT ĐẦU BẰNG KÍNH VÀ SỢ


Năm nghìn năm văn hóa truyền thống của chúng ta lấy sự sùng bái làm nền tảng, làm cho cái


quan hệ giữa người và người chỉ dựa trên sự kính sợ hơn là trên tình cảm yêu thương.


Viết đến đây thế nào cũng có người gào lên: "Còn cái chữ NHÂN của chúng ta thì sao?"


Nếu nói đến chữ NHÂN phải phân biệt rõ hai mặt. Một mặt là nếu bảo có chữ nhân thì tất


nhiên là có, nhưng chỉ có trong sách vở, mà trên hành động thì cái thành tố của nó quá nhỏ bé.


Sở dĩ chúng ta hơi một tí là lôi cái chữ "nhân" này ra chỉ vì có thể dễ dàng tìm nó trong sách


vở mà khó tìm được nó trong hành động. Mặt khác, chữ "nhân" tựa hồ không phải là "ái"; chữ


"ái" tựa hồ không phải là "nhân". "Nhân" là phe nắm quyền, đối với thứ dân ở dưới có một


chút tình thương xót và thông cảm nên mới bố thí, ban phát cho để tỏ ra mình độ lượng, khảng


khái - như cô trông trẻ đối với trẻ con ở vườn trẻ.


Sự thực là giữa người và người đầy những "cung kính" và "sợ sệt". Có nhiều người vì kính mà


thành sợ, chẳng khác nào con đối với cha. Có nhiều người vì sợ thành ra kính, giống gái đĩ đối


với khách làng chơi, như đại thần đối với hoàng đế, tiện dân đối với quan lại, tù nhân với cai


ngục.


Anh không thấy Chu Toàn Trung tiên sinh làm cái tiết mục gì lúc hoàng đế mở quần thần đại


yến sao? (ông này mưu phản mà tên Toàn Trung - nhưng không trung - lại là tên vua ban) Anh


ông ta là Chu Dục tiên Sinh mắng: "Lão tam, mày làm phản như vậy không sợ diệt tộc à?",


làm cho mọi người cụt hứng bỏ ra về. Sử sách lập tức xưng tụng anh ông ta là đại đại trung


thần, kỳ thật anh ông ta chỉ vì sợ "diệt tộc" mà thôi. Trong chính sử, cái loại tiết mục này


nhiều lắm. Bất cứ sự kiện nào, nếu loại bỏ cái phần sợ hãi đi thì những tình cảm còn lại chả có


ý nghĩa gì nữa.


Trong Hồng Lâu Mộng, Giả Bảo Ngọc tiên sinh viết cho Lâm Đại Ngọc nữ sĩ: "Trong lòng


tôi, ngoài bà nội, cha, mẹ tôi, thì chỉ còn có cô thôi!" Tôi bây giờ cũng đã nhiều tuổi, tôi nghi


câu nói này là không thật. Nói rằng Giả Bảo Ngọc yêu bà nội, yêu mẹ thì không có gì là giả


tạo, chứ nói yêu ông bố thì tôi e rằng vấn đề trở nên rất to tát. Vì có dùng kính hiển vi để soi


toàn bộ tác phẩm cũng không thể tìm thấy được một tý vết tích nào của cái tình yêu đó, mà chỉ


toàn thấy sự hãi sợ. Chỉ nghe bố gọi là Giả Bảo Ngọc đã rụng rời tay chân. Tình cảm của con


đối với cha như vậy thì nơi tiềm thức chắc phải mong sao cho ông già anh ta chết phứt đi cho


rồi.


Cái triết học khởi từ kính, sợ làm cho khoảng cách giữa vua và tôi, giữa quan và dân, càng


ngày càng thêm xa cách. Cái tôn nghiêm của hoàng đế tất phải "lên cao đến 33 thiên đường, để


lợp ngói cho Ngọc Hoàng thượng đế". Còn thần dân thấp hèn tất phải "chết đến 18 từng địa


ngục, thay Diêm vương đào than đá".


Trên thế giới này chưa hề có quốc gia nào lại cần đến cái phong cách xui xẻo đến như Trung


Quốc vậy.


Trích từ tập "Đập tan hũ tương"


CHỈ TRỪ TÔI RA


Cái tinh túy trong nghĩa dân chủ là "Tôi không được ngoại lệ". Mọi người đều không được


vượt đèn đỏ thì tôi cũng không được. Mọi người không được tùy tiện khạc nhổ thì tôi cũng


vậy. Mọi người tán thành pháp chế thì tôi cũng không thể đòi có đặc quyền. Cái gì đã thành


định chế rồi thì tôi không được phá hoại.


Nhưng cái của quý này một khi vào đến Trung Quốc rồi, thì bỗng trở thành: "Riêng tôi là


ngoại lệ" (Chỉ ngã lệ ngoại).


Tôi chống việc vượt đèn đỏ, nhưng đó chỉ là chống những người khác vượt, còn riêng tôi thì


tha hồ. Tôi chống việc tùy tiện nhổ đờm, nhưng chỉ đối với những người khác thôi, còn tôi thì


vẫn có thể làm. Tôi tán thành chuyện mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nhưng bản


thân tôi thì không thể bình đẳng như những người khác được. Tôi tán thành việc xây dựng


pháp chế, nhưng chỉ mong rằng các anh tuân thủ nó, còn tôi vì thông minh và tài trí cao như


thế, không thể nào vào cái tròng đó được. Tôi đường đường một đấng như vậy mà lại không


thể là một ngoại lệ, lại chịu mất mặt thì sống còn có gì thú vị nữa.


"Cái mặt" ở đây là cái gì vậy?


Người nước ngoài nghiên cứu mãi mà vẫn không hiểu nổi nghĩa. Có người giải thích là "da


mặt", ý chỉ muốn chú ý đến bề mặt ngoài mà bỏ mặc không đếm xỉa đến nội dung thực của nó.


Người thì giải thích là "cái tôn nghiêm", ý muốn đặt cái hư vinh của nó lên trên thực chất.


Riêng phần mình, tôi cho rằng "cái mặt" có lẽ là một sản phẩm của sự suy nhược thần kinh và


của tính ích kỷ đời đời bền vững. Vì thần kinh suy nhược làm cho cái lòng gian càng thêm hư


hỏng, nên chỗ nào cũng phải đem cái kiêu ngạo mà bù đắp cho cái tự ti.


Vì tính ích kỷ quá bền vững, chỉ sợ không chiếm được lợi thế, nên lúc nào cũng cầu: "được


riêng mình là ngoại lệ".


Cái lòng ích kỷ con người ai cũng có, không những không thể chê trách là quá đáng mà còn có


thể xem như một động lực thúc đẩy cho xã hội tiến. Nhưng một khi nó vượt quá mức độ lại


thành một con bệnh nặng, chỉ đáng khiêng đến nhà xác chờ cho nó tắt thở thôi.


Ôi! Một kế hoạch, một phương pháp, một hội nghị, một quyết sách, thậm chí một vụ kiện


cũng chỉ đều là cái cớ để cho đám người tham dự vào nghĩ ngay rằng: "trong việc này mình có


lợi gì không?" hoặc "ta sẽ kiếm chác được bao nhiêu tiền đây?", nhờ nó ta "hưởng được những


quyền hành gì?", ta sẽ "có được trách nhiệm lớn hay nhỏ?".


Một câu một chữ, nhất cử nhất động đều lòng vòng trên những thứ đó. Bề trên cũng vậy, cấp


dưới cũng thế. Cả anh và tôi cũng rứa, mọi người đều ôm lấy chúng đến chết cũng không


buông.


Trích từ tập "Đập tan hũ tương"


TẠI SAO KHÔNG THỂ MƯU LỢI?


Ông Tôn Quang Hán cho rằng "quan niệm cũ" và cái "hũ tương" tên tuy khác nhau mà thật ra


giống nhau. Nhưng tôi nghĩ hai cái này tựa hồ chỉ có một phần giống nhau. Trong quan niệm


cũ cũng có cái tốt, những hành động của nó cũng có những cái rất xán lạn. Chỉ có cái quan


niệm đầy giòi bọ của cái hũ tương, cho dù nó có mới hay cũ, cũng chỉ là rất sa đọa, độc ác.


Trong quan niệm cũ còn đến ngày nay, người ta coi khinh việc buôn bán, cho rằng buôn bán


một cách chính đáng để kiếm tiền cũng là mất thể diện. Nó không phải không dính dáng đến


chuyện làm cho văn hóa đã đi vào một bước ngoặt. Vì cái văn hóa chúng ta vốn là quang minh


chính đạo, nhưng bị cái chính thể phong kiến lâu dài và các học phái Nho gia hợp lực xô đẩy


cho rơi vào trong cái hũ tương kia. Ban đầu còn kêu khóc, nhưng sau thành giòi bọ rồi thì


cũng chẳng kêu được nữa, ngay cả những tiếng rên rỉ rồi cũng thành yên lặng.


Học thuyết của ông Mạnh Kha (Mạnh Tử) dạy rằng: "Nói đến lợi mà làm gì, chỉ có nhân nghĩa


mà thôi!" (Hà tất viết lợi, duy hữu nhân nghĩa nhi dĩ). Cái ông tổ sư không nói đến lợi này, vì


ngàn vạn con giòi trong hũ tương mà làm ra cái mặt nạ nhân nghĩa, rõ ràng đã bị bệnh tim la


nặng; mặt mũi đã lở loét, nhưng một khi đeo mặt nạ lên lại hét: "Tất cả mọi người hãy xem


đây, mặt ta đẹp đấy chứ?!"


Ngoài mặt có vẻ trấn tĩnh nhưng trạng thái tâm lý bên trong không yên ổn, các nhà Nho đối


với thương nhân đầy khinh thị, đố kỵ và tức giận. Hễ nói đến thương nhân thì họ lại gọi là


"gian thương".


Dĩ nhiên gian thương thì cũng rất nhiều, mà trong giới viên chức nhà nước cái loại sâu mọt đó


cũng chả thiếu, nhưng chưa bao giờ nghe ai gọi bọn đó là "gian quan" cả, nhiều lắm cũng chỉ


có chữ "tang quan" (quan tham nhũng), một từ mà ta nghe thấy nhiều vô cùng tận.


Nhưng những người buôn bán đàng hoàng, hợp pháp kiếm được ít tiền, ăn ở tương đối khá


một tí tức thì có ngay những kẻ nóng mặt căm thù. Còn "ba năm làm tri phủ trong sạch, có


được 10 vạn quan tiền" (Tam niên thanh tri phủ, thập vạn tuyết hoa ngân) thì cái cao quý khốn


nạn đó lại có thể chấp nhận được, và mọi người đều giơ ngón tay cái lên bảo: "Giỏi thật!"


Một sinh viên lớp đêm của Học viện Văn hóa Trung Quốc kể với tôi về giáo viên của anh ta là


ông Phó Tông Mậu. Ông này giảng bài được học sinh rất ưa thích, không chỉ vì ông nói hay


mà còn sâu sắc nữa.


Hôm đó để chấm dứt một học kỳ, ông đã đánh phủ đầu cái loại học thuyết của Nho gia thích


lải nhải "chỉ vì nghĩa mà không vì lợi" (Chính kỳ nghị bất mưu kỳ lợi). Ông khuyến khích sinh


viên cứ dùng những phương thức hợp pháp và chính đáng mà kiếm tiền. Ông bảo "mưu lợi"


không phải là một điều sỉ nhục, bàn về lợi lộc, tiền bạc không phải là một điều sỉ nhục, trái lại


còn là một điều vinh quang.


Cái kiểu nhà Nho, mồm không nói đến lợi, đến tiền nhưng lòng dạ lại đầy ứ những quan niệm


què quặt về lợi tiền, nếu không sửa đổi lại thì xã hội, cuộc sống không thể nào vươn lên được.


Người sinh viên khi thuật lại chuyện này giọng còn đầy tôn kính ông Phó Tông Mậu, mà tôi


lúc nghe kể chuyện cũng vậy.


Cái dục vọng tiềm tàng trong lòng người Trung Quốc cần phải xóa bỏ kia không phải một sớm


một chiều có thể tiêu tan được. Có câu rằng: "Không có gì buồn bằng không biết xấu hổ".


Than ôi! Vì không biết xấu hổ nên cái lòng ích kỷ vẫn muôn đời.


Còn có một loại hiện tượng, mà không biết độc giả có chú ý không, là người Trung Quốc hay


nói nhân nghĩa, đạo đức ở cửa mồm. Miệng lưỡi thì không ai bằng, thông minh tài trí, khả


năng phán đoán tưởng chừng nhất thiên hạ. Nhưng vấn đề là trong muôn vạn người chẳng gặp


được ở lòng ai có chất chứa những thứ đó. Chỉ cần trong muôn người có một thì tất cả những


thứ mơ hồ vớ vẩn kia mới trở thành sự thật, và làm cho cuộc đời lên hương được.


Trích từ tập "Đập tan hũ tương"


GIỮ MÌNH LÀ THƯỢNG SÁCH


Có ông thánh nói: "Biết mà không làm, không phải biết thật" (Tri nhi bất hành, bất vi chân tri).


Biết và làm đều quan trọng, không kết hợp được hai cái đó với nhau thì không phải thật là


biết. Hiểu được đoàn kết là sức mạnh, nhưng trong hành động lại không chịu đoàn kết thì cũng


chưa thể cho là hiểu được.


Căn bệnh này không hẳn do bản tính của người Trung Quốc, mà vì mọi người ăn phải bả của


bọn Nho gia học phái, rồi không tiêu hóa được. Thật ra Khổng Tử trên nguyên tắc đề xướng


Chủ nghĩa cá nhân hơn là Chủ nghĩa tập đoàn. Khổng Tử thường lải nhải dậy dỗ các môn đệ,


những "ông thánh bậc hai", về cái gọi là "giáo dục đại chúng". Thật ra cái giáo dục mà ông ta


nói cũng chẳng khác nào số những hạt trân châu trong các vỏ trai. Phần lớn những điều dậy


bảo của ông chỉ nhắm vào giáo dục cá nhân, khuyến khích chủ nghĩa cá nhân là chính.


Lý tưởng của nhà Nho cơ bản gồm hai điều:


Một là làm sao cho đám dân thường cúi mặt, cúp đuôi, không dám ngó ngàng gì đến chuyện


chính trị, chuyện quốc gia đại sự, chỉ còn biết lo cho gia đình, tài sản riêng, như câu "Người


khôn giữ mình" (Minh triết bảo thân), hoặc "Thức thời mới là người tài giỏi" (Thức thời vụ giả


vi tuấn kiệt). Đây là một cách làm cho sức đề kháng của một con người trên phương diện xã


hội càng ngày càng yếu đi.


Lý tưởng thứ hai là cầu xin kẻ nắm quyền nương tay đối với dân lành vô tội, lúc đạp lên đầu


họ thì đạp nhè nhẹ một tí. Nên có chữ: "Hành nhân chính", nghĩa là thi hành chính sách nhân


đạo.


Khổng Tử có một đoạn văn nói cách tránh tai họa rất cao siêu như thế này:


"Nước bị nguy thì không nên vào, nước bị loạn thì không nên ở. Lúc thiên hạ có đạo lý thì ta


xuất đầu lộ diện, lúc không có thì ta ở ẩn. Nước có đạo lý mà nghèo hèn là nhục. Nước vô đạo


mà phú quý cũng là nhục" (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo, tắc kiến.


Vô đạo, tắc ẩn. Bang hữu đạo, bần thả tiện, sỉ dã. Bang vô đạo, hàn thả quý yên, sỉ dã).


Những điều dạy bảo này của thánh nhân thật là thông minh, rành mạch: Con người sống phải


theo chiều gió, như hòn bi trơn. Chờ cho người khác bình thiên hạ xong rồi thì ta nhảy ra kiếm


một chức quan. Lúc dầu sôi lửa bỏng thì ta ở nhà đánh giày cho thật trơn, và gửi vợ con đến


những nơi an toàn nhất.


Đại khái để làm một nhà Nho chính thống - có thể làm hội trưởng Hội Khổng Mạnh được - là


kiểu như vậy. Nghĩa là tìm cái thế lợi nhất để thích ứng, để cho bản thân được an toàn, "tấm


thân nghìn vàng không ngồi trong căn nhà sắp đổ" (Thiên kim chi tử, tọa bất thùy đường).


Những phần tử trí thức cho rằng không bao giờ nên đến gần một nơi mà một viên ngói có thể


rơi vào đầu.


Đối với những thối nát chính trị, những đau khổ của dân lành, mình chẳng dính vào làm gì cho


mệt thân, có nhìn thấy cũng cứ tai ngơ mắt lấp cho xong. Vì nhìn thấy thường khó tránh khỏi


tức giận, tức giận thường khó tránh khỏi nói toáng lên, nói toáng lên thường khó tránh khỏi bị


tai vạ.


Than ôi! Trong toàn bộ giáo huấn của nhà Nho hầu như không có gì khuyến khích con người


suy nghĩ hay ho, rất ít nói đến quyền lợi, nghĩa vụ, rất ít khích lệ cạnh tranh, mà chỉ muốn học


trò mình, rồi lại học trò của học trò mình an phận với hiện trạng mà ung dung tự đắc. Cái gì


cũng có thể làm, miễn là nó không đem đến cho mình cái gì nguy hiểm cả.


Tại sao Khổng Tử ít khen ai ngoài Nhan Hồi - cái anh chàng học trò nghèo rớt mùng tơi đó ?


Ông hết sức tán dương sự chịu đựng nghèo khổ của anh học trò này mà không hề tìm hiểu


trách nhiệm của cái xã hội đã làm cho "ông thánh bậc nhì" này thành nghèo khổ đến như thế.


Lại không hề nghĩ làm thế nào để cải tổ cái quần thể xã hội đó, mà chỉ dương đôi mắt mù


quáng dạy đời rằng: "Nghèo cũng hạnh phúc được!".


Nếu mỗi người Trung Quốc đều hạnh phúc kiểu đó, quốc gia dân tộc chắc chắn phải quay về


thời kỳ đồ đá mà thôi !


Trích từ tập "Đập tan hũ tương"


LOÀI ĐỘNG VẬT KHÔNG BIẾT CƯỜI


Vài năm trước có người bảo diễn viên ca múa dân tộc mặt chẳng bao giờ cười, ông bầu hơi


ngạc nhiên, nhưng rồi cười đáp: - Cái màn đó gọi là "Cung nữ oán", cung nữ đương nhiên mặt


mày phải sầu khổ chứ! Nhưng sau đó diễn đến màn "Vui gặp gỡ", "Sống lâu muôn tuổi" mặt


mày các nàng vẫn ủ dột như cũ, không hiểu ông bầu kia sẽ nói thế nào?


Trước kia tôi cũng từng nghĩ rằng có lẽ cái giống da vàng sinh ra không biết cười, hoặc không


thích cười. Nhưng đến Nhật Bản rồi tôi mới thấy họ cũng da vàng mà lại biết cười một cách


hoan hỷ. Ngoài cô lái xe cười, các cô gái điều khiển cái thang máy đơn điệu và giống cái quan


tài kia cũng biết cười; bởi vậy tôi mới giật mình. Thế là tôi lại đi tìm cái nguyên nhân làm cho


mặt người Trung Quốc không cười được đó.


Có thể 100 năm nay chiến tranh liên miên, khóc đã quá nhiều, giống định luật chọn lọc tự


nhiên của các nhà sinh vật học, người Trung Quốc chỉ biết học khóc mà dần quên mất cười để


đối phó với thời cuộc đói khó. Bộ mặt thiếu cười của người Trung Quốc là một đe dọa cho sự


nghiệp du lịch. Cái ảnh hưởng xấu nhất của nó là thái độ của người Trung Quốc đối với người


lạ. Tôi đã từng đi khắp các tỉnh Trung Quốc và thấy rằng, ngoài Bắc Kinh, không có nơi nào


không có hiện tượng "bắt nạt người lạ".


Con người là một loại động vật biết cười. Nhưng những cô y tá, những cô bán vé xe người


Trung Quốc lại là một ngoại lệ. Về việc này hơn 10 năm nay mọi người đều than vãn nhưng


cái bộ phận quản lý xe buýt và nhà thương quá bận về việc ăn tiền để có thể chú ý đến nó. Cứ


xem tình hình này, trừ phi vứt tiền vào mặt họ, thì ngay cả ông trời cũng chẳng có thể cậy


mồm họ ra cho họ cười được.


Thực ra gương mặt những cô bán hàng bây giờ hầu như cũng có khá lên đôi chút. Ngay lúc


anh bước vào cửa hàng, giống như con mèo thấy con chuột vào ổ của mình, đôi mắt nhỏ của


các cô nhìn về phía anh chứa đầy những dò xét như đối với một địch thủ. Các cô bắt đầu bằng


việc đánh giá áo quần của anh, và nói một câu gì đó kiểu: "Ấy, cái này đắt lắm đấy!" Nếu anh


hỏi: "Còn thứ gì tốt hơn nữa không?" thì sẽ được trả lời: "Còn đắt hơn nữa đấy!".


Tôi có một người bạn, thời còn học Đại học Ngoại ngữ, đến một cửa tiệm bán hàng ủy thác


nằm trước mặt Trung Sơn Đường ở Đài Bắc. Anh lấy ra một cái áo len giá tiền tương đối đắt,


500 đồng để ngắm nghía. Người chủ tiệm sau khi nhìn kỹ huy hiệu trường học ở cổ áo anh đã


nói không do dự: "Lúc nào cậu tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ xong, thành thông dịch viên


lương mỗi tháng ít nhất là 500 đồng cái đã. Bây giờ cậu phải tiết kiệm chứ!" Kết quả đã hoàn


toàn ngoài dự đoán của ông ta, vì người bạn tôi đã mua cái áo đó.


Không có gì khổ tâm cho khách hơn cái việc sau khi vào xem một vài mẫu hàng trong tiệm rồi


cáo từ đi ra không mua gì. Lúc đó từ chủ tiệm cho đến người bán hàng, nếu không lườm nguýt


thì cũng thì thầm chửi rủa như vừa gặp trộm cướp, thái độ đều lộ rõ bên ngoài không hề giấu


diếm.


Thế mà có người bảo: "Có can hệ gì đâu! Bọn họ thấy người nước ngoài vào tiệm vẫn tươi


cười đấy chứ!". Nhưng ai cũng nhận thấy rằng sau khi du lịch phát triển, người nước ngoài


vào nhiều, một vài du khách ngoại quốc nghèo cũng bắt đầu xuất hiện, lúc ấy cái thói cũ kia


lại trỗi dậy. Và cách đối xử rồi cũng chẳng có gì khác biệt giữa người nước ngoài và người


bản xứ.


"Ngồi tắc-xi có máy tính tiền ở Đài Loan không cần cho buốc-boa!", nếu có điều gì đáng


quảng cáo rùm beng để kiếm khách du lịch thì đây là một.


Vì vấn đề cổ động cho chuyện đừng có hai giá khác nhau vẫn là một chuyện không triển khai


nổi. Phàm hễ mua đồ gì ở Đài Bắc, mọi người ai cũng có chung một nỗi lo sợ gặp phải giá cả


trên trời dưới đất. Lúc trả tiền thực ra mình có bị lừa hay không? Cái đó thật chỉ biết trông cậy


vào may rủi.


Cho nên trước kia tôi có phát minh một định luật thế này: Để khỏi bị hớ, lúc có ý định mua tôi


bắt đầu bằng cách trả một cái giá cơ bản thật thấp, mà tôi nghĩ với giá đó họ không thể nào


chịu bán. Nhưng kết quả lại vẫn không như tôi mong đợi.


Hôm trước tôi đi tìm mua một va-li da, thấy một cái đề giá 300 đồng, tôi cho rằng nó chỉ đáng


150 là cùng, chỉ có điều cái hình dạng của nó tôi không thích lắm nên chỉ trả cho có lệ là 70


đồng. Cứ tưởng nghe cái giá ấy, người bán hàng phải đi tự tử chứ làm sao bán được, không


ngờ anh ta hối hả bảo: "Được rồi, ông lấy đi!".


Ôi thôi! không biết làm sao mà nói cho được về cái thiện ý và lòng thành khẩn của người


Trung Quốc đối với những khách lạ. Con đường du lịch đâu phải chỉ để du lịch mà còn là con


đường để học làm người nữa.


Trích từ tập "Con lợn đẹp"


NƯỚC CÓ LỄ NGHĨA


Trình độ giáo dục của một cá nhân cùng phẩm chất của cả dân tộc hoàn toàn thể hiện ra qua


những tiếp xúc giao tế bề mặt của xã hội. Các vị chắc nhớ tác phẩm tên là "Kính hoa duyên"


(Truyện hoa trong gương). Đường Ngao đến "Nước quân tử", định nghĩa nước lễ nghĩa nào là


"thánh nhân truyền lại", "dùng lễ nhạc để giáo hóa",..v.v... Kỳ thực chẳng qua ông chỉ căn cứ


trên cái việc trẻ con và người già có bị lừa khi đi mua bán hay không. "Nước quân tử" là nơi


họ không bị lừa, và mỗi lần gặp một nước như vậy ông lại quỳ xuống vái.


Ở Mỹ, chuyện người già và trẻ con không bị lừa gần như là một chuyện đương nhiên. Vì


không những giá tiền đều được quy định mà thái độ phục vụ cũng không có chỗ chê. Lúc


chúng tôi ở Las Vegas vợ tôi có đến một cửa hiệu nhỏ tìm mua một cái áo khách [một loại áo


cánh dầy và dài - jacket]. Trong tiệm có một cái đề giá là 12 đô. Tiền đã trả xong, chỉ còn chờ


gói hàng, lúc ấy vợ tôi mới chợt thấy dưới cánh tay áo bên phải hình như có một vết đen bé


bằng hạt gạo, liền nói: "Ái dà, cái gì thế này?"


Bà già bán hàng cầm lên xem rất kỹ, và nói như xin lỗi: "Thực ra vết bẩn này có thể giặt sạch,


nhưng cũng có thể không. Nếu bà vẫn đồng ý mua, tôi đi hỏi chủ tiệm xem có thể bớt được ít


tiền không?" Nói xong lật đật lên lầu, rồi lại lật đật chạy xuống bảo có thể bớt cho vợ tôi 2


đôla. Nghe vợ tôi kể lại chuyện này tôi hơi choáng váng.


Vốn bị người bán hàng ngược đãi đã thành thói quen, bây giờ như bỗng có một ngọn gió xuân


đến làm rơi mưa xuống, tôi thật tình chỉ muốn đến mà hôn vào mồm bà bán hàng ấy một cái.


Nếu chuyện này mà xảy ra ở Đài Bắc hay Hồng Kông, có lẽ nó sẽ là một tiết mục đấu súng


giữa cảnh sát và ăn cướp. Nhất định sẽ ầm ĩ lên như kiểu này: nếu bà khách chết tiệt kia dám


cả gan bới lông tìm vết, người bán hàng tất phải phùng mang trợn má sấn sổ ngay:


"Cái gì? Nói thế nào? Đen à? Buồn cười thật! Bộ người ta không có mắt hay sao? Dù có đen


nữa đi mà ở dưới nách thì có hề hấn gì. Chẳng lẽ lúc nào cũng cứ dơ nách lên cho người ta


xem à?


Muốn bới móc thì cứ nói thẳng ra. Người mua cũng còn khối kẻ thật thà chán! Bây giờ đã ngả


giá rồi còn định trả hàng lại đấy chắc? Giảm giá à? Giời mà hiểu được! Lần sau có đi mua


hàng thì cứ phải đếm trước hầu bao đi cái đã. Tiền không có mà cứ làm bộ như ta đây giầu


lắm! Cái gì? Còn không đúng ấy à?


Người ta là con người của một nước lễ nghĩa, văn hóa truyền thống 5.000 năm, đối với khách


như đối với kẻ về nhà, chẳng lẽ không thấy được điều ấy hay sao mà còn lậu bà lậu bậu như


kiểu bị người ta lừa mình đấy!


Cửa hàng của người ta to thế này mà cứ trông mong vào mấy đồng xu của các người thì có mà


chết đói! Mấy cái đồ ngoại quốc nhà quê, văn hóa nông choẹt. Chẳng bõ công cho người ta đi


kêu cảnh sát.


Cứ nói huỵch toẹt ra! Mua không nổi chứ gì? Thôi! Quên đi! Đưa đây!".


Las Vegas là một thành phố cờ bạc; 99% người đến đấy là du khách và 99% trong số này có lẽ


chỉ đến đây thăm một hai lần trong đời họ. Nếu những kẻ bán hàng ở đây muốn lừa khách thì


họ hoàn toàn chẳng phải lo ngại gì đến hậu quả của nó cả.


Thế mà họ vẫn cứ chẳng khác gì như những nơi khác trên đất Mỹ, rất thân thiết và đứng đắn.


Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"


(còn tiếp)


 


Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »