Một người bạn trẻ hỏi tôi: “R là gì? Có phải là rừng không?”. “Ờ, nói vậy cũng được”, tôi đáp.
1 –Lên đường
Sài Gòn năm 1962.
Sáng sớm, sau khi ăn sáng, thay vì đi học, tôi xách chiếc cặp nhỏ đựng bộ quần áo, tập sách ghi chép, vài cuốn truyện, cây viết, một ít đồ dùng cá nhân, đi thẳng ra bến xe mua vé về thị trấn Hiệp Hòa, tỉnh Long An, nơi có nhà máy đường nổi tiếng. Đường không xa, chỉ vài chục cây số, nhưng chiếc xe đò cà khổ chạy lắc nhắc cả mấy tiếng đồng hồ. Đến nơi đã gần trưa. Chợ Hiệp Hòa nhỏ nhưng đông người. Tôi vào tiệm ăn tô hủ tíu, hỏi đường xuống bến đò. Từ bến đò đó sẽ vào vùng giải phóng của những người “Việt Cộng”.
Trông tôi chưa có gì khác lạ cả, vẫn còn ở trong chợ, với bộ đồ học sinh quần Tây áo sơ mi trắng. Nhưng ở bến đò, giữa những người nông dân quần áo bà ba lam lũ, khăn nón xộc xệch, nồng mùi mồ hôi, trông tôi đã thấy có sự khác biệt. Nhiều người đưa mắt nhìn tôi. Một gã lính gác cầm súng đi tới lui, dừng lại trước mặt tôi hỏi tôi đi đâu? Tôi nói về quê ăn đám giỗ. Chuyện thông thường thôi. Thị trấn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhưng không xa trong kia là vùng nông thôn rộng lớn thuộc quyền kiểm soát của người giải phóng. Đó là vào năm 62, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời đã hai năm. Tôi nói tôi đi ăn giỗ nhà người bà con. Ngày giỗ là thiêng liêng với mọi người Việt Nam, những năm đó chiến tranh cũng chưa quá ác liệt. Người lính không nói gì, vậy là tôi được đi. Đò máy đông nghẹt người, dân ruộng, người buôn gánh bán bưng, người ngồi chen với thúng mủng, heo gà, dừa khô và chuối xanh, cá khô và dưa cải muối. Bộ đồ học sinh của tôi với chiếc cặp da đã hoàn toàn lạ lẫm. Đò máy ghé từng chặng, người trên ghe lên bờ, người trên bờ xuống ghe. Xập xình xập xình. Có đám con gái nhỏ nói chuyện ríu rít, liếc nhìn tôi rồi lại nói chuyện. Tôi nói với người tài công tôi ghé ở bến đó. Người tài công cười nói: “Đi ăn giỗ hả?”. Đã thành quen, đây là chuyến đò máy đi từ chợ vào vùng giải phóng, hai bên đối địch, khách đi ghe thường nói là “đi ăn giỗ”, lý lẽ hợp lý nhứt.
Tôi lên một nhà, theo giới thiệu được báo trước, người ở đó đưa tôi đến một nhà khác, rồi một nhà khác nữa. Đến đây tôi đã hoàn toàn mất dấu, không biết đang ở đâu, sắp gặp ai. Một đường dây bí mật đưa tôi đi. Mặt trận mới thành lập hai năm, nhưng trên cơ sở của tổ chức Việt Minh cũ, cán bộ “nằm vùng” tuy bị bắt nhiều nhưng cũng còn rải rác, thêm nhiều cán bộ tập kết trở về, một thế hệ kháng chiến mới đang được hình thành. Ở nhà thứ ba, tôi được một cán bộ làm việc trực tiếp, hỏi han kỹ càng. Ba tôi hồi tham gia cách mạng năm 45, kháng chiến chống Pháp ở tại tỉnh Long An này, nhiều cán bộ lãnh đạo tỉnh hiện tại quen biết ba tôi. Tôi nói những năm chống Pháp tôi cũng học trường tiểu học ở đây, trong vùng kháng chiến. Người cán bộ nói đã sắp xếp xong cả rồi, tôi sẽ được đưa về Ban tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, ở đâu đó trên rừng miền Đông anh cũng chưa biết. Nhưng tôi cần phải qua giai đoạn “thử thách”, ở lại địa phương một thời gian, quen dần với “công tác quần chúng”.
Tôi lắng nghe tất cả. Tôi đâu biết gì, nói sao nghe vậy thôi. Trước mắt tôi là cả một chân trời mới, cứ hãy đi và nhìn ngắm. Tôi ở nhà một người nông dân trung niên gọi là “chú Bảy”, cùng bà vợ và hai cô con gái học ngoài chợ Hiệp Hòa, chỉ về nhà ngày chủ nhựt. Tôi đoán người trong nhà cũng không biết gì về tôi, chỉ được “gởi ở nhờ”, không biết tôi sẽ đi đâu làm gì. Người cán bộ thỉnh thoảng đến “làm việc” với tôi, tuổi không lớn lắm, nhưng trông già dặn từng trải hơn tôi nhiều. Thật sự anh chỉ coi việc ăn ở của tôi. Một hôm, anh bàn tôi dạy học cho trẻ con trong xóm, rảnh rỗi ngồi không làm gì. Tôi nhờ anh mua bộ đồ bà ba cho giống mọi người, một ít giấy viết cho việc dạy học. Người cán bộ hăng hái đi mua sắm, ngày hôm sau trở lại vui vẻ báo nói tôi đã báo lên “mấy anh” và được đồng ý, thậm chí được cổ vũ, tôi ở lại đây dạy học một thời gian trước khi lên R, chờ trên đó người ta sắp xếp, tạm thời để tôi quen dần với “công tác quần chúng”. Lần đầu tiên tôi nghe từ đó: công tác quần chúng! Từ có vẻ hô hào sáo rỗng, nhưng lại đúng đắn, không thể nói cách nào khác hơn. Tôi bắt đầu công việc dạy học ấy, đúng với tâm niệm của tôi, gắn kết tôi với người nông dân lao động.
Tôi thấy vui, bận rộn, bắt đầu công việc làm có ý nghĩa. Không có thông báo phát loa nhưng xuồng ghe tấp nập ghé bến, con nít được đưa lên, con trai con gái, nhiều đứa lớn tồng ngồng, dốt đặc hoặc chỉ biết chữ võ vẽ, cha mẹ đưa đến kèm theo buồng chuối, chục trái dừa khô, hũ mắm, thúng gạo, rổ khoai mì, xâu khô vừa mới phơi một nắng… Chủ nhà rất vui, tiếp nhận tất cả quà cáp, đúng ra là tiền học phí, tôi cũng khỏi áy náy chuyện ăn nhờ ở đậu.
Đến học có hai anh em đứa con trai, đứa lớn mười tuổi, đứa nhỏ bảy tuổi, tự bơi xuồng đi học, một bữa đem cho tôi con trăn, vật yêu quí của chúng. Nhưng tôi đâu biết nuôi trăn, đâu thể bắt chuột, vài ba bữa một lần chúng lại đem chuột đến. Thành ra như chúng gởi tôi nuôi. Một dạo sau tôi kêu trả lại chúng.
Việc dạy học ban đầu có hơi chút bỡ ngỡ. Một sinh viên đang học toán cao cấp ở Sài Gòn, thầy người Tây phải học tiếng Tây, bỗng dưng dạy đánh vần ngược vần xuôi cho đám con nít mũi chảy lèm nhèm, chuyện tôi đã quên mất từ hồi xưa. Nhưng rồi việc cũng trôi chảy, do nhiệt tình của cả thầy lẫn trò. Nhà có gian giữa rất rộng, bàn ghế được huy động từ hàng xóm, tập vở bút mực tự học trò lo lấy. Buổi sang, buổi chiều nhà dậy lên tiếng ê a, tôi cầm thước kẻ đi tới lui chỉ trỏ, thỉnh thoảng gõ khẽ như phủi bụi vào vai hai đứa đang chụm đầu nói chuyện. Lớp học có tiến có lùi, học trước quên sau, nhưng nhìn chung có tiến triển, cha mẹ đưa con đến lớp vui mừng báo đứa nhỏ đã đọc được hàng chữ trên tờ giấy gói hàng. Cha mẹ buổi sáng đưa con đến, buổi trưa đến rước con đều đến gặp tôi chào hỏi, nói lời cám ơn, lần đầu tiên trong đời tôi thấy mình được tôn trọng, là người có ích; cũng hiểu ra dân mình hiếu học như thế nào. Chuyện học hành ở thành phố không có gì là lạ, con nít tới tuổi phải đi học, trường học chỗ nào cũng có, cha mẹ có việc làm có lương bổng, trường học để dạy chữ cũng là nơi để gởi con. Nhưng ở quê lại khác, thu nhập từ ruộng lúa sông nước thất thường, trường học chỉ có ở chợ huyện, cho con đi học là cả một vấn đề.
Hai cô gái trong nhà không thể tiếp giúp tôi trong chuyện dạy học. Chủ nhựt hai cô về nhà nghỉ học trò cũng nghỉ, chuyện học của hai cô cũng đã quá bận rộn. Nhà có thửa ruộng bên kia sông, ngày nghỉ hai cô phải tiếp cha mẹ làm cỏ lúa. Việc dạy học không phải là nặng nề, nhưng tôi biết không thể kéo dài. Tôi chỉ ở tạm đây rồi phải lên rừng, lớp học giao lại cho ai? Học hành chỉ năm bảy tháng thì học làm gì?
Lớp học bắt đầu vào giữa năm, tôi ăn Tết ở đó, đầu năm mới trời còn se lạnh, tôi được lịnh lên đường. Tôi tổ chức một buổi học cuối cùng, có cha mẹ học sinh đến dự, thật ra là một buổi chia tay. Một cán bộ địa phương tới dự hứa hươu hứa vượn gì đó về một thầy giáo mới thay tôi. Tôi dặn dò đám trẻ về những bài tập ở nhà, cám ơn cha mẹ về gạo mắm khoai củ. Chúng tôi cùng hát bài “Trai đất Việt”, bài hát tôi học từ hồi trong kháng chiến chống Pháp lúc bảy, tám tuổi. Tôi dẫn từng đưa nhỏ xuống xuồng cha mẹ chúng. Hai đứa con trai lại lòi ra con trăn, kêu tôi đem theo. Tôi cười nói trăn trên rừng thiếu gì, dịp nào tôi gởi cho chúng con khỉ nuôi còn vui hơn nuôi con trăn.
Buổi chia tay thật cảm động, công việc dạy học đầu tiên của tôi. Đám nhỏ thật dễ thương. Tôi ra đi ngay sáng hôm sau, bước vào một hành trình gọi là đường dây, những người đưa đi là giao liên. Tôi sẽ còn trở lại chuyện đường dây này, một bộ phận không thể thiếu trong kháng chiến, nếu không nói là cực kỳ quan trọng, người viết không thiếu chuyện để kể. Một phần ba quãng thời gian đi kháng chiến là ở trên đường dây. Những đường dây rộng khắp, chặt chẽ, những người giao liên là những chiến sĩ thực thụ. Tôi vốn thích chuyện phiêu lưu rong ruổi, thích truyện Tàu Tây du ký, nhưng tôi phiền khi tả đoạn thầy trò Tam Tạng rong ruổi trên đường, cụ Ngô Thừa Ân chỉ nói gọn một câu “ngày đi đêm nghỉ, đói ăn khát uống, chẳng bao lâu đà tới nơi”. Chuyện đi đứng sao chỉ nói gọn một câu được?
Một người giao liên đến gặp tôi bàn chuyện trước khi đi. Anh hỏi tôi có tiền không? Tôi nói có một ít, tôi chỉ là học sinh ở Sài Gòn. Anh nói cần phải sắm ít trang bị không thể thiếu để lên rừng: ba lô, võng dù, dép cao su, lương khô, ruột tượng gạo… Tôi được “trên” giới thiệu, đáng lẽ địa phương phải lo cho tôi, nhưng tỉnh huyện còn nghèo, chỉ có thể lo cho vài thứ… Anh nói dông dài vẻ áy náy, tôi liền lấy tiền đưa cho anh, nói tôi chỉ có bao nhiêu, lên rùng ở tập thể tôi không cần tiền nữa. Anh cầm tiền ra đi, chiều tối trở lại đưa tôi đủ cả, tôi săm soi chiếc võng dù mới tinh tôi sẽ gắn bó suốt nhiều năm. Anh báo sáng hôm sau ra đi.
Đường đi là như thế này. Chỗ tôi ở hiện tại là huyện Đức Hòa tỉnh Long An. Tôi sẽ đi thẳng theo hướng Bắc, qua huyện Đức Huệ cũng tỉnh Long An, qua tỉnh Tây Ninh đi tiếp dọc theo biên giới Campuchia, đến một chỗ là Ba Thu, báo chí phương Tây gọi là Mỏ Vẹt. Đó là một chỗ trống trải nhà cửa đông đúc, không có bom đạn, cuộc chiến nào cũng có, đôi bên mặc nhiên thừa nhận để tung người của mình vào dò la đối phương. Các đường dây từ dưới đồng bằng lên các cơ quan trung ương trên rừng đều qua đó. Ngược lại cũng vậy, các đơn vị bộ đội chủ lực tỉnh Long An về đó nghỉ quân chuẩn bị cho trận đánh tiếp.
Đêm hôm đó, tôi ngủ một nhà bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, người giao liên đưa tôi đến đó rồi biến mất, có thể đoán trạm của anh ở gần đâu đó, khách đi đường không được biết. Tôi ăn cơm với gia đình, ngủ với ông chủ nhà trên bộ ván gõ giữa nhà. Đêm nằm trên mặt ván mát lạnh, xóm làng yên tĩnh, dòng sông chảy êm đềm ngoài xa, tôi thấy lòng tràn ngập cảm giác mênh mang khó tả. Tôi đã đến ở ngủ đêm nhà dân thứ hai, cảm thấy quen thuộc, như người trong nhà. Tôi tôi sẽ ở tiếp những nhà như vậy nữa. Tôi đã ở trong lòng nhân dân, như sau này nhớ lại, từ căn nhà bên bờ sông Vàm Cỏ ấy, cách nay đã hơn năm mươi năm.
Sáng hôm sau người giao liên đến, cùng hai người giao liên nữa, với một nhóm khách mười mấy người trang bị gọn gàng với ba lô, thắt lưng, bi đông đựng nước, ruột tượng gạo. Tôi được thay đôi xăng-đan bằng đôi dép râu. Tôi đã trở thành người của kháng chiến, với những trang bị cần thiết cuộc sống trong chiến khu. Chúng tôi đi mấy tiếng trong đường làng rồi bắt đầu băng đồng, tôi đoán là vùng ven đồng Tháp Mười. Chúng tôi đi lặng lẽ, tốc độ chừng năm cây số một giờ, mỗi tiếng được nghỉ chân mười phút. Đường đi không tính bằng cây số, mà tính bằng giờ. Tôi không biết những người đi chung ở đâu, đơn vị nào, tôi không hỏi và biết là không được hỏi. Trước mặt là đồng không mông quạnh. Trời đứng trưa, vừa lúc đến một cụm rừng tràm, tôi đoán điều đó đã được tính trước, mọi người được lịnh dừng lại nấu cơm ăn. Tôi là “lính mới”, đi lẻ, nấu cơm chung với mấy người giao liên, ăn thức ăn của các anh. Cụm rừng tràm thưa thớt, đầy những gò nổng, rải rác có những vũng nước trong vắt, rong rêu lượn lờ, tôi nếm thử thấy chua loét. Đó là nước phèn đặc trưng của đồng Tháp Mười tôi đã từng biết, hơn mười năm mới gặp lại. Trong lúc ăn cơm người giao liên chuyện trò với tôi đôi điều về chuyện sinh hoạt, tôi đoán anh cũng đã nói như thế với những người trước đó lần đầu từ đồng bằng lên rừng. Dù ở đâu, làm gì tôi cũng phải chuẩn bị trường hợp sống một mình, đoàn người có thể bất ngờ bị một toán biệt kích tấn công, mọi người chạy tản lạc. Ở thắt lưng luôn phải có bi đông nước, hộp đựng lương khô, muối ăn, chiếc đèn dầu, hộp quẹt, chiếc xỏ quai dép. Trong ba lô, ngoài bộ quần áo phải có võng nằm, hai miếng ni lông một choàng che mưa đi đường, một căng che mưa giăng võng ngủ, thuốc uống và thuốc rắn. Đèn dầu bằng chai an-côn, không dễ làm, tôi sẽ nhờ người chỉ cách làm sau. Tôi chuẩn bị dần, tự lo cho mình, đi giữa đường sút quai dép là chuyện sống chết, không phải chuyệt vặt. Giờ đã hơn năm mươi năm, đã già lão ở yên bình, không đi đâu, tôi vẫn có chiếc ba lô với đầy đủ những món như thế, không để làm gì, chỉ là giữ lại một kỷ niệm khó quên.
Chúng tôi đi tiếp trong trời nắng như đổ lửa, con đường mòn nhỏ giữa đồng khô cỏ cháy, thỉnh thoảng có những vạt cỏ bị đốt cháy chỉ còn tro than. Chúng tôi nghỉ từng chập sau mỗi tiếng đồng hồ, hai bắp chân tê cứng, lần đầu tiên tôi đi dài đường như thế này. Tôi cố gắng không biểu lộ sự mệt mỏi, nhiều người trong đoàn lớn tuổi hơn tôi, thậm chí có người tuổi cha chú. Tôi biết rồi tôi sẽ quen dần, tôi đang tuổi thanh niên, thậm chí tuổi ấu thơ đã từng ở trong chiến khu, đã chịu cực khổ, đồng Tháp Mười không xa lạ với tôi.
Đêm hôm đó chúng tôi đến khu Ba Thu – Mỏ Vẹt, nhà cửa cất thành từng chòm lô nhô trên vùng đất trơ trọi, trời đã tối vẫn có thể nhìn thấy chung quanh. Chúng tôi được gởi nghỉ các nhà quen biết, giao liên chào hỏi thân thiện. Chúng tôi mượn bếp tự nấu ăn, tìm chỗ giăng võng ngủ. Tôi nhanh chóng làm quen với một người khách đi lẻ, anh ta có chiếc hăng-gô chúng tôi cùng nấu cơm, tôi có tiền mua thức ăn người trong nhà. Tất cả ở đây đều sòng phẳng. Dân là những người mua bán, sống vì lợi nhuận, quá quen việc cán bộ, bộ đội ghé ngủ nhờ, không có chuyện bắt chẹt, làm khó dễ, tiền bạc mua bán đều tính toán chi li. Sau này, tôi biết thêm đó là “cửa khẩu” đôi bên tung người dò la thám thính, bọn giặc tạm thời để yên không ném bom bắn phá. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, thấy không cần thiết nữa, Mỹ đã cho ném bom một trận kinh hoàng san bằng khu ấy.
Trong nhiều năm đi kháng chiến, tôi biết nhiều những khóm dân như vậy, không chịu quản lý của bên nào, làm đủ chuyện để kiếm sống, thu mua lương thực, buôn bán đổi chác hàng hóa bất cứ thứ gì, đi móc nối gia đình cho người kháng chiến, cuộc sống bấp bênh, khổ cực, không có bịnh viện, trường học, mọi thông tin chỉ qua truyền miệng. Ba Thu là khu dân cư sống “hợp pháp” lớn nhứt, ở lộ thiên, nhiều khu dân cư nhỏ hơn sống “bất hợp pháp” ở trong rừng, cũng chịu bom đạn, chạy càn bố, chịu cực khổ hiểm nguy không thua bất cứ người đi kháng chiến nào, nếu không nói là hơn.
Đêm hôm đó ở Ba Thu, ngủ ở một nhà tôi nghe được một câu chuyện kỳ lạ. Nhà có khách đông người, tôi giăng võng ở chuồng trâu cạnh phía sau. Bà khách và bà chủ nhà nói chuyện với nhau cách một bức vách. Bà khách kể một chuyện. Vừa mới đây, cũng ở huyện Đức Huệ này, vùng giải phóng, bà khách có chuyện đến buôn bán với người nhà người xã đội trưởng. Nhà cũng đang có khách, một cán bộ tập kết từ miền Bắc vượt Trường Sơn mới về tới. Năm đó, có nhiều cán bộ tập kết trở về Nam. Buổi trưa, anh cán bộ tập kết nằm ngủ trưa ở góc nhà. Bà vợ người xã đội trưởng ở ngoài chợ, lâu lâu vào thăm chồng một lần, hôm đó cũng vừa vào tới, đem bánh trái dọn ăn cho chồng và người trong nhà. Thấy người cán bộ tập kết nằm ngủ, người vợ bảo người chồng xã đội trưởng kêu anh dậy cùng ăn. Người cán bộ tập kết bất đắc dĩ phải trở dậy, suốt buổi ngồi ăn không nói gì. Người vợ, trái lại cứ nhìn anh chăm chăm tìm cách hỏi chuyện, anh quê ở đâu, sao lại về đây, có vợ con ở đây không? Người cán bộ tập kết từ chối tất cả, anh ở xa, không có vợ con, ghé qua rồi đi thôi. Người vợ hỏi hoài không tìm được thông tin gì, bỗng òa khóc, nói với chồng và với mọi người: Anh ấy đây thôi. Anh ấy là chồng chị trước đây, lâu lắm rồi, anh ấy đi kháng chiến rồi đi tập kết, chị không được tin gì tưởng anh ấy đã chết mới lấy chồng khác, đâu ngờ giờ anh ấy trở về, thấy chị có chồng chối quanh tìm cách bỏ đi...
Bà khách kể chuyện tới đó rồi không kể nữa. Bà chủ nhà sốt ruột hỏi chuyện rồi ra sao? Giải quyết thế nào? Bà khách nói không biết giải quyết thế nào, bà nghe tới đó có chuyện phải đi, không trở lại đó nữa.
Sau này, tôi có viết một truyện ngắn theo chuyện đó nhưng không thành công, định viết lại nhưng chưa nghĩ ra như thế nào. Nhiều chuyện thà cứ để nó trôi nổi trong dân gian có khi lại hay hơn.
*
Ba Thu là khu dân cư cuối cùng. Tiếp theo là vùng chiến khu, máy bay có thể tự do ném bom, chuyện đi đường phải đổi lại: đêm đi, ngày nghỉ. Nhưng trước mắt chưa phải là rừng, vẫn là đồng trống, một cánh đồng nổi tiếng có tên thật lạ: đồng Chó Ngáp! Không biết sao có tên ấy. Đồng rộng, chó chạy mệt quá phải ngáp chăng? Nhưng tôi biết tên gọi không nên suy luận, sẽ không tới đâu, cứ để lửng lơ như vậy lại hay.
Đồng Chó Ngáp rộng lớn đi một đêm không hết, giao liên bố trí đi sớm, xế chiều đã lên đường, nhưng cũng phải “ló đuôi”, đến chín mười giờ sáng mới tới. Chúng tôi lên đường độ bốn giờ chiều. Đoàn khá đông, mấy chục người, ở Ba Thu nhiều đoàn khác ghé vào, phải thêm tổ giao liên ba người khóa đuôi. Đồng mới sang xuân, vẫn còn ngập nước. Trời tối dần. Nước ngập tới thắt lưng, nhiều chỗ tới ngực. Đi được hơn tiếng đồng hồ lịnh truyền xuống: nghỉ mười phút! Nhưng nghỉ ở đâu? Chẳng thà cứ đi còn hơn. Nhiều lúc thấy nặng chân, rờ xuống thấy con đỉa to đùng no máu bám nặng trĩu, gỡ ra máu túa ra theo. Đồng mọc cỏ đưng, cỏ lác, rồi đi vào một vùng toàn rau mờ-om, loại rau nêm canh chua, cả một vùng đồng bốc lên mùi thơm lừng. Giờ đây sau hơn năm mươi năm, nhiều chuyện cũ đã quên, nhưng mùi thơm lừng rau mờ-om ở cánh đồng Chó Ngáp tôi vẫn nhớ, cũng như nhớ tiếng trực thăng quần đảo, âm thanh ghê rợn không thể nào quên.
Đi kế trước tôi là một anh thanh niên trạc tuổi tôi nhưng rất nhanh nhẹn tháo vát. Chúng tôi được dặn hạn chế nói chuyện và gây tiếng động, nhưng anh không thể yên. Đang đi anh chợt dừng lại cúi xuống mò tìm theo dấu chân người đi trước, giơ lên một con cá lóc, bẻ nhánh cây xỏ vào mang giắt vào thắt lưng. Đi một đỗi, anh ngắt một nắm rau om giắt kèm theo. “Tới chỗ nghỉ, kiếm nắm lá bứa ta có nồi canh chua”, anh nói nhỏ vào tai tôi. Thường có những người tháo vát như vậy, tôi cần phải học hỏi, hiểu biết đời sống từ những chuyện nhỏ nhặt nhứt, không chuyện nào là vô ích. Ví như việc mò bắt cá theo dấu chân người đi trước. Tôi đã có kinh nghiệm hồi nhỏ ở đồng Tháp Mười, giờ phải được tiếp tục.
Chúng tôi đi suốt đêm trên cánh đồng ngập nước, sáng ra vẫn thấy cánh đồng trơ trọi bao la chung quanh, ngào ngạt mùi rau om. Mặt trời lên rực rỡ một vầng hào quang. Đồng Chó Ngáp thân yêu của tôi! Suốt những năm chiến tranh tôi qua lại đó không biết bao nhiêu lần, ngắm cảnh đẹp và cũng chạy chúi mũi khi bị trực thăng đổ quân. Những năm đó cảnh vật thường đi đôi giữa đẹp đẽ và hiểm nguy.
Độ chín giờ thì tới nơi, một cụm rừng thưa có nhiều cây mật cật, gọi là Bố Bà Tây, lại một tên lạ không thể hiểu. Một trạm giao liên ở đây. Chúng tôi đã chạm vào rừng, ở rất xa địch, nhà của giả như nhà dân không cần phải giấu giếm. Người trạm trưởng bồng con ra chào các đoàn khách. Chúng tôi được bố trí chỗ ở, từng đoàn ở chỗ riêng, tôi một mình muốn ở với ai thì ở.
Người giao liên tôi quen đến chia tay, anh dẫn đoàn khách khác quay trở về, giao liên trạm này sẽ đưa chúng tôi đi tiếp. Tôi chưa biết tên anh, cũng chưa nói chuyện gì khác ngoài chuyện đi đứng. Nhưng chúng tôi thấy thân quen. Anh là người đầu tiên đưa tôi đến ở một nhà dân, là người đồng chí đầu tiên của tôi. Những năm tháng kháng chiến còn dài, tôi sẽ còn nhiều đồng chí như vậy nữa, tình đồng đội là động lực lớn nhứt giúp tôi chống chọi với bao gian khổ hiểm nguy.
Chúng tôi ngồi nói chuyện, không chén trà, không điếu thuốc. Anh tên Quyết Thắng, quê Bến Tre, tỉnh Đồng Khởi, có nhiều người đi kháng chiến. Đội giao liên của anh còn có hai người nữa quê Bến Tre, tên Xông Pha và Lập Trường. Tỉnh anh có nhiều người có tên “máu lửa” như vậy. Chuyện anh đi thoát ly cũng đơn giản: có đợt tuyển quân anh đăng ký tham gia, muốn đi bộ đội cầm súng nhưng lại được phân công làm giao liên, tuyến đường đồng Tháp Mười. Anh kêu tôi kể chuyện Sài Gòn cho anh nghe. Tôi kể chuyện tôi cũng đơn giản như vậy: Tôi học ở Sài Gòn. Ba tôi là người kháng chiến năm 45, tập kết ra Bắc, làm hiệu trưởng một trường Học sinh miền Nam, về Nam phụ trách ngành giáo dục, thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục. Tôi được ba giới thiệu về đó.
“R phải không?”, anh hỏi.
“Đúng rồi”, tôi đáp.
Anh nói anh có biết, có đọc giấy giới thiệu. Trông anh có vẻ ngưỡng mộ tôi. Dù gì đó là nơi của những người lãnh đạo, chữ nghĩa, anh chỉ là nông dân mới biết đọc biết viết, làm được toán cộng toán trừ, nhân chia còn lọng cọng. Tôi nói tôi chỉ học toán, không biết vô rừng làm được gì, chắc cũng chỉ làm phụ việc gì đó thôi.
Anh giao liên dặn tôi thêm vài điều chuyện ở rừng, rồi ra đi. Sau này, đi qua lại đó tôi có tìm hỏi thăm anh. Một lần, có người nói biết anh, đã chuyển qua bộ đội, chết ngay trong trận đầu tiên. Nhiều người tôi quen biết trong nhiều năm dọc ngang vùng rừng miền Đông, vùng đồng bằng miền Trung Nam bộ tôi đều không gặp lại lần thứ hai. Cuộc chiến quá ác liệt, người chết nhiều hơn người sống.
Đêm đầu tiên ngủ ở một trạm giao liên trong rừng, rạo rực không ngủ được, lên võng nằm thả mùng xuống rồi lại khoác mùng xuống võng đi rảo quanh. Không khí rừng ban đêm, dù chỉ là một khu rừng chồi, vừa nên thơ vừa lạ lẫm cuốn hút tôi. Các đoàn khách thành từng nhóm nhỏ giăng võng quây quần bên nhau, các bếp đỏ lửa, vừa sưởi ấm, vừa nấu nướng. Vài nhóm uống trà, châm trà trong những chiếc ca Mỹ, hoặc bỏ thẳng trà vào trong bi đông. Mọi người ngồi thành vòng tròn, dịch qua một bên cho tôi ngồi vào, tiếp nối câu chuyện đang bỏ dở tôi không hiểu gì. Tôi cũng góp vào câu chuyện chắc cũng không ai hiểu. Tôi đi sang một nhóm khác, chủ yếu để làm quen, mọi người giới thiệu tên tuổi quê quán, tôi quên ngay.
Tôi trở về võng nằm, vẫn thao thức, lòng tràn ngập một cảm giác ngỡ ngàng khó tả. Tôi đang ngủ đêm trong một cụm rừng xa lạ, xung quanh là những người xa lạ, nơi tôi sẽ sống lâu dài, làm việc với những người đó. Rừng đêm âm u, nhưng cuộc sống rộng lớn mở ra trước mắt tôi.
Tôi đi tiếp ba ngày với ba trạm giao liên khác nữa, thẳng hướng bắc, dọc theo thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông, đoạn sông cũng là đường biên giới Việt Nam – Campuchia, không có làng xóm hai bên. Có chỗ ai đó làm chiếc đăng ngang sông, bị chặt bỏ một nửa phía bên kia. Những người lính của quốc vương Xi-ha-núc thực hiện nghiêm chỉnh về đường biên, nửa bên kia sông là của họ. Tôi đến chặng đường dây cuối cùng, ở đó chờ người trong cơ quan ra đón, hai ngày một chuyến, tôi đến không nhằm chuyến phải ở lại một ngày. Đó là trạm 40 nhiều năm về sau trở nên quen thuộc, chúng tôi đi công tác hoặc từ các chiến trường trở về đều qua đó. Tôi sẽ kể một chương riêng về đường dây giao liên, như tôi đã nói trên, một phần ba những ngày đi kháng chiến chúng tôi trên đường đi. Hôm sau, người trong cơ quan ra lấy thư, khách theo về chỉ một mình tôi.
*
Khu căn cứ của Ban tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam trong nhiều năm trong chiến khu ở vùng Tây Bắc tỉnh Tây Ninh, đoạn nhô ra biên giới Campuchia, ngọn con sông Vàm Cỏ Đông chạy dọc làm đường biên giới. Nơi có con suối Xa Mát chảy ngang, người trong cơ quan chúng tôi gọi là suối Cây, do có thân cây lớn ngã ngang làm cầu qua lại. Năm 67, trận càn Gian-xơn Xi-ti bị đánh phá tan tành chúng tôi vẫn ở đó. Trận càn Đông Dương năm 70 khiến chúng tôi phải dạt lên Campuchia vài năm, lại trở về đó. Đó là đoạn có đường biên giới không minh định, trong một bản đồ ghi rõ biên giới thành những dấu chấm, tôi đoán người ta chọn ở đó vì cho rằng với ý thức của một quân đội chính qui, Mỹ sẽ không dám ném bom, sợ nhầm qua đất Campuchia.
Như hôm đầu tiên, trên đường về cơ quan, chỉ có hai người chúng tôi với nhau. Chúng tôi thong thả đi băng rừng. Rừng nối tiếp rừng, rừng già cây cao bóng cả, gốc rễ xù xì, dây leo chằng chịt, tôi chưa từng ở rừng không biết cây gì với cây gì. Cái gì đối với tôi cũng khác lạ, luôn trông ngang trông ngửa. Anh giao liên đã quen đường, cứ lầm lũi đi. Đến giữa trưa chúng tôi dừng lại nấu cơm ăn. Anh giao liên hỏi tôi vài lời, tôi ở đâu, làm gì, lên đây về cơ quan nào? Tôi nói tôi ở Sài Gòn mới ra, ở Long An một thời gian rồi lên đây, chưa biết về đâu. Anh nói tôi cứ về văn phòng Ban, ở đó họ sẽ biết đưa tôi về đâu. Chúng tôi đi tiếp, đến một chỗ gọi là Xóm Giữa, cạnh sông Vàm Cỏ, chúng tôi xuống sông Vàm Cỏ đi ghe. Nhìn thấy chiếc ghe tôi bồi hồi xúc động, nhớ lại thời thơ ấu ở đồng Tháp Mười. Tôi nói để tôi chèo thử, thật tình cũng không dám chắc lắm. Nhưng rồi tôi chèo một cách thông thạo, tôi vẫn chưa quên chuyện chèo chống. Tôi ở đồng Tháp Mười từ năm 47 tới năm 50, ba bốn năm gì đó, tôi chỉ mới trên dưới mười tuổi. Nhưng đó là những năm tôi lăn lộn với cánh đồng, suốt ngày chèo chống, đi bắt cá, xom chuột. Quê nội, quê ngoại tôi đều ở bên bờ sông, tôi có “gien” của người sông nước.
Người giao liên nhìn tôi chèo ghe, vừa ngạc nhiên vừa thấy thân thiện, câu chuyện từ đó dễ dàng hơn. Anh nói chưa từng biết Sài Gòn, cũng chưa từng ra chợ tỉnh, chợ huyện, chưa từng thấy chiếc xe hơi, không biết con ngựa. Suốt những năm lớn lên anh chỉ ở trong làng, rồi lên đây, trong những người đầu tiên. Hồi đó, Xóm Giữa chỉ có mấy nhà dân, có tiệm hủ tíu người Tàu rất ngon. Người Tàu hay thật, có người là có mở quán, nấu hủ tíu ngon không ai bằng. Anh thay tôi chèo, tối nay chúng tôi sẽ ngủ ở Bến Ra, vui chơi với anh em trong đội “Lướt Sóng”, gạo mắm có đủ nấu ăn thả cửa, sáng mai băng rừng về cơ quan. Đó là bộ phận tiếp phẩm của Ban, ký hiệu là B13, có nhiệm vụ thu mua lương thực từ dưới đồng bằng, cả trên Campuchia, theo đường sông nên có tên “Lướt Sóng”, cung cấp cho các Tiểu ban của Ban, hằng tuần xuống đó lãnh gạo, khô mắm về cho cơ quan mình.
Chúng tôi đi qua một chỗ gọi là Lò Gò, một bến sông có con lộ đâm thẳng ra lộ 22, một đầu ra biên giới, đầu kia trở về Cần Đăng, trạm 40 chúng tôi vừa rời đi. Vừa mới hôm rồi tôi trở lại cứ cũ, tất cả đã thay đổi, duy chỉ có chỗ Lò Gò vẫn như xưa, tôi ngồi một lúc lâu ngắm nhìn cái bờ đất, bụi cây tôi vẫn còn nhớ, đã hơn năm mươi năm trôi qua, mười mấy năm tôi đi kháng chiến qua lại nơi đây, thời gian trôi đi kỷ niệm vẫn còn lại.
Xế chiều chúng tôi tới Bến Ra, một khúc sông rộng ghe xuồng đậu chen dưới bến, thanh niên trai tráng mình trần lưng, nách vác từng bao gạo đi lên xuống chân dẫm bành bạch, một chiếc kho lớn gần đó ngập gạo một nửa. Không biết có phải do các anh là người lo cung cấp lương thực nuôi sống cơ quan, “bụng dạ” các anh cũng rất rộng mở. Chúng tôi được nhiệt tình tiếp đón, có gian trại tự giăng võng nghỉ, gạo trong kho cứ xúc nấu ăn, khô mắm cũng vậy. Hôm đó chỉ có khô cá lù đù, hơi mục một chút chúng tôi xuống nhà bếp ăn tạm, có canh hủ tíu nấu với đậu xanh.
Tôi chưa khi nào ăn những món như thế, hủ tíu nấu canh đậu xanh, bột ăn với bột. Nhưng tôi hiểu đây là vùng rừng xa xôi, có được thức ăn bỏ vô bụng là may rồi. Nhiều năm sau đó tôi rất thích đi tải gạo để được gặp đội Lướt Sóng. Chúng tôi ở trong rừng sâu ít khi gặp được dân, chỉ qua các anh, những người đi thu mua lương thực, thường xuyên xuống đồng bằng hoặc liên hệ với người Miên qua biên giới, chúng tôi hỏi han tin tức bà con mình sinh sống như thế nào.
Không vội về cơ quan, chúng tôi ở chơi với các anh hôm đó. Trời tắt nắng các anh nghỉ việc, tụ xuống nhà bếp ăn cơm, kêu chúng tôi cùng ăn. Mọi người ngồi chồm hổm trên băng ghế lua cơm rào rào, chuyện vãn cười đùa rôm rả, kể chuyện gặp gỡ các mối lái, móc nối dân thương hồ, liên hệ càng xa khu căn cứ càng tốt, hẹn gặp dân chúng người Miên dọc biên giới bằng cách gõ vào bọng cây, hai hồi dài một hồi ngắn. Ăn cơm xong, nấu nước uống trà một chập rồi giăng võng nằm, chuyện vãn tiếp tục rôm rả một lúc lâu trước khi ngủ. Tôi nằm giữa người giao liên và người của đội Lướt Sóng, anh hỏi tôi đôi điều rồi nói coi như chúng tôi cùng cơ quan, chỉ khác đơn vị, sẽ cùng sống làm việc lâu dài với nhau. Tôi thấy yên ấm, muốn nói chuyện, nhưng các anh mệt mỏi đã lịm ngủ. Sáng hôm sau, hai chúng tôi ăn bữa cơm trước khi ra đi, mỗi người mang theo cơm vắt, một ruột tượng gạo đầy. “Không thì các anh cũng ra đây tải gạo thôi”, một người trong đội Lướt Sóng nói.
*
Tôi ngỡ ngàng trước một khu rừng đẹp như trong mơ. Những cây thau lau (bằng lăng) lớn cả ôm tay thân vàng óng, lốm đốm những họa tiết xanh tròn. Những cây cầy (kơ-nia) cổ thụ tàng rộng che kín cả một vùng, cây ngành ngạnh gai đâm tua tủa. Cây bứa rất nhiều, cũng không khác bứa nhà. Cả một vạt rừng toàn cây mai, cũng là mai nhà. Năm ấy, tôi được thưởng ngoạn cảnh một rừng mai nở bông vàng rực, nhưng phải sau Tết rất lâu, độ tháng ba, tháng tư. Tôi đặc biệt thích cây tai nghé, lá có lông tơ hai màu xanh tím, thân rạn nứt như có bàn tay của nhà điêu khắc. Thường đám chim bù chao hay đậu trên đó nói chuyện om sòm, ở trong rừng tĩnh lặng tiếng chim là tiếng nhạc vui tai.
Đang đi trên con đường mòn râm mát bỗng thấy trước mặt một vùng trống quang. Trảng Tà Xia, người giao liên nói. Tôi chưa từng thấy một cái gì lạ như thế. Một vùng đất trống trải tròn vạnh, cỏ mọc lưa thưa, bằng phẳng như một sân bóng đá, thỉnh thoảng có những cụm cây con như để điểm tô cho quanh cảnh trơ trọi. Tôi kéo người giao liên đứng lại nhìn ngắm, ghi dấu một địa chỉ không thể quên của vùng R chúng tôi!
Do cấu tạo địa chất, có những lõm đất khô cằn, cây cối không thể mọc, cỏ cũng chỉ mọc lưa thưa, trảng cỏ là tên chung, không phải riêng. Cũng như suối đá. Suối nào không có đá?
Anh giao liên kéo tôi đi, con đường sẽ đi vòng quanh trảng, mặc sức tôi nhìn ngắm. Nay mai đi tải gạo cũng qua con đường này. Chúng tôi đi một đoạn dài vòng quanh trảng, nắng lên cao chênh chếch, mặt cỏ ngập tràn ánh nắng như một tấm thảm dày chói chang. Chúng tôi dừng nghỉ dưới tàng một cây cầy cao lớn, nhẫm dấu nhiều đoàn khách ghé nghỉ, cả dấu heo rừng đào bới tìm ăn hột cầy. Vừa mới đây, khi ngồi viết những dòng này, tôi được anh bạn già một thời ở trong rừng, người Tây Ninh, điện báo cây cầy đã bị đốn bỏ, cùng với cánh rừng bị phát quang. “Trảng Tà Xia còn không?”, tôi hỏi. “Còn”, anh bạn đáp. “Nhưng rừng không còn trảng còn ý nghĩa gì nữa?”- Anh bạn già của tôi than thở. Anh thuộc số ít người tôi còn liên hệ được sau ngày giải phóng, thỉnh thoảng điện cho nhau hỏi thăm sức khỏe, báo tin ai còn ai mất. Người già hay mủi lòng, mỗi lần nghe tin xấu về một người bạn, tôi bồi hồi ngồi lặng đi một lúc lâu, sau đó giở điện thoại xóa đi một số trong mục danh bạ. Tin về cây cầy bị đốn ở trảng Tà Xia cũng thuộc loại như vậy, nhưng tôi không biết xóa đi cái gì, ở đâu?
Chúng tôi đi một nửa vòng quanh trảng, tiếp giáp mặt cỏ với mí rừng là những vạt cây sim đang mùa trái chín tím thẫm. Người giao liên kéo tôi dừng lại hái sim ăn, không gấp gì, về đến cơ quan cũng còn sớm, đang dịp gặp mùa sim như vầy. Lần đầu tiên tôi ăn trái sim, rất thơm ngon, cây cao vừa tầm tay, hái bỏ vô miệng dễ như lấy trái trên bàn ăn. Anh giao liên nói rừng ở đây còn có trái viết rất ngon, dòng họ với trái xa-bô-chê ở dưới quê, nhưng phải đợi mấy tháng nữa, trái già vú chín mới ăn được.
Chúng tôi ăn cơm vắt dọc đường, xế chiều đến cơ quan, văn phòng Ban, cũng là chỗ ở của ông Trần Bạch Đằng, một tên tuổi được nói đến nhiều ở R, cũng như sau này ở khu Sài Gòn – Gia Định. Tôi đã được ba tôi nhắn gởi, sẽ đưa về B1, cơ quan tạm thời ghép ngành giáo dục và tuyên truyền, chuyên môn riêng nhưng sinh hoạt chung.
2 - Ở rừng
Nhưng tôi chỉ là anh học trò, chuyên môn gì? Tạm thời, cũng có thể là lâu dài, tôi sinh hoạt ở bộ phận lao động, cưa cây bửa củi, đào giao thông hào, tải gạo, làm bẫy săn bắt thú rừng, tìm chỗ xa làm rẫy. Một tổ chuyên nấu nướng gọi là anh nuôi. Một tổ khác đi cảnh giới, buổi sáng, buổi chiều xách súng đi rảo vòng tìm dấu biệt kích. Nhưng thuở ấy biệt kích chưa lên tới, chiến tranh còn ở mức độ nhỏ, chính quyền Sài Gòn chỉ lo củng cố những thủ phủ ở thành thị và “bình định nông thôn” ở một vài trọng điểm. Rừng còn yên bình, những người cảnh giới cũng là những người đi săn, tháng kiếm vài con nai con mễn không phải là khó.
Được đi lao động tôi rất thích. Tuy tôi cũng biết, do vài người mách bảo, việc bố trí công việc lao động cho tôi không phải là không có ý, tiểu tư sản học sinh như tôi là thành phần “phi lao động”, cần phải được cải tạo. Tôi không hiểu tại sao lại phải cải tạo? Là học sinh tôi đi học ngày hai buổi, còn đâu thì giờ lao động? Tôi học toán, loại hình khoa học cao cấp, vận động trí óc tối đa, không lao động là gì? Nhưng tôi không màng. Tôi yêu thiên nhiên, đã từng trải qua những năm tháng khổ cực. Chúng tôi có bảy anh em, một thời sống nheo nhóc trong đồng Tháp Mười. Năm 54, ba tôi đi tập kết, má tôi một mình nuôi bầy con, chúng tôi sống dưới cả mức nghèo khổ. Ở trường, tôi say mê môn toán, một bài toán không giải được tôi ngủ không yên, giải xong một bài tôi cảm thấy khoái hoạt, sướng lâng lâng, như cầu thủ bóng đá sút thủng gôn, vận động viên nhảy vượt xà. Tôi đã miệt mài trong học tập, giờ đây tôi cũng miệt mài trong lao động chân tay. Tôi có sức khỏe, biết tính toán, chỉ mấy năm tôi đã thông thạo mọi công việc trong rừng, làm bất cứ việc gì, đốn cây, đào hầm, đào giếng, cắt cỏ tranh, hái lá trung quân, tát suối bắt cá... Cơ quan “nở nồi”, chia thêm nhiều bộ phận, hoặc bị bom pháo phải dời cứ, tôi dẫn một tốp người đi xây dựng một cứ mới. Công việc đào giếng là cực nhọc nhứt, đặt ba lô xuống một cụm rừng tôi xung phong làm việc đó, chọn chỗ nhiều dây mây dễ có mạch nước, đào sâu vài sải tay đã có thán khí đọng bên dưới, không khéo những người buổi sáng xuống đào đầu tiên có thể bị ngất đi, phải dùng một bó nhánh cây cột dây kéo thụt cho thông khí, từng chập thay người đào thường xuyên thông khí, có hiện tượng khó thở phải kéo giật dây thông báo lên trên. Nước uống là thiết yếu trong cuộc sống ở rừng, đi xây dựng cứ việc đầu tiên là phải đào giếng.
Một công việc khó nữa ở rừng là cưa cây xẻ gỗ lấy ván đóng bàn ghế. Cơ quan dần phát triển, cần phải có hội trường để hội họp, mở các lớp học, các trại sáng tác. Cây xẻ gỗ là cây cổ thụ, thường là cây dầu lớn vài ba ôm tay. Hồi ở tiểu ban giáo dục tôi được đi xẻ gỗ cùng một ông thợ già, tay nghề giỏi giang, nói chuyện tiếu lâm cũng số một. Ông chỉ huy đám thanh niên chúng tôi cách hạ cây gỗ, lên mà, búng mực cho hai người trên dưới cưa xẻ. Ông nói: “Tụi bây biết những người thợ xẻ đi vào văn thơ như thế nào không?”. Chúng tôi nói không biết. Ông nói: “Ngúc ngoa ngúc ngoắt như c… thợ cưa”. Tôi đi theo ông vài lần học được nghề, cũng học được vô số những câu hò vè, chuyện kể tiếu lâm. Nghề cưa xẻ tôi còn nhớ được, sau này có thể tự làm và chỉ lại cho người khác. Các câu hò vè, chuyện tiếu lâm cho là tục tĩu tôi đã quên hết, đó là một trong nhiều cái ngu của tôi.
Hội trường ở tiểu ban giáo dục là niềm tự hào của chúng tôi, có thể chứa hàng mấy trăm người. Nhưng sau đó lên dự họp thanh niên ở hội trường Ấp Bắc của Ban, chỗ ông Trần Bạch Đằng, lớn gấp đôi gấp ba, tôi thực sự ngỡ ngàng, không biết thợ thầy nào làm được như vậy.
Nhiều người tưởng cuộc sống chúng tôi ở trong rừng là tạm bợ, sẽ ngạc nhiên một lần dạo qua các khu căn cứ của chúng tôi. Xu hướng con người cũng như mọi sinh vật luôn muốn tô điểm chỗ ở của mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Không chỉ hội trường, nhà bếp công cộng, từng nhà riêng cũng được chăm chút trang hoàng. Trước bàn viết của Thủy Thủ có những dây leo bò quanh những chấn song. Nhà của vợ chồng Lê Giang – Lư Nhất Vũ đầy những giò phong lan. Nguyễn Chí Hiếu là họa sĩ nhiều năm học ở Liên Xô, ngành trang trí thiết kế, “chơi” một căn nhà theo kiểu ibba của Nga, với những súc gỗ cây dầu lông da rạn nứt tuyệt đẹp chất thành vách nhà, người các cơ quan lân cận tổ chức thành đoàn đi tham quan. Tôi thuộc hạng bét trong việc tổ chức nhà ở, cũng biết dành lại những bụi cây đẹp trong lúc dọn sân nhà để làm cây cảnh.
Năm 67, tôi gặp chị Bảy Mô, dũng sĩ diệt Mỹ nổi tiếng toàn quốc. Chị kể, ngoài việc rong ruổi đi đánh Mỹ, nhà ở của chị là một đoạn địa đạo, chị luôn trang hoàng căn hầm của mình. Có một hang cóc có con cóc ở đó, chị ăn cơm lấy cơm cho nó cùng ăn, thắt cho nó chiếc nơ, buổi chiều chị trở về “nhà” nó nhảy ra chào mừng chị. Cuộc sống khắc nghiệt có những niềm vui nho nhỏ như vậy.
Năm 65, B52 bắt đầu rải thảm, máy bay từ trên cao 5 cây số cắt bom, bom nổ tới trước tiếng máy bay, không kịp nhảy hầm mọi người phải ngủ dưới hầm. Đó là một căn hầm cũng bằng căn nhà, cây đà bốn gang tay, sâu ngang đầu người, đủ chỗ giăng ba bốn chiếc võng hoặc hơn, có kệ để ba lô, những hốc to nhỏ đựng đồ đạc riêng tư. Phòng họp có bàn ghế cho vài ba chục người. Không thể so với địa đạo ở Củ Chi, nhưng cuộc sống của chúng tôi không phải là “ăn lông ở lỗ”.
Những buổi đi rừng đốn cây xẻ gỗ, tải gạo, làm bẫy thú, chặn suối làm sa bắt cá, những công việc thật nặng nhọc, nhưng chiều về ăn uống chuyện trò, tối giăng võng nằm bên nhau, tình đồng đội gắn kết là thú vui không gì bằng. Tôi chỉ phiền họp hành nhiều quá. Đi rừng về quăng cuốc xẻng dao rựa, chưa kịp tắm rửa phải họp kiểm điểm, ưu điểm là cơ bản, khuyết điểm là râu ria. Làm việc có giờ giấc nhưng họp hành không có giới hạn nào cả, ai cũng có quyền nói, nói ngắn không được thành nói dài. Rồi bình bầu, chỉ trong ngày làm việc trong tổ ba người cũng phải có một người tiên tiến, đứng trên hai người kia. Rồi tiên tiến của tháng, của năm, nhiều thế hệ như vậy, có phải bịnh danh hiệu có từ đây?
Anh Nguyễn Quang Sáng quê Chợ Mới – An Giang, vùng của Phật giáo Hòa hảo, kể chuyện vui, rằng người Hòa hảo nói: “Việt Minh không họp, chúng thắng mình lâu rồi”.
Thời chống Mỹ cũng có chuyện vui tương tự. Mấy bà ở vùng giải phóng đi xuồng ghe ra chợ mua bán phải qua đồn bót trên sông. Gặp đám lính gác, thấy cần thăm hỏi để lấy lòng:
“Tình hình yên không mấy chú?”.
Tên lính gác đáp:
“Yên. Tụi nó đang học nghị quyết trong đó”.
Học nghị quyết là họp ngày đêm, mọi công việc đều ngưng lại hết. Bọn thanh niên chúng tôi chưa phải là đoàn viên cũng họp, người chặt cây bửa củi cũng kiểm điểm, xem xét lập trường đến nơi chốn. Tôi rất sợ họp. Đành rằng làm việc là phải họp đánh giá, đề ra phương hướng mới. Nhưng các cuộc họp thường kéo dài một cách vô bổ không kiểm soát được, ai cũng muốn thể hiện mình và có cái gì đó không thật trong phê, tự phê.
Chuyện họp hành dai dẳng ghi một dấu vết không phai trong ký ức của tôi. Cho đến giờ đã già lão, nghỉ hưu đã lâu, thi thoảng có cuộc mời họp kỷ niệm gì đó, tôi cũng muốn đi gặp anh em, nhưng nghĩ đến chuyện nghe người này người kia phát biểu, cảm giác ngại ngùng lại đến, tôi lại nhớ đến bài thơ “Loạn họp” của Maiacốpxki “Mong có một cuộc bàn việc loại trừ tất cả các cuộc họp”. Thật sự từ những năm đó, tôi đã tìm cách tránh né các cuộc họp, các lớp học tập, tìm cách nhận những công việc đi xa, tải gạo, tải vũ khí, rong ruổi băng rừng, tuy cực khổ nhưng được thảnh thơi không phải họp.
Thường chúng tôi lãnh gạo ở Bến Ra chỗ đầu tiên tôi tới, đi về trong ngày. Nhưng có khi phải đi xa hơn, chuyện thất thường trong chiến tranh là điều bình thường. Các anh vào rừng trước tôi nói rằng trước đây mấy năm, hồi căn cứ ở bên Đông Bắc, cảnh sống cực khổ hơn nhiều, đi tải gạo cả tháng trời, người khỏe mạnh tìm ăn khoai củ dọc đường, dành gạo về cho cơ quan, người yếu ăn dần số gạo mang trên lưng, về đến cơ quan nhiều khi không còn gì.
Tôi có hơn năm đi làm rẫy. Săn bắn, đánh cá và làm rẫy là các công việc để “cải hoạt” (cải thiện sinh hoạt) các cơ quan trong rừng. Chúng tôi quảy ba lô lên đường cùng với dao rựa cuốc xẻng, gạo muối và mớ hột giống. Làm rẫy là phải phát quang cây cối lấy ánh nắng, làm lộ thiên, nên phải tránh xa cơ quan. Chúng tôi chọn một vùng sát biên giới, ở đó có vài khu rẫy của người Miên, có thể ở lẫn vào với họ, bước đầu xài nhờ giếng nước, học cách trồng tỉa, dần dần tạo cơ ngơi cho riêng mình. Anh Hai Son, sau này công tác ngành điện ảnh, làm trưởng đoàn. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc đào giếng, tốp chặt cây phát quang, đánh gốc rễ, cuốc lật đất đánh thành luống. Vài ngày cành lá khô thì chất đốt, suốt ngày lửa cháy âm ỉ, ban đêm có cơn gió lửa cháy bùng lên thành ngọn. Chúng tôi có buổi họp mặt trước khi đi ngủ, tắm rửa ăn uống xong ngồi trên võng chuyện trò, nhìn ra ngọn lửa bập bùng ngoài xa, một cơn gió thổi tới đưa vào mùi khói thơm nồng, cảnh yên bình như ở dưới quê. Biết tôi biết đàn, anh Hai Son tìm đâu được cây đàn măng-đô-lin, bắt tôi đàn bài “Apache” cho anh nghe, tôi phải ngồi đàn tận ngoài xa, anh thích nghe tiếng đàn văng vẳng, lẫn trong tiếng gió lá cây rì rào. Anh Hai Son đã lớn tuổi, anh nhớ nhà, nhớ quê, nhớ Sài Gòn, bản nhạc chắc gợi anh nhớ đến kỷ niệm nào đó. Bản tính con người là như vậy, xa đâu nhớ đó, như Chế Lan Viên nói, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn. Tôi cũng vậy, nhớ Sài Gòn da diết, gặp anh Thủy Thủ, Trang Thế Hy chúng tôi nhắc lại chuyện Sài Gòn, nhớ về một cái gì yên bình, hạnh phúc, chỉ là bản năng tự nhiên thôi. Nhưng chúng tôi cũng chỉ to nhỏ thôi, kẻo có người nói chúng tôi còn “nặng mùi thành thị”.
Sau hơn tháng, khu rẫy đã có màu xanh, chúng tôi trồng thêm khoai củ, nhờ người Miên mua hột giống, liên hệ bằng cách gõ vào một bọng cây ở giữa làm ám hiệu. Chẳng mấy chốc chúng tôi có thêm những người bạn Miên, tuy không nói được gì nhiều, đôi bên chỉ võ vẽ vài từ “ngoại ngữ”, còn thì ra dấu là chính. Sau này chúng tôi mới biết đó là những người Cộng sản Campuchia. Nhà nước của quốc vương Si-ha-núc thân thiện với Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc, nhưng triệt phá Cộng sản người Miên trong nước. Hằng tuần chúng tôi đã có thứ mang về cho cơ quan, rau cải, khoai củ, lãnh trở ra gạo muối, khô mắm, tiếp tục cuốc xới gieo hột, mở rộng công việc gieo trồng. Ở rừng thiếu rau xanh, nắm rau muống không chỉ là thực phẩm mà như là thuốc, nhứt là đối với người già. Công sức tiền của bỏ ra cho chúng tôi làm rẫy, mớ rau xanh thành ra một thứ xa xỉ.
Sau hơn năm chúng tôi được lịnh ngưng làm rẫy, trở về cơ quan do quan hệ của chúng tôi với người Miên, hoặc khu rẫy lộ thiên có thể làm lộ khu căn cứ. Hoặc cả hai, chúng tôi không được cho biết nguyên do.
*
Tôi không dám chắc tôi có khiếu về văn học hay không, nhưng ham thích văn chương thì có, từ hơn mười tuổi tôi đã say mê đọc sách, thấy ở đâu có sách là đọc, ngạc nhiên thấy một thế giới mở ra khác hẳn, đẹp hơn cuộc sống thực nhưng cũng buồn hơn, day dứt hơn. Tôi đọc không chọn lọc, không có nhiều sách trong tay, không có người hướng dẫn. Những cuốn sách của Tự lực văn đoàn khiến tôi thẫn thờ, buồn bã đến không muốn ăn cơm. Tôi đọc hai lần cuốn “Hoa vông vang” của Đỗ Tốn. Tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ ấn tượng đầu tiên tôi đọc “Xóm giếng ngày xưa” của Tô Hoài và “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng. Sự thẩm định tiến triển một cách tự nhiên, như là bản năng. Tôi đọc Lê Văn Trương rồi không đọc nữa. Tôi nhớ hồi học cấp hai, tôi có đọc một cuốn sách in từ xưa, hồi còn giấy dó, không rõ tên tác giả, tên truyện là “Giữa chốn ba quân”, chuyện ở nước ngoài nhưng nhân vật đổi thành tên tiếng Việt. Tôi đọc rồi quên đi, nhưng vài năm sau bỗng nhớ lại, và không rời ra nữa, câu chuyện có cái gì đó sâu đậm in vào tâm trí tôi. Và tôi đã không bị lừa dối. Sau này trong rừng đọc được sách của miền Bắc gởi vào, tôi mới biết đó là quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Người con gái viên đại úy” của Pút-skin. Ký ức đã giữ đúng những gì cần phải giữ.
Cũng một chuyện như vậy hồi tôi trạc mười hai mười ba. Tôi vào chiến khu thăm ba, ông cho tôi tập thơ Tố Hữu in bột nếp, kêu tôi về chép lại tặng bạn bè trong lớp, cũng là cách tuyên truyền lòng yêu nước. Tôi đã đọc và say mê tập thơ, đặc biệt bài “Vú em”, giống y cảnh chị vú nhà tôi. Má tôi mướn một chị vú chăm sóc em nhỏ, trông chị lúc nào cũng buồn buồn, tôi hỏi chị nói nhớ con nhỏ ở nhà. Nàng gởi con về nương xóm cũ, Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi. Tôi không hiểu sao nhà thơ lại có thể hiểu cảnh nhà tôi như vậy, có cái nhìn cảm thương sâu xa đến như vậy.
Hồi học trung học ở Long Xuyên, rồi lên học đại học ở Sài Gòn, tôi vẫn miệt mài viết văn. Tôi đọc nhiều, thấy người ta viết tôi cũng viết. Không hẳn tôi muốn nổi tiếng, chỉ muốn được đắm mình vào cuộc sống của tưởng tượng, cuộc sống thứ hai tôi có được khi đọc sách. Nhưng không truyện nào thành công, không báo nào đăng truyện của tôi. Tôi chỉ viết những điều tưởng tượng, cảm xúc vay mượn, không có cuộc sống thật, cảm xúc thật. Tôi không có điều kiện học tập, không được định hướng, không có môi trường bạn bè. Viết văn cũng là một nghề, nhưng tôi không có nền tảng cơ bản. Nhưng tôi không thất vọng. Tôi vẫn viết, ước muốn của tôi chỉ là được viết. Tôi thiếu vốn sống, thiếu ngôn từ, điều đó sau này tôi mới biết. Vào chiến khu, sống chan hòa với mọi người, có ngày tôi đi năm mươi cây số từ tỉnh này qua tỉnh khác, bao nhiêu điều tai nghe mắt thấy. Chỉ trong mấy năm tôi thấy mình khác hẳn, tuy đã rời nhà trường, rời sách vở bài giảng nhưng sự hiểu biết vẫn không ngừng được thu nhận, hiểu biết đời sống, hiểu biết con người, mối quan hệ bạn bè đồng đội ngày càng được thắt chặt. Nhưng tôi là “người chậm”, phải hơn nửa đời người tôi mới có thể thấy tự tin hơn, có thể viết ra cái của mình.
Ban tuyên huấn R có nhiều tiểu ban với các ngành nghề chuyên môn khác nhau: tuyên truyền, giáo dục, văn nghệ, đài phát thanh, thông tấn xã, đối ngoại… Mấy năm đó tôi vẫn ở tiểu ban tuyên truyền (phiên hiệu là B1), rồi qua tiểu ban giáo dục (phiên hiệu là B3). Phụ trách tiểu ban tuyên truyền là ông Tư Ốm, không biết tên thật là gì. Ở trong rừng thời đó phải giấu tên, sợ bị địch bắt, bị liên lụy tới gia đình ở quê, ở chợ. Người tập kết trở về hoặc miền Bắc vào cũng vậy, tránh bị địch nói là “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Tôi họ Dương cũng phải đổi sang họ Lê, họ mẹ. Ở tiểu ban tuyên truyền có các anh Cổ Tấn Long Châu, Trang Phượng, họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định, Sài Gòn. Gặp được tôi là học sinh Sài Gòn ra các anh mừng lắm, ôn lại những kỷ niệm về Sài Gòn, đường phố, các rạp chiếu phim, tài tử nào đóng phim nào. Ở trong rừng không vẽ vời gì, các anh kẻ bảng khẩu hiệu cho các cuộc hội nghị. Anh Long Châu khuyên tôi cũng nên như vậy, tìm một việc làm cụ thể, sinh viên chung chung không có ích gì đâu, sinh viên toán lại càng vô bổ. Thấy anh cầm cọ vẽ tôi nói tôi cũng biết dùng cọ, có thể giúp anh. Thật ra tôi có mấy năm học chữ Hán, dùng cọ để viết thư pháp, không phải để vẽ. Tôi làm hư của anh Long Châu mấy bảng khẩu hiệu, cây cọ không rửa sau khi dùng cũng hư luôn. Không làm được việc ở cơ quan tôi đi làm rẫy, như đã kể trên.
Về bên tiểu ban giáo dục (B3) tôi cũng chuyên đi xây cứ mới, đào giếng, cất nhà. Chúng tôi xây hội trường rất lớn, gọi là Trường giáo dục Tháng Tám. Tôi dự học khóa I, chuyên về triết học Mác – Lênin. Kiến thức khoa học giúp tôi rất nhiều, tôi hiểu tại sao công trình của Darwin quan trọng đến thế với triết học Mác. Học thuyết “Chọn lọc tự nhiên” được công bố, hai ông Mác và Ăng-ghen nói với nhau: “Chúng ta thắng rồi”. Tôi mượn hai cuốn sách dày cộm về đọc ngày đêm, thích thú đến từng chi tiết nhỏ, ví như vật chất chuyển biến từ vô cơ sang hữu cơ. Tính đúng đắn của học thuyết khoa học hiện đại đã thu hút tôi, tôi say mê như lúc đi làm rẫy, tải gạo, chèo ghe trên sông. Những năm đó, mọi chuyện đều mở ra trước mắt tôi những chân trời tươi sáng.
Sang khóa II của trường Giáo dục tháng Tám, năm 63, tôi làm giáo vụ lo việc sinh hoạt ăn ở của học viên. Khóa học này có một học viên tên Lê Thị Thiêng có số phận bi thảm kỳ lạ, tôi kể lại sau đây hầu bạn đọc.
Ông Huỳnh Văn Sáng người huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 63 đến năm 66 có nhiều trận đánh khốc liệt xảy ra chỗ ông, chính ông cũng tham gia, chôn cất nhiều chiến sĩ hy sinh trong phần đất mộ chí gia đình mình. Thế rồi không hiểu sao, sau giải phóng một số người có được giấy cấp đất chỗ đó, đến san lấp phân lô bán nền. Ông Bảy Sáng không quan tâm đến chuyện đất đai bị lấn chiếm, nhưng lo âu nhiều đến những hài cốt các chiến sĩ vô danh bị cày xới, ngày ngày ra đó đốt nhang khấn vái. Một hôm, trong lúc đang nhang khói ông chợt nhìn thấy một gói ni long trong mớ đất đai bị cào xới, mở ra coi thấy một quyển nhựt ký chữ viết nắn nót rất đẹp, có nói rõ “chuẩn bị đi dự lớp học sư phạm ở R”, có cả những tấm hình còn nguyên vẹn, rõ ràng của những người chết ông đã chôn cất. Ông Bảy Sáng vô cùng xúc động, quyết tâm tìm cách đưa quyển nhựt ký về với gia đình của tác giả. Nhưng tìm kiếm ở đâu, chỉ có tấm hình với chữ viết làm sao tìm được? Bắt đầu từ đó là những ngày tháng gian nan lặn lội, ông Bảy Sáng không từ bỏ chỗ nào, các báo đài, các cơ quan thương binh xã hội, những người biết về trường Giáo dục Tháng Tám “ở R”. Và rồi ông đã tìm được, sau 46 năm, đưa quyển nhựt ký về gia đình tác giả tại ấp Bà Béo, xã Mỹ Đức Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Trong câu chuyện có người hùng thứ hai, ngoài liệt sĩ Lê Thị Thiêng, là ông Huỳnh Văn Sáng, với tấm lòng yêu thương vô bờ bến của ông.
*
Tôi bắt đầu làm vài bài thơ, viết vài truyện đăng báo tường trong cơ quan. Tôi cũng viết một vở kịch nhỏ cho đội thanh niên cơ quan tập diễn dự ngày hội thanh niên toàn Ban. Ông Bùi Kinh Lăng một trong những người lãnh đạo tiểu ban văn nghệ, gọi là B2, ghé thăm trường, nghe nói về một thanh niên là học sinh Sài Gòn hoạt động văn nghệ năng nổ là tôi, đến gặp tôi hỏi chuyện, nói chỗ ông có mở một trại sáng tác văn học, tôi muốn viết lách thì xin dự. Nói như vậy là đã đồng ý, tôi mừng lắm, ba lô lên đường. Trại ở một cụm rừng gần Xóm Giữa, tên gọi là Lãng Bạc, một cái tên thơ mộng rất hợp với văn chương. Ông Trần Bạch Đằng tự mình đặt tên cho tất cả các tiểu ban và cơ quan liên quan. Ông cũng là nhà văn, rất thích truyện Tàu, những nhân vật anh hùng hảo hán. Ông tự đặt biệt danh ông là Yên Thế, hùm xám đất Bắc. Đó là trại sáng tác đông người và dài ngày nhứt, tập trung nhiều người viết văn ở đồng bằng Nam Bộ, miền Đông và cả khu Sáu. Anh Phan Minh Đạo ở tận miền Trung cũng về dự. Sài Gòn ra có các anh Trang Thế Hy, Thủy Thủ, Phan Lạc Tuyên. Phụ trách trại là nhà văn Nguyễn Văn Bổng, cũng là thủ trưởng tiểu ban, tên trong rừng là Tám Nhàn. Chúng tôi có những buổi sinh hoạt thú vị, đọc những tác phẩm kinh điển trong các tuyển tập, các tác phẩm của anh em trong trại, cùng nhau bình giảng, chủ yếu tìm ra cái hay cái giỏi của những người viết đi trước. Ông Nguyễn Văn Bổng kể chuyện nghề của ông và của những bạn văn ông quen biết: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ… Ở đó, lần đầu tiên tôi được đọc văn xuôi kháng chiến và miền Bắc. Tôi nhớ tác phẩm đầu tiên ông Bổng đọc cho chúng tôi nghe là bài ghi chép “Trong xà lim án chém” của Trần Đĩnh, tôi ngạc nhiên về một lối viết trong sáng, chừng mực, chỉ thấy chuyện kể, không thấy bóng tác giả.
Trại sáng tác chúng tôi có một người thật đặc biệt, nói theo bây giờ là một “hiện tượng”. Đó là ông Bảy Bừ, ngay đến tên cũng thật lạ. Theo ông Trang Thế Hy, người rất giỏi trong vốn từ địa phương, bừ là tiếng địa phương ít người biết, có cùng nghĩa với chữ nhửng, chỉ con nước đứng lại giữa lớn và ròng. Ông tuổi trung niên, quê Trà Vinh, dáng dấp nói năng rặt nông dân. Trại giao cho ông xấp giấy ông viết kín cả, chữ nhỏ rít, xiên xẹo, không chấm phết, không xuống dòng, đọc thật mệt nhưng từng câu chữ đầy hình tượng, nhân vật rõ nét, chuyện kể thú vị sinh động có thể sờ mó được. Trại sáng tác bế giảng, ông về địa phương rồi không còn nữa. Do ông viết lan man, thuở đó văn chương đòi hỏi phải có “chủ đề tư tưởng”, ban biên tập chỉ có thể trích một đoạn ngắn trong tập “Những ngày gian khổ”, đặt tên đoạn văn là “Con trăn và ông chủ ấp”, bút danh tác giả là Nghĩa Phương, đọc rất sinh động thú vị, bây giờ vẫn còn đâu đó trong các tuyển tập.
Anh Anh Đức cũng ở chung với chúng tôi trong trại sáng tác, nhưng không dự trại, đang hoàn tất tập truyện “Bức thư Cà Mau”, khởi thảo tiểu thuyết “Hòn Đất”. Anh có buổi nói chuyện kinh nghiệm viết văn với trại, kể chuyện anh viết “Một chuyện chép ở bịnh viện” như thế nào, chuyến đi miền Tây thu thập tư liệu ra sao. Tới năm đó anh vẫn chưa tới ba mươi, vậy mà đã có một sự nghiệp đáng kể: một tập truyện và một tiểu thuyết trong mấy năm hòa bình ở miền Bắc, một tập truyện và một tiểu thuyết đang khởi thảo trong mấy năm đầu về miền Nam. Anh và ông Nguyễn Văn Bổng là hai người thay nhau lãnh đạo tổ văn trong chiến khu chống Mỹ, kinh nghiệm và nhiệt tình của các anh đã giúp nhiều cho anh em viết văn chúng tôi trong rừng.
Sau ngày dự trại sáng tác, tôi đương nhiên thành người của văn nghệ, quảy ba lô về luôn cứ B2, chỗ ở bên bờ con suối Cây đẹp tuyệt vời. Con suối lớn, hai bên bờ cây cao bóng cả, gốc rễ xù xì. Đang mùa mưa nước chảy ầm ào tung bọt trắng xóa qua những tảng đá lô nhô giữa dòng. Cá nhiều vô số kể. Mấy năm trời chúng tôi sống nhờ con suối ấy, tai họa cũng từ đó. Con suối là chỗ máy bay địch dễ định vị. Năm 65, bác Trần Hữu Trang trúng bom B52 chết, năm sau thêm bốn nghệ sĩ sân khấu tài danh nữa bị vùi xác. Con suối có nguồn cá vô tận, cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho chúng tôi, cũng là đích dễ dàng cho bom B52.
Trong ban lãnh đạo ngoài ông Nguyễn Văn Bổng còn có anh Giang Nam, tác giả bài thơ “Quê hương”. Đó là về phía tiểu ban, nghĩa là của Đảng. Còn phía bên “Hội văn nghệ giải phóng”, tức của “Mặt trận dân tộc giải phóng”, bác Trần Hữu Trang làm chủ tịch, nhà văn Lý Văn Sâm làm tổng thư ký. Đó là danh nghĩa, chỉ để đối ngoại, tuy tôi thấy hai tên tuổi trên thật xứng đáng trong làng văn nghệ miền Nam. Tác giả Lý Văn Sâm là nhà văn hiếm có của miền Nam thường xuyên có mặt trong “Tiểu thuyết thứ bảy”. Nhà tôi có cả một tủ sách của Lý Văn Sâm do chú tôi để lại, tôi đọc không sót cuốn nào. Trần Hữu Trang là một tên tuổi lớn trong ngành sân khấu, “Đời cô Lựu” nổi danh một thời.
Tôi ở chung nhà với anh Giang Nam, làm thư ký đánh máy cho anh, nhà sát bên bờ suối. Dọc theo suối kế đó là nhà ông Nguyễn Văn Bổng. Nhạc sĩ Phan Miên ở phía trong một chút, là người đi săn cho cơ quan. Anh có tài bắn súng “bách phát bách trúng”. Chập tối, trước khi đi săn bao giờ anh cũng bảo chúng tôi nấu sẵn nồi cháo, thế nào cũng có con chồn, con cheo thả vào. Anh chuyên bắn súng các-bin. Một bữa anh kêu danh hài Sài Gòn Thiện Mỹ (anh ruột của danh hài Quốc Hòa) đi theo để xách xác thú. Khuya trở về anh kiểm lại đạn, nói: “Tao bắn sáu phát, sao mày chỉ xách về năm con cheo?”. Anh chưa hề bắn trật hồi nào. Hề Thiện Mỹ tuy miệng mồm lanh lợi nhưng tính nhát, sợ ma, ngại trở vào rừng một mình, nói: “Không đâu mà, anh bắn chết con cheo nào em lượm con đó. Bảo đảm trăm phần trăm”. Chiều hôm sau, người ta tìm thấy một con cheo chết thúi ngoài rừng. Trăm phần trăm là về phía anh Phan Miên, không phải của Thiện Mỹ!
Công việc ở tổ văn chúng tôi trong những năm ấy, ngoài việc sáng tác của từng người, còn làm tờ tạp chí “Văn nghệ giải phóng”, mấy số đầu tiên in “quai guốc”, kiểu in stencil, sau chuyển sang in “chữ chì” hiện đại, từ một nhà in không thể tưởng tượng được có ở trong rừng, tôi sẽ nói tới sau. Các anh Nguyễn Văn Bổng, Giang Nam thay nhau biên tập tờ tạp chí, tôi và anh Phan Thế Hy, tức nhà thơ Thanh Hoàng, lo việc thu thập bài vở, đánh máy, mi, đưa đi in. “Mồ anh hoa nở” của Thanh Hải, “Quê hương” của Giang Nam in trong những số đầu tiên ấy. Cũng trong những số đầu tiên đã in “Con thú tật nguyền” của Ngụy Ngữ, “Cửa hiệu bán văn chương” của Lê Tất Điều, những truyện ngắn tuyệt hay của những nhà văn ở Sài Gòn có xu hướng yêu nước, chống Mỹ. Truyện của anh Lê Tất Điều sau đó được đăng lại ở tuần báo Văn nghệ ở Hà Nội, và nghe nói đăng cả ở tạp chí văn học Nga của Liên Xô. Từ những năm đó các anh đã có cái nhìn cởi mở, đặt mua nhiều sách báo ờ Sài Gòn, chúng tôi thường xuyên được đọc tạp chí Sáng Tạo, Văn, Thế kỷ hai mươi… Văn học là của mọi người, cuộc chiến phải được miêu tả từ nhiều phía. Những người ở Sài Gòn, thậm chí trong cả quân đội địch, cũng có cách chống Mỹ theo cách của họ. Văn học cần phải lưu trữ những sáng tác ấy.
Anh Giang Nam quê ở Khánh Hòa, những năm đánh Pháp cũng hoạt động vùng ấy, là những người đầu tiên được triệu tập về R thành lập Hội văn nghệ giải phóng. Ở chung nhà, anh kể nhiều chuyện thời gian khổ ở miền Trung cho tôi nghe. Thời đánh Pháp đã gian khổ, thời hòa bình, đúng ra là thời đen tối, càng gian khổ hơn. Những người “Việt Minh nằm vùng” như anh, sau năm 54 phần lớn bị bắt, còn lại “nhảy núi”, trở lại chiến khu xưa. Nhưng lực lượng ít, do chủ trương “hòa bình” chỉ có trốn chui nhủi, đói cơm lạt muối, phải đốt cỏ tranh để lấy muối, ăn nhiều ớt để đánh lừa vị giác, đến giờ anh Giang Nam vẫn còn thói quen ăn cay. Anh kể khi về R được phát chiếc mùng vải trắng tinh anh coi như vật quí giá, không dám giăng ngủ, sợ bị cũ đi. Tôi thấy trong ba lô anh một bó những miếng vải nhỏ, lượm được đâu vải vụn anh đều cất giữ, dành vá quần áo, ruột tượng gạo.
Cũng năm đó cơ quan chúng tôi tiếp đoàn văn công Tây nguyên, nhờ dựng cho một số tiết mục ca múa nhạc, tôi không thấy các anh chị có mùng võng gì cả. Hỏi tối ngủ nghê làm sao, các anh chị đáp: thì ngồi dựa gốc cây ngủ thôi.
Đó là thời kỳ có nhiều cay đắng cho cách mạng, rất cần văn học miêu tả, nhưng ta có rất ít sách viết về thời kỳ đó.
Một hôm, tôi chứng kiến một chuyện lạ ở anh Giang Nam. Anh nhận được một bức thư từ miền Bắc, nói là thư của cô em gái bà con, báo tin cô đậu vào đại học. Trông vẻ anh mừng lắm. Những năm đó miền Bắc đối với chúng tôi không chỉ là hậu phương lớn, còn là niềm tin, hy vọng về một tương lai xã hội chủ nghĩa tốt đẹp. Đọc xong thư anh Giang Nam ngồi thẫn thờ một lúc, rồi ngồi vào bàn, lá thư cô em gái đặt trước mặt, chỉ trong buổi sáng anh làm xong bài thơ. Đó là bài Nghe tin em vào đại học, một bài thơ hay của anh, cũng là bài thơ hay của thơ ca Việt Nam. Cứ như anh Giang Nam “sao y” lá thư cô em gái thành bài thơ vậy.
Công lao có được tờ tạp chí Văn nghệ giải phóng, cũng như nhiều tờ báo khác của Ban tuyên huấn thời ấy, không thể không kể đến nhà in của Ban, gọi là B15, nguyên là nhà in của tỉnh Long An chuyển lên. Trước đó, tôi vào Long An dạy học có nghe nói về nhà in đó. Một nhà in typô hoành tráng nằm giữa đồng, thanh thiên bạch nhựt, nghi trang thành một cây rơm, người ra vô là những người cộ lúa, đánh rơm. Một sáng kiến lạ thường, hết sức liều lĩnh, chỉ có trong kháng chiến. Linh hồn của nhà in là anh Ba Cui, nhà in chuyển lên R anh ở lại, chỉ cần mình anh để thành lập nhà in mới.
Nhiều năm tôi đi in tạp chí Văn nghệ giải phóng, đứng nhìn say mê thợ sắp chữ trả chữ rộn ràng, máy in chạy rầm rập, hoàn toàn tự động với những dây chuyền dây nhợ, tờ giấy đưa vào đầu này đưa ra đầu kia, thợ chỉ cần xếp lại đóng xén. Bảo tàng cách mạng kháng chiến sau này, phần hiện vật ở R, tôi nghĩ máy in của nhà in B15 phải đưa lên hàng đầu.
Cuối năm 1963, có cuộc đảo chánh ở Sài Gòn, các phe phái giành quyền, chuyện nội bộ trong chính phủ của họ. Nhưng không hiểu sao ta lại cho là cơ hội, quân đội và các ban ngành kéo về Sài Gòn, đi ngày đi đêm, qui mô của một chiến dịch “thần tốc” cướp chánh quyền. Tới nơi mọi chuyện đã xong, không một tiếng súng, chúng tôi đã đến Đức Hòa – Long An, sát cạnh Sài Gòn, được lịnh quay trở về.
Chuyến đi đáng thất vọng với nhiều người, nhưng với tôi mở ra nhiều điều. Chỉ mới hơn năm từ ngày tôi rời Sài Gòn, giờ trở về cũng theo con đường này, nhưng lúc đi lúc về tôi đã thành người khác hẳn. Tôi đã trở nên dày dạn hơn, tự tin hơn, phụ trách một tổ năm người trên đường đi, báo cho mọi người trạm sắp tới sẽ ra sao, qua đồng Chó Ngáp thế nào. Tôi nhớ người giao liên năm trước, hái nắm rau om, mò tìm con cá. Cảnh cũ gợi tôi nhiều kỷ niệm, tưởng đã lâu lắm rồi. Ở trạm Đìa Gai tôi dẫn anh em đến đúng chòm cây nơi tôi giăng võng ngủ cách đó hơn năm. Đêm nằm ở Đức Hòa tôi tưởng tượng sẽ đi trên đường phố Sài Gòn, các cô nữ sinh trường Gia Long nhìn tôi ra sao. Chỉ là mộng mơ, nhưng rất cần cho những trang viết của tôi về sau.
Bận trở về không còn động cơ gì nữa chúng tôi đi thong thả hơn. Ngang đồng Tháp Mười, vùng Đức Huệ, do phải đợi chuyến giao liên, chúng tôi ở lại đó một ngày. Nhà cửa ở đây thưa thớt, nhìn ra bốn bên chỉ là đồng không mông quạnh. Buổi trưa, tôi tìm được một quán cóc uống ly nước, nhìn ra đồng. Trong ánh nắng nhảy múa, tôi nhìn thấy một chị phụ nữ hiện ra, tay bồng con, tay xách chiếc lồng gà. Trông vẻ chị đã đi xa đường lắm, mặt mày chao dao, hốc hác, đứa nhỏ trên tay mặt cũng đỏ lửng. Người trong quán nhìn ra ai cũng thấy tội nghiệp, bà chủ quán cám cảnh kêu chị vào pha cho ly nước, hỏi chuyện. Chị nói chị đi thăm chồng, chồng chị là bộ đội. Nói chị là người nhà quê, cả đời không ra khỏi xóm, tưởng hỏi thăm là biết chỗ của chồng thôi, đem theo con gà nấu cháo cho chồng ăn. Nào ngờ làng xóm rộng mênh mông, bộ đội trùng điệp, chị đi đã mấy ngày rồi, càng đi càng thấy bao la, mịt mùng…
Chuyện chỉ như vậy, nhưng tôi thấy cái gì đó thật chân thật, giản dị, mở ra trước mắt những trang viết cũng giản dị như vậy, không tô điểm, kể ra chính những điều tai nghe mắt thấy. Ít lâu sau tôi viết truyện đó, chỉ thêm chút đỉnh đoạn đường đi, qua nhiều làng xã nhiều trận càn, bom đạn, đồn bót, con gà lớn lên đẻ trứng, ấp nở con, bầy gà con lớn lên, đến khi gặp chúng tôi là cả một bầy gà. Chị vẫn cứ đi, với niềm tin rồi sẽ gặp được chồng. Truyện sau đó đã được đăng trên báo Nhân dân ở miền Bắc, tên là “Đi thăm chồng”. Nhiều người đọc khen hay, nhưng cũng có độc giả gởi thư tới tòa soạn đòi truy lý lịch tác giả, tôi là ai viết truyện phản động vậy, đang đánh giặc sao lại viết chuyện đi thăm chồng, lung lạc tinh thần bộ đội. Tôi không lấy làm lạ. Trong kháng chiến mục đích đánh thắng giặc là tối thượng, con người thường có cái nhìn khắc nghiệt với những tình cảm khác của con người. Mấy năm trước tôi có dịp sang Mỹ dự cuộc hội thảo về văn học trong chiến tranh Việt Nam, có buổi mọi người kể lại những truyện ngắn đầu tay của mình, tôi có kể truyện “Đi thăm chồng” đó, vì không có bản dịch, cũng không có thời giờ, tôi chỉ kể tóm tắt như đã nói trên. Có một nhà văn Mỹ đã nói: “Chính vì có những người phụ nữ như thế nên các anh đã thắng”.
Tôi có những năm tuổi ấu thơ ở đồng Tháp Mười. Trở về học tiểu học và trung học ở Long Xuyên, học đại học ở Sài Gòn. Rời Sài Gòn tôi lại băng qua đồng Tháp Mười để lên R. Hai năm sau tôi lại có chuyến đi về băng qua đồng Tháp Mười để về lại Sài Gòn. Buổi trưa gặp người phụ nữ đi thăm chồng, tôi nhìn ra đồng Tháp Mười, ký ức sống lại. Tôi biết cánh đồng sẽ không rời tôi ra nữa, trong hiện tại cũng như trong tâm tưởng. Tôi dễ dàng hình dung cánh đồng mênh mông cô quạnh, không thấy đâu là chân trời, buổi trưa nắng chói chang, những căn nhà những ngôi mả đá ong nằm im lìm trong nắng. Tối đến cánh đồng thức dậy, những căn nhà những ngôi mả đá ong cũng thức dậy, những tiếng cú những ánh nhá đèn ám hiệu, xuồng ghe băng đi trong đêm, vũ khí chuyển từ rừng xuống đồng bằng, đồng Tháp Mười là con đường huyết mạch. Tôi sẽ viết một truyện về đồng Tháp Mười, nhân vật chính là hai vợ chồng dân công chuyển vũ khí với đứa con nhỏ bị cột chân vào cây cột để khỏi bị rớt té xuống nước. Nhưng nhân vật khác lớn hơn chính là đồng Tháp Mười bao la lặng lẽ bên ngoài, rộn ràng sôi sục về đêm, cánh đồng hàng ngàn năm vẫn một màu đơn sơ bình dị…
Mấy năm sau tôi viết truyện ngắn “Đêm Tháp Mười” với nội dung như thế.
(còn tiếp)
Nguồn: Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm. Hồi ký của Lê Văn Thảo. Bản thảo tác giả gửi nhà văn Triệu Xuân tháng 3-2016.
www.trieuxuan.info
|