BA CÂU NÓI
Cái lúng túng lớn nhất của người Trung Quốc khi mới đến Mỹ là gặp quá nhiều loại lễ nghi
phức tạp của người Mỹ. Ngoài đường nhỡ vô tình chạm vai vào một người khác, dù chạm thật
nhẹ cơ hồ như không chắc có chạm không, là người kia đều nói: "Xin lỗi!" Nếu như đụng thật,
da thịt đôi bên đều cảm thấy, thì cái câu xin lỗi ấy sẽ rất là ai oán. Còn nếu đụng mạnh vào
nhau một cái rầm thì cái câu xin lỗi này sẽ trở thành liên hồi, liên thanh khó mà chống đỡ
được.
Tại Trung Quốc nếu hai người đụng nhau trên đường thì lại hoàn toàn khác. Phản ứng của đôi
bên sẽ nhanh như chớp, mắt long lên, trợn trừng nhìn nhau như sắp biểu diễn một màn nhẩy
cao. Câu đầu tiên dùng để nói với nhau sẽ là kiểu: "Mắt mù à?" Đối thủ cũng lập tức nhảy cỡn
lên phản công: "Ái dà! Ai mà cố ý! Đi đụng vào người ta mà lại còn không biết điều! " Người
kia lại gân cổ to tiếng hơn: "Đụng vào người ta mà lại còn già mồm, không biết được giáo dục
kiểu gì?" Đối thủ mồm cũng không kém: "Đụng vào thì đã chết chưa? Chắc muốn người ta
quỳ xuống lậy mình chắc? Bảo người ta đụng mình à? Thế mình lại không đụng vào người
khác đấy? Chính mình đi đụng vào người ta mà lại còn muốn đổ vấy cho người!". Sự tình đến
đây, người có vẻ yếu thế hơn sẽ bỏ đi, mồm lẩm bẩm chửi rủa, trong khi đó cái người có vẻ
cứng mạnh hơn dơ chân múa tay, giọng điệu đe dọa khiến cho cả đám đông kéo nhau đến như
thể sắp xem một đám đánh lộn.
Nếu độc giả chú ý, từ lúc đụng nhau cho đến lúc rã đám, chúng ta không hề nghe được một
câu "xin lỗi". Cái môn "đến chết cũng không nhận lỗi" rất tinh thông này của người Trung
Quốc biểu hiện khá đầy đủ trong cái chuyện va vào nhau trên đường. Người Trung Quốc đã
mất khả năng nói "xin lỗi". Họ đều giống như những hỏa tiễn phun lửa, chỉ có cái dũng khí
dựa trên sức lực để hơn thua với nhau mà thôi.
Một trong những đặc trưng của văn minh Tây phương là thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của
người khác, cho nên họ luôn luôn để ý, cẩn thận trong việc biểu lộ sự tôn trọng đó. Người ta
dẫm lên chân mình, cố nhiên "Xin lỗi!". Thực ra chưa dẫm mà chỉ suýt dẫm lên thôi, cũng
"Xin lỗi!". Ho một tiếng, cố nhiên là "Xin lỗi!". Hắt xì hơi một tiếng nhỏ cũng "Xin lỗi!".
Đang lúc nói chuyện mà cần đi tiểu tiện, cố nhiên "Xin lỗi!". Đang ngồi ăn mà nhà bếp bị cháy
phải đi dập lửa, cũng "Xin lỗi!"
Du khách vẫn thường thấy cảnh khi anh đang loay hoay chụp ảnh, có người vô ý đi vào giữa,
cũng vội vàng "Xin lỗi!". Hầu như tất cả những người Tây phương khi họ thấy anh dơ máy
ảnh lên đều dừng bước lại ngay, đứng cười, và chờ anh chụp ảnh xong mới tiếp tục đi. Nếu
người chụp ảnh là đồng bào Trung Quốc, họ sẽ chẳng có phản ứng gì khi anh tránh chỗ cho họ
chụp. Nhưng nếu người chụp ảnh là người Tây phương mà anh làm như vậy thì họ nếu không
nói "xin lỗi" thì cũng "cảm ơn ông nhiều".
"Cảm ơn" và "Xin lỗi" đối với tôi rất đáng sợ. Cả hai thứ cùng ghê gớm như nhau. Ở trên thế
giới này không hiểu sao người ta lại có thể lãng phí nước bọt cho hai cái câu này nhiều đến
như thế. Tôi vốn là người tinh thông thập bát ban võ nghệ, tưởng có thể tránh thoát được sự
bao vây của hai cái câu này khi đến Mỹ, nhưng không ngờ lại khó đến thế. Tôi càng cố tránh
thì họ lại càng nói "cảm ơn ông".
Anh chờ cho họ chụp ảnh xong mới đi qua, họ cố nhiên "cảm ơn anh”. Lúc đi mua đồ, đưa tay
lấy hàng họ cũng nói "cảm ơn" với người bán hàng. Tại Trung Quốc, một khách hàng chẳng
bao giờ nói cảm ơn đã đành, nhưng nếu người bán hàng mà nói cảm ơn chắc cái trần nhà thể
nào cũng phải sập vì cảm động.
Đến ngân hàng Mỹ rút tiền, các bà ngồi két đưa tiền cho anh cũng cảm ơn. (Anh cứ thử cái
việc này ở các ngân hàng của chúng ta xem, chắc chắn anh sẽ lập tức tương tư Tây phương
ngay). Nếu anh vượt quá tốc độ hoặc rẽ ở chỗ cấm rẽ, cảnh sát đưa giấy phạt cho anh lại cũng
nói cảm ơn. Một người bạn tôi, ông Chu Quang Khải, chở tôi đi đỗ xe; đến cổng một bãi đậu
xe phải trả tiền, lúc cầm vé ông cũng lại "cảm ơn". Tôi thắc mắc: "Này, sao anh đã trả tiền
đàng hoàng chứ ông ta có để cho anh đậu không mất tiền đâu mà lại còn phải cảm ơn?" Anh ta
nghĩ một lúc lâu rồi cũng không hiểu lý do tại sao. Nhưng đến lần thứ hai anh lại cũng vẫn
"cảm ơn ông" làm tôi tức muốn chết.
Nhưng cái "cảm ơn ông" sâu đậm nhất đối với một người già đầu như tôi vẫn là trường hợp
của cái cửa tự động. Lúc đi qua cái thứ cửa có lò xo tự động này tôi thường cứ buông tay cho
nó tự đóng lại. Sau khi đến Mỹ, đương nhiên vẫn cứ làm như vậy. Bạn bè nhiều lần khuyên
can: "Ở đây là cái nước man rợ, anh đừng đem thứ văn hóa truyền thống 5.000 năm qua đây
nhé. Khi nào đi qua cửa anh nhớ nhìn xem đằng sau có ai không trước khi từ từ buông cửa ra".
Buồn cười thật, tôi qua Mỹ để du lịch chứ có phải để làm thằng gác cửa cho người khác đâu.
Tôi đã từng đi qua nhiều cửa tự động hơn anh ta tưởng, cần gì để cho anh ta phải dậy tôi như
vậy. Nhưng rồi tới một ngày, tôi đã hiểu cái chuyện anh muốn nói đó.
Lần ấy, sau khi đi qua cửa tôi đã buông cái cánh cửa có lò xo mạnh ấy cho nó tung ra như tôi
vẫn thường làm. Sau lưng tôi bỗng có một tiếng kêu lớn của một ông già da trắng. Bạn tôi và
tôi bấn cả người lên cơ hồ muốn quỳ xuống mà xin tha lỗi (Thực ra tôi muốn tìm đường rút lui
một cách êm thắm, nhưng những người nghe tiếng kêu vội đến cứu ông già nhiều quá làm tôi
không chuồn được).
Cũng thật may là cánh cửa đập không làm chấn thương gì đầu óc ông cụ cả. Ông cụ nhìn mặt
mũi và cách ăn mặc của chúng tôi, chắc đoán rằng đây là những nhân vật quan trọng của cái
bộ lạc ăn thịt người ở Tân Ghi-nê, nên cũng chẳng thèm lý đến nữa.
Sau chuyện này người bạn mới bảo tôi: "Dù anh có chưa bao giờ anh ăn thịt lợn thì cũng phải
xem qua cách lợn chạy, cứ bắt chước người Tây phương mà làm, đó là con đường yêu nước
chân chính đấy!"
Trời ơi! thì ra người Tây phương mỗi khi đi qua cửa đều dừng chân giữ cửa, chờ cho những
khách đi sau nối đuôi nhau đi vào trước mình. Hoặc ít nhất thì cũng quay lại giữ cửa cho đến
khi người đi sau tiếp được cửa rồi, mới từ từ bỏ tay ra.
Đúng là đi một đàng học một sàng khôn. Bây giờ cái việc giữ cửa này tôi đã thuộc như cháo.
Và từ đấy trở đi tôi liên tục nghe được từ cửa miệng những ông già, bà già Mỹ cái câu "cảm
ơn ông" sướng cả lỗ tai.
Lúc quay lại Đài Loan tôi vẫn quen thói "tôn sùng" Tây phương này. Nhưng chỉ được ba hôm
thì lại vẫn chứng nào tật nấy. Mà cái đó không phải vì ý chí của tôi yếu đuối, nhưng vì mỗi lần
dừng lại cung kính giữ cửa, thì cái ông bạn da vàng ở đằng sau nhìn tôi như thể mồm anh ta
đang ngậm cứt khô, không thể nào nghe được một thanh âm gì giống như tiếng "cảm ơn" từ nó
cả. Tôi bèn cứ thả cho cửa nó tung ra như thói quen cũ, mặc kệ mẹ cho nó đập vào mặt ai thì
vào, có đập chết cũng được!
Tôi nghi rằng để có thể móc trong mồm một người Trung Quốc ra cái câu "cảm ơn ông" e
rằng nếu không dùng đến cái cào cỏ năm răng của ông bạn Trư Bát Giới của chúng ta thì
không thể được.
Thật ra cái câu "cảm ơn" và cái câu "xin lỗi" của người Mỹ cũng giống nhau. Chúng đã trở
thành một bộ phận của đời sống dân chủ, từ đứa bé vừa học nói, mẹ nó chùi đít cho nó, nó
cũng biết nói cảm ơn. Cái đó làm cho nó hơi có khuynh hướng "lạm phát".
Các người chắc đã từng xem cảnh ăn cướp nhà băng ở Mỹ. Một người vạm vỡ, tay cầm súng
lục, bắt người đàn bà ngồi ở quầy nhét đầy tiền vào trong bị rồi ngả mũ chào: "Cảm ơn bà!"
Sau đó mới rút lui. Theo tôi, thà cứ lạm phát như thế này vẫn còn hơn là bị cứt khô làm tắc
họng mà chết.
Điều cần phải nói rõ hơn tý nữa về "xin lỗi" và "cảm ơn" là lúc nào chúng cũng đi liền với một
nụ cười, và có thể dẫn đến một câu như kiểu: "Tôi có thể giúp đỡ được gì không?"
Tôi là một người ngần này tuổi đầu, sinh ra ở lục địa, hiện sống ở Đài Loan, từ thâm sơn cùng
cốc đến chốn thị thành, từ thôn làng đến đại học Tây phương, từ tiếng đọc ê a cho đến thanh
âm như sấm động, tiếng "xin lỗi" và "cảm ơn" dù hiếm hoi như lông phượng, sừng lân nhưng
tôi cũng đã từng nghe qua. Chỉ có câu "Tôi có thể giúp đỡ được gì không?" là chưa bao giờ tôi
được nghe từ một lỗ mồm người Trung Quốc nào cả. Ở Mỹ, những ngày bình thường chúng
tôi được bạn bè đánh xe đưa đón, oai phong lẫm liệt vênh vênh váo váo. Nhưng có một lần tôi
và vợ tôi ngồi tầu điện ngầm đi từ khu sang trọng Tân Oa-xinh-tơn tới Xpơ-ring-phiu (
Springfield ). Xpơ-ring-phiu là bến tầu điện cuối, từ đó chúng tôi phải lấy tắc-xi đi đến nhà
người bạn mời chúng tôi ăn cơm.
Ở Mỹ, lượng xe tắc-xi nếu so sánh với tiền ở trong túi tôi lúc đó chắc còn ít hơn nữa. Chúng
tôi thấy mặt trời sắp lặn, vội vàng đôn đáo chạy đông chạy tây như hai con chó lạc nhà. Một
người Mỹ trẻ nhìn thấy chúng tôi cuống quýt mới đến trước mặt hỏi han: "Tôi có thể giúp
được gì cho ông bà không?", "Thế mà còn hỏi - tôi thầm nghĩ - đúng là một thằng ngốc!"
Anh ta bèn bỏ cái cặp xuống, đứng ở giữa đường, mắt nhìn bốn hướng tai nghe tám phương,
cuối cùng chặn lại được một chiếc xe. Có lẽ ông lái xe tắc-xi đang trên đường về nhà ăn cơm
tối nên không muốn đi, anh ta bèn phục tại cửa kính rất lâu, nói mãi, sau đó ngoắc chúng tôi
lại để lên xe. Đến lúc chúng tôi vừa hoàn hồn định hỏi han tên họ thì anh ta đã bỏ đi rồi.
Thật tình nếu không có anh ta ra tay giúp đỡ hôm ấy, thì cứ cái đà đó chúng tôi chỉ có nước
ngủ đêm tại nhà ga xe điện ngầm mà thôi.
Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"
CẢ NƯỚC XẾP HÀNG
Người Mỹ là một loại người thích giúp đỡ người khác. Cái câu "Tôi có thể giúp đỡ gì được
không?" hoàn toàn không phải là một câu nói đưa đẩy xã giao. Trừ ở New York và vài thành
phố bến cảng khác, chỉ cần anh tỏ ra bối rối, lạc lõng một tý là y như rằng có người đến hỏi
anh câu đó. Nếu anh trả lời kiểu đểu: "Đúng rồi, tôi đang cần giúp đỡ đây, anh có thể cho tôi
mượn 5 tỷ đô-la trong vòng 20 năm không?" thì chắc chắn là không được. Nhưng nếu anh chỉ
lạc đường thì họ sẽ không quản ngại mà chỉ bảo cho anh kỹ càng. Nếu chẳng may tiếng Anh
của anh cũng cỡ tôi, nghĩa là sau khi nói hết nước miếng cũng chẳng ai hiểu gì thì họ sẽ chạy
đông chạy tây lo cho anh như thể anh là một vương tôn công tử mà họ chỉ là kẻ hầu người hạ
vậy.
Trước khi đi Mỹ vợ tôi bị thương ở lưng vẫn chưa lành, lúc đi phải mang theo một cái giá đỡ
lưng đan bằng mây. Cái giá này đã dùng ở Đài Loan nửa năm nay nhưng không hề làm ai chú
ý cả. Chỉ khi đến Mỹ rồi mới thấy hiệu quả ghê gớm của nó. Bất kỳ nơi nào đều có những
người Mỹ lớn tuổi lo lắng cho cái lưng của nhà tôi, như thể không biết nó có thể gẫy ra làm
hai lúc nào không biết. Trên máy bay, xe hỏa, lúc nhà tôi đứng lên hay chỉ rướn mình là có
người đến bên tươi cười hỏi: "Tôi có thể giúp gì cho bà được không?" Dĩ nhiên là không được,
vì nhà tôi muốn đi nhà xí, mà cái việc này đâu giám nhờ ai giúp. Chỉ tội vợ tôi cứ phải cố gắng
nhịn vì sợ mình tỏ ra không biết điều với những người muốn giúp đỡ mình.
Cái quan hệ giữa những người Trung Quốc với nhau không hề có cái kiểu này, mà hoàn toàn
ngược lại. Những người sẵn sàng giúp đỡ kẻ khác vẫn được gọi một cách văn hoa là "kẻ hiếu
sự". Nếu giữa đường thấy chuyện bất bình mà ra tay thì nhất định bị gọi là "thích lo chuyện
không đâu". Dĩ nhiên những hành động đi ra ngoài cái lề thói này đều bị xem là hành vi có ẩn
ý nào đó. Bởi vì nếu như ở Đài Bắc giả sử anh có gục xuống thượng thổ hạ tả, tôi có thể cá với
anh một quan tiền rằng không ai đỡ anh dậy.
Một năm trước tôi đi xem xi-nê ở Đài Bắc với một người bạn Mỹ. Đang xem dở phim bỗng có
một ông cụ tự nhiên từ ghế ngã xuống sùi bọt mép. Một lúc sau hai nhân viên rạp hát đến
khiêng ông ấy đi, chắc là đem vào nhà thương. Nhưng không ngờ khi hết phim chúng tôi đi ra
mới thấy ông cụ vẫn nguyên hình nguyên dạng bị vứt nằm lăn lóc bên cửa ra vào trên nền đất
đầy bùn. Ông cụ nằm đó chẳng khác gì người một bộ lạc bán khai nào đó vừa bị một bộ lạc
khác bắt về chứ chả có vẻ gì là "con cháu của rồng thiêng" cả.
Làn sóng người cứ cuồn cuộn đi qua, không một ai dừng chân xem sự thể thế nào. Người bạn
Mỹ của tôi cả kinh thốt lên: "Người Trung Quốc cũng gần như dân New York, thật lãnh đạm
vô tình!"
Ông ta không nói lãnh đạm vô tình như người Mỹ, đó là cái chỗ khôn khéo của ông ta, mà lại
nói "gần như" để tránh chạm vào lòng yêu nước của tôi. Nếu không, tôi có thể cho rằng ông ta
châm biếm, muốn "chia rẽ tình cảm giữa chính phủ và nhân dân".
Ông ta lại đưa New York ra để so sánh, vì đây là đại bản doanh của dân giang hồ tứ chiếng từ
mọi nước tới, vẫn chưa hề quên nguồn gốc của họ. Ngay cả người Mỹ khi nói đến New York
cũng quyết không nhận đấy là một thành phố của họ.
Sinh ra làm người Trung Quốc, ở trên đất Trung Quốc mà muốn giúp người khác không phải
là một việc dễ dàng. Tôi đã nói trắng vấn đề này ra trong quyển "Ngã vào hũ tương" rồi. Một
người không có những tư tưởng và tình cảm cao quý thì vĩnh viễn không thể tin mà cũng
không thể hiểu được tại sao người khác có thể có được những thứ đó. "Những đứa hiếu sự",
"Những kẻ đi lo việc không đâu", "có ẩn ý gì đó" là những mũi tên độc lúc nào cũng giương
sẵn để bắn ngay lập tức vào người có ý định muốn giúp mình.
Một buổi tối mưa, một người quen tôi làm nghề lái tắc-xi, ông Dương Hy Phong, đã đón lên
xe một cô gái ướt như chuột lột đang run lên cầm cập. Sẵn có bộ quần áo ấm của vợ ông vừa
lấy từ tiệm giặt về, ông đề nghị: "Này cô! Cô có thể cởi quần áo ướt ra thay rồi lúc đến nhà trả
lại cho tôi cũng được!". Cô gái nghe ông ta nói đến chuyện cởi quần áo, lập tức mắt trợn
trừng, nói như hét: "Đồ dâm dục! Mày muốn tao kêu cảnh sát không?" Ông bạn tôi tức đến nỗi
rủa thầm cho nó bị cảm mạo sưng phổi đi cho rồi.
Một người bạn khác của tôi là nhà giáo, một hôm trên xe buýt thấy một phụ nữ (xin lỗi lại là
một phụ nữ) cầm một cái dù cán đã rơi ra sắp bị người ta dẫm lên. Anh vội vàng nhặt lên chen
ra đến tận sau xe đưa cho cô ta. Nhờ trời, cô này là người tương đối có văn hóa nên không gọi
ông bạn tôi là "Đồ dâm dục", nhưng cũng không hề có một tiếng "cảm ơn", chỉ dương đôi mắt
ếch lên nhìn, mồm câm như hến.
Than ôi! Người Trung Quốc chúng ta tựa hồ như dừng lại ở giai đoạn tiến hóa của người rừng,
ăn lông ở lỗ, trên người lúc nào cũng khoác một cái áo giáp như một con nhím, chỉ để lộ đôi
mắt đầy ghẻ lạnh và nghi ngờ, lúc nào cũng dáo dác nhìn như thể tâm hồn không hề được yên
ổn.
Tôi xin trở lại vấn đề cái giá đỡ lưng của nhà tôi. Cái công dụng của nó không chỉ ở chỗ giúp
cho nhà tôi gặp được bao nhiêu sự giúp đỡ của những người Mỹ ở khắp mọi nơi chúng tôi đặt
chân đến, mà còn tránh cho nhà tôi việc xếp hàng.
Tôi vẫn cho rằng xếp hàng là một cái thước đo văn minh của nhân loại, và cứ xem cái trật tự
xếp hàng ở một nước cũng có thể biết được trình độ văn minh của nước đó.
Tôi chỉ mới ở bên Mỹ có hai tháng mà đã muốn đề nghị: thay vì gọi "Hợp chủng quốc Mỹ" thì
nên gọi là "Nước Mỹ xếp hàng". Vì ở Mỹ tệ xếp hàng không những trở thành quá mức, mà
còn trở thành một tai nạn nữa.
Không thể nào không thấy tội nghiệp cho những người Mỹ da đen, da trắng, lãng phí không
biết bao nhiêu thì giờ quý báu vào việc này. Lên máy bay cũng xếp hàng. Xuống máy bay
cũng xếp hàng. Mua tem cũng xếp hàng. Trả tiền, rút tiền cũng xếp hàng. Lên xe buýt cũng
xếp hàng. Đi nhà xí cũng xếp hàng. Và tệ hơn nữa là đến tiệm ăn cũng phải xếp hàng.
Không phải nói dóc chứ thật tình tôi coi việc xếp hàng này chẳng ra cái quái gì. Mà không
phải chỉ có mình tôi nhưng tất cả những người Trung Quốc khác cũng vậy.
Tuy nhiên, phải nói rằng xếp hàng ở Mỹ và ở Trung Quốc nội dung và hình thức đều rất khác
nhau. Cũng giống kiểu cái chỗ qua đường dành riêng cho bộ hành ở Mỹ và ở Trung Quốc vậy.
ở Trung Quốc xếp hàng chỉ là một loại học thuyết, ở Mỹ xếp hàng là một thứ sinh hoạt.
Kiểu xếp hàng ở Đài Bắc có thể xem như xếp hàng một nửa. Vì lúc xếp hàng để lên xe thì xem
cũng ra vẻ đấy, nhưng khi xe vừa đến thì mọi người lại ùa ra mặc sức tranh dành, mạnh được
yếu thua. Trong chỗ trời long đất lở đó, các nhân vật anh hùng mở đường máu, trèo cả lên đầu
lên cổ người khác để chiếm một chỗ ngồi trước mọi người. Đám tàn binh gồm những người
già, kẻ yếu thì đầu bù tóc rối, chân nam đá chân xiêu, thất tha thất thểu lên xe mà không hiểu
lúc nãy mình vừa khổ công xếp hàng để làm gì. Để cướp một chỗ ngồi hoặc vì sợ không chen
được lên xe cho một đoạn đường dài thì còn hiểu được, đằng này đối với xe hỏa, xe ca, chỗ đã
có đánh số, không thể nào bay đi mất được, cũng không thể sợ đít người khác dính vào chỗ
của mình đã mua, thế mà không hiểu sao người Trung Quốc vẫn còn phải ra sức chen lấn?
Người Mỹ có vẻ như biết rằng còn sống là còn phải xếp hàng, nên thái độ họ rất thanh thản
trong khi làm việc đó. Người Trung Quốc vì quá đông, khi xếp hàng thường cứ xít lại nhau,
mũi người này đụng gáy người kia, nhìn từ xa cứ giống như các chiến hữu rất thân mật, ôm ấp
nhau kiểu "áo chạm vào nhau nghe hổn hển, dạt dào ngọc ấm thấy thịt da" (Lũ y tương tiếp
văn suyễn tức, mãn hoài noãn ngọc kiến cơ phu). Còn người Mỹ khi xếp hàng có vẻ thờ ơ,
thưa thớt, gặp chỗ cửa xe ra vào hoặc đường đi lối lại, thì hàng có thể đứt ra trông quang cảnh
rất thê lương, người nhìn thấy không thể không lo cho vận mệnh nước Mỹ.
Lúc ở New York, tôi đi với một người bạn đến rút tiền ở một ngân hàng nổi tiếng đông khách.
Tôi thầm nghĩ anh này nghe tiếng tôi ở Đài Bắc có nghệ thuật chen lấn xe buýt rất cao cường
chắc muốn tôi biểu diễn một màn cho người Mỹ xem đây. Khi đến cửa, tôi đã thấy một hàng
dài phía ngoài, nhưng trước mỗi quầy lại chỉ có một người đang đứng nói chuyện xì xồ. Tôi
mừng quá, vội vàng lách đến đứng sau lưng một người ở một trong những quầy đó. Không
ngờ anh bạn tôi liền tóm cổ tôi lôi ra như lôi một thằng kẻ cắp. Không những không xin lỗi vì
cái hành vi lỗ mãng đó, anh bạn tôi còn nói một cách khó chịu: "Ông bạn, ông làm kiểu gì
vậy?" Tôi gượng gạo đáp: "Làm gì đâu? Tôi xếp hàng mà! Từ lúc đến nước anh đến giờ hở
một tý là bị xét nét, bộ xếp hàng cũng là phạm pháp à?" Anh ta đáp: "Chẳng phải là trái luật,
nhưng trái quy tắc".
Thì ra trước khi phóng được đến mỗi quầy, mọi người phải bắt đầu xếp hàng ở cái hàng phía
bên ngoài cái đã. Giống như khi xét hộ chiếu ở phi trường, chưa được gọi đến thì không được
tiến lên. Mà cái hàng kia đếm ra cũng phải đến năm sáu mươi người đang chờ đến lượt mình
để đi đến các quầy khi được gọi.
Ôi! Nước Mỹ! Từ lập quốc đến giờ chưa được bao lâu mà các quy tắc lại quá nhiều! Lễ nghi
phiền phức kiểu đó không hiểu rồi có ảnh hưởng đến sĩ khí, dân tâm không?
Còn một điều đáng sợ nhất là trước cái cửa hàng ăn lớn nhỏ cũng phải xếp hàng, điều này quả
là vượt lên trên cái phạm trù học vấn vĩ đại của tôi. Từ thời Bàn Cổ khai thiên lập địa đến giờ
chưa bao giờ người Trung Quốc nghe nói đến việc cũng phải xếp hàng ở cửa hàng ăn cả.
Ở San Francisco có lần chúng tôi đến một tiệm cơm, tôi đang định xông vào tìm chỗ ngồi thì
vợ tôi kéo giật ngược lại. Hóa ra ngay cả khi không có người chờ, khách vẫn cứ phải đứng đó
đợi để người phục vụ dẫn vào. Nếu không có người ra dẫn chắc cũng phải đứng tại chỗ mà
chết đói mất!
Cái ấn tượng mạnh nhất đối với tôi là đêm ở gần thung lũng Grand Canyon tại Colorado trong một quán ăn nhỏ mới mở. Vì đã không phải dễ gì tìm
được nó mà cái quán này lại đặc biệt cho cái ân huệ lớn là miễn xếp hàng. Nhưng khách vẫn
phải đăng ký tên họ tại quầy trước, rồi đứng chờ gọi tên. Nên lúc bà phục vụ xuất hiện, mọi
con mắt mong đợi đều đổ dồn về phía đó, chẳng khác nào Đức Mẹ Đồng Trinh đại từ đại bi
cứu khổ cứu nạn. Lời vàng ngọc của bà ta cất lên gọi tên này tên nọ, gia đình này kia, tức thì
có sự reo mừng như sấm động. Có cái tập tục kiểu gì lạ như thế không?
Ở Đài Bắc tuyệt đối không thể có cái cảnh đó. Thực khách như một lũ người chết đói ào vào
quán cơm, dù có rõ ràng là quán đã đầy người. Như người vào hang cọp, nhìn thấy bàn nào bát
đũa ngổn ngang là chỗ sắp ăn xong, họ liền đến vây quanh. Thực khách đang ngồi ăn nhìn
thấy thế trận như vậy cũng chẳng lấy làm lạ. Họ biết những con mắt của bọn chết đói đang
nhìn mồm họ một cách giận dữ. Nhưng họ vẫn điềm nhiên không thay đổi khí thế và sắc mặt.
Cuối cùng, bọn người ăn xong no nê bỏ đi, nhường chỗ cho bọn đói vừa mới đến. Bọn này
chẳng bao lâu cũng lại bị vây y như lúc nẫy bởi một bọn đói khác vừa mới đến đang đứng
dương mắt nhìn mồm họ.
Cảnh tượng này như diễn lại đoạn phim trên đồng cỏ Phi châu: một con chó sói nghiêng đầu
nhìn một con cá sấu đang ngoạm con mồi của nó.
Điều đáng tiếc là rất nhiều tiệm ăn Tầu ở Mỹ cũng bắt đầu nhiễm cái thói xấu xếp hàng này,
bỏ mất cái văn hóa truyền thống "xem ăn" của chúng ta.
Ai cũng bảo nước Mỹ là một nước tự do. Theo ý tôi thì ngược lại. Ở Mỹ để được trở thành
người điên anh cũng phải xếp hàng.
Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"
RÚT CUỘC LÀ CÁI NƯỚC GÌ?
Căn cứ trên sách vở ta ngỡ rằng Trung Quốc là một nước có lễ nghĩa, nhưng nhìn vào hành vi,
thì ngược lại, chúng ta chẳng khác nào một nước man rợ. Điều tâm nguyện tối cao của tôi là
mong sao Trung Quốc sớm trở thành một nước lễ nghĩa.
Nghe như thế, thấy có cái gì đó không xuôi tai, một anh bạn trợn mắt hỏi: "Theo ý anh thì
Trung Quốc là một nước lễ nghĩa giả tạo à?" Tôi bảo: "Tôi không nói thế ! Ý của tôi là Trung
Quốc hiện tại còn chưa có được tư cách để làm một nước lễ nghĩa giả tạo nữa, vì thật ra nó
còn là một nước dã man nguyên thủy".
Nói chưa dứt lời tôi đã phải vội vàng ẩn cái ghế đẩu vào đít anh, vì có vẻ như anh đang muốn
ngất xỉu. Ngồi trên ghế rồi anh bắt đầu lên cơn suyễn nặng.
Lên cơn suyễn vì lòng yêu nước như anh bạn tôi thì nhiều vô cùng tận, nhưng khẩu vô bằng
chứng. Bây giờ hãy để tôi đưa các vị đi tham quan xem cái man rợ đó như thế nào. Xin quý vị
hãy đừng để cho cảm tính làm lu mờ óc phán đoán.
Tiết mục thứ Nhất: ĐÁM CƯỚI
Ngay cả những ngôi sao màn bạc với bao lần ly hôn cũng đều phải công nhận: kết hôn là một
việc trọng đại của đời người. Nếu không, sao họ vẫn cứ phải lập đi lập lại cái chuyện này sau
khi đã từ bỏ nó? Bởi vì trên con đường đời, kết hôn vẫn là một bước nhảy vọt và đột phá.
Một người con trai và một người con gái giã từ hoàn cảnh, tập quán cố hữu, nhẩy lên một con
thuyền khác, từ đó làm thành một trung tâm gia đình riêng, cùng chèo chống con thuyền đi
vào một đại dương mới lạ đầy hứng thú.
Đấy là một sự thay đổi quan trọng lắm. Vì vậy, dù nghi thức truyền thống cổ lỗ của Trung
Quốc hay nghi thức tôn giáo du nhập từ phương Tây, nó vẫn là một cái gì rất trang nghiêm.
Trong cái trang nghiêm và hoan lạc này mọi người đều chúc mừng cho sự đổi thay.
Chả cần nói đến thời xa xưa, chỉ trong những năm 40, các đám cưới ở nhà quê vẫn còn đúng là
mười phần long trọng. Chàng rể phải đích thân đến gia đình nhà vợ để đón dâu, hoặc ngồi
kiệu, hoặc ngồi xe. Về đến nhà chồng, sau ba lậy: vái trời đất, cha mẹ, vái lẫn nhau, thì hai
người mới thành vợ chồng.
Ở nhà thờ cũng có những ý nghĩa tương tự. Giữa tiếng nhạc trang nghiêm, chú rể đứng chờ
trước thánh đàn. Cô dâu nắm tay bố, hoặc anh, từ từ xuất hiện, rồi đi lên phía thánh đàn, nơi
đó người bố hoặc anh mới trao cô dâu cho chú rể. Rồi mục sư, hoặc linh mục, nhân danh
thượng đế tuyên bố hai người thành vợ chồng.
Không hiểu bắt đầu từ thời nào, đại khái sau khi nhà Thanh bị diệt vong không lâu lắm, người
Trung Quốc không còn thích cách quỳ lạy cũ, lại cũng không ưa cách quá tây của nhà thờ, họ
bèn phát minh ra một thứ không giống ai, đến bây giờ vẫn còn dùng, gọi là "đám cưới văn
minh".
Hôn lễ không ra hôn lễ mà biến thành một loại phường chèo. Lễ đường cũng không phải lễ
đường mà trở nên một thứ miếu đền ồn ào, náo nhiệt. Mọi người đến không phải để chúc
mừng đám cưới, mà để tìm gặp bè bạn, trao đổi xã giao với những người sống trong cùng một
thành phố mà hai, ba, bốn năm rồi chưa gặp mặt nhau. Phòng cưới thành ra một loại trà đình,
tửu điếm.
Độ chừng nghi lễ đã xong, tức thì đám này bầy mạc chược, đám nọ tụ tập hàn huyên, thăm hỏi
tin tức, than vãn cuộc đời, luận bàn thời cuộc, ngay cả chửi rủa người này người nọ cũng là
chuyện bình thường. Tất cả là một khung cảnh ồn ào, náo nhiệt, sôi sục đến độ khi người chủ
hôn đứng lên muốn nói vài câu cũng chẳng ai nghe ai được ông ta nói gì, mà ngay cả chính
ông ta cũng không nghe được mình nói gì nữa.
Người mai mối thường thường phải lộ diện sớm thì bây giờ mới xuất hiện, cũng chẳng còn
nhớ tên cô dâu là gì, lại quên luôn cả trách nhiệm thiêng liêng trong công tác của mình, bắt
đầu nói đùa, kể chuyện nhảm nhí về việc động phòng trước mặt gia nhân thân thuộc.
Mồm miệng người này đầy những chuyện hạ lưu, đạt đến trình độ dâm dục mà nếu những
người biên tập tờ báo Playboy của Mỹ có mặt ở đó cũng phải đi gọi cảnh sát đặc trách về
thuần phong mỹ tục.
Mọi người lớn nhỏ dự những đám cưới như vậy đều bị dồn vào một không khí tuồng chèo. Có
thể nói đó là cái chợ bán thức ăn cũng không phải là quá. Đối với hai họ, đây là một dịp để
chịu đựng những điều sỉ nhục, và đối với thượng đế là lúc để khóc thương cho nhân thế.
Tiết mục thứ hai: ĐÁM MA
Chết so với cưới còn là một chuyện lớn hơn. Một người trong đời có thể kết hôn nhiều lần,
nhưng chỉ có thể chết một lần. Đó là sự chấm dứt của một mạng sống, chấm dứt một cách vĩnh
viễn. Vứt lại tất cả các thành tựu phấn đấu đầy gian khổ của cuộc đời, bỏ lại những người thân
thuộc yêu mến nhất, buông xuôi tay ra về.
Ở nhà quàn - trạm dừng cuối cùng trên hành trình cuộc sống, qua trạm này người ra đi sẽ vĩnh
viễn dừng lại trong mộ phần - bầu không khí của lễ tang không những phải trang nghiêm mà
còn phải rất bi thương. Người xưa nói: "những người chịu tang rất là vui vẻ" (Tang gia đại
duyệt) nghĩa là chỉ "vui vẻ" khi các nghi thức tang lễ và chôn cất đều đúng cách, chứ không
phải vui vì người đó chết; và như thế là tốt, là hay!
Thế mà ngày nay trong việc ma chay thường hay thấy một hiện tượng mới: Khách tang vào
đến cửa đầu tiên đến nghiêng mình trước linh cữu. Gia thuộc người quá cố quỳ phục bên cạch
linh cữu, lúc bi thương đều có tiếng khóc; nhất là mẹ già, con dại, cô nhi, quả phụ tiếng khóc
nghe lại càng đứt ruột. Nhưng khi tiếng khóc của gia đình người chết vẫn chưa dứt thì ông
khách tang này đã phóng ngay lại chỗ một người khách khác, vẻ hể hả: "Ái dà! Ông bạn, lâu
ngày quá không gặp. Trông mặt anh dạo này có vẻ phú ông đấy, chắc hẳn quên hết cả bạn bè
cũ rồi!" Người kia cũng vui vẻ đáp lại: "Tôi đang đi tìm anh đây! Toàn bị những thứ hiếu hỉ
ma chay khỉ gió thế này nó hành. Nào đi đi, ta đi tìm chỗ tán gẫu cái đã". Vừa ra đến cửa thì
đằng trước lù lù một nhân vật tiến vào. Hai con động vật máu lạnh kia lật đật cong lưng
xuống: "Chào ngài Bộ trưởng! Dạ ngài vẫn mạnh giỏi chứ ạ?" Ông Bộ trưởng gật đầu cười,
vừa bắt tay vừa đi vào. Hai con động vật máu lạnh kia liền thay đổi ý định, bèn theo bén gót
đằng sau, mặt mày hớn hở.
Thế là tang khách quây cả lại, ầm ĩ lên. Nhà lễ tang bỗng chốc đã biến thành một thứ câu lạc
bộ xã giao. Kỳ thực, nếu ông Bộ trưởng kia không đến chăng nữa thì tang lễ cũng trở thành
một bản sao của cái loại "đám cưới văn minh" đã nói trên. Nghĩa là khách tang hầu như trong
lòng chẳng có một tý tâm tình gì gọi là xót xa thương tiếc người đã khuất, bất quá chỉ như
người đi vãn cảnh miếu đền.
Sự thực, ngay ở nơi quàn xác chết hiển nhiên cũng đã thành chỗ kết bè, kết đảng, lại đương
nhiên thành chỗ "xa nhà gặp người quen" thì nét mặt tự nhiên phải tươi cười rạng rỡ. Chẳng
trách người Tây phương trách người Trung Quốc là quá lãnh đạm và tàn khốc.
Than ôi! Chỗ quàn xác, nơi cô nhi quả phụ đau lòng, nơi thượng đế cũng đau lòng!
Tiết mục thứ ba: QUÁN ĂN
Quán ăn Trung Quốc là một nơi đầy nghi lễ. Có thể nói tinh hoa của những nghi lễ ăn uống
này tập trung toàn bộ trong hai cuộc chiến bắt buộc. Cuộc chiến thứ nhất là "Cuộc chiến tranh
chỗ ngồi".
Tại một bàn tiệc thông thường vẫn có một chủ tọa - một loại khách danh dự - thường là một
người có chức vị hoặc giàu sang. Nhưng cái ghế chủ tịch này dường như là nơi có rắn độc ẩn
núp, nên người được chọn nhất định tránh không chịu ngồi. Thấy người khách danh dự như
vậy, tức thì những người khách khác cùng với chủ nhân hè nhau lại lôi kéo, reo hò, quát tháo.
Có khi người này mặc dù sùi cả bọt mép ra vẫn khăng khăng không chịu.
Có kẻ thì nhanh mắt, nhanh tay, áp dụng kiểu "tiên hạ thủ vi cường", nghĩa là cứ đặt đít ngồi
ngay xuống bất cứ chỗ nào đó, rồi tuyên bố: "Đây là chỗ chủ tịch rồi!" Thế là mấy người kia
không còn cách nào khác đành chịu thua ấm ức ngồi xuống. Lúc chủ tọa đã yên vị, lại đến chỗ
ngồi ở ghế thứ nhì, thứ ba, thứ tư,... cứ mỗi lần như thế lại hò hét náo động cả đến mười hoặc
hai, ba mươi phút trước khi bụi bặm lắng xuống.
Không cần kể các chuyện rườm rà như người chúc rượu, kẻ tiếp thức ăn, một trường hỗn chiến
trong bàn tiệc có thể làm cho thực khách đều mệt chết đi được, mà hãy nói đến hồi tan tiệc -
mọi người ra về - lúc này cái trận chiến thứ hai mới bộc phát. Đó là "Cuộc chiến tránh cửa".
Mọi người giờ đây giống một đàn chim cánh cụt chen chúc nhau trước cửa, chẳng khác nào ở
ngoài đường là cạm bẫy nguy hiểm khôn lường, chỉ cần bước thêm một bước sẽ rơi vào mồm
lang sói. Thế là chẳng ai chịu đi, ngay cả người ngồi ghế chủ tọa dù có bị đuổi ra khỏi hội
cũng nhất định không ra trước. Thế là lại cãi nhau ỏm tỏi. Và cuối cùng mặc dù cố giẫy dụa
người chủ tọa vẫn bị cả bọn tống cổ ra ngoài. Người này nếu già yếu, không đứng vững còn có
thể bị bọn người xô đẩy ra kia đạp cả lên đầu.
Đấy chỉ là những thứ hai năm rõ mười trong số những thứ khác cũng táng đởm kinh hồn
không kém của cái "văn minh" Trung Quốc.
Trích từ "Những con trùng dậy sớm"
(còn tiếp)
Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.
|