tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
15.01.2017
Bùi Ngọc Long
Nơi an nghỉ 9 Chúa 2 Vua/ Vua Gia Long xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa



Với thế đất đặc biệt, vùng phía tây, tây nam kinh thành Huế thuộc địa bàn xã Hương Thọ (TX.Hương Trà, Thừa Thiên-Huế) đã được chọn là nơi an táng 9 vị chúa cùng 2 vị vua triều Nguyễn.


Địa bàn xã Hương Thọ ở bờ bắc thượng nguồn sông Hương, ranh giới được phân định từ núi Ngọc Trản (xưa kia có tên Hương Uyển Sơn), nơi có điện Hòn Chén, tên chữ là điện Huệ Nam (làng Cư Chánh), lên tới làng Định Môn, nơi có lăng vua Gia Long. Đây là vùng đất nằm ngay ngã ba hai nhánh sông Tả Trạch và Hữu Trạch của sông Hương hội lưu, tạo nên một vùng sơn thủy hữu tình, núi non thanh tú.


Theo sử sách triều Nguyễn, vào năm 1814, sau khi Thừa Thiên Cao hoàng hậu, vợ chính của vua Gia Long mất, nhà vua liền bàn với các đình thần tìm đất để xây dựng lăng mộ cho vợ, đồng thời cũng là nơi yên nghỉ của mình sau này. Vua Gia Long đã đặc cách vị đại thần là Lê Duy Thanh (con trai của nhà bác học Lê Quý Đôn), là người rất giỏi và am hiểu địa lý thời bấy giờ, phụ trách việc tầm long điểm huyệt.


Sau khi lặn lội khắp vùng núi non sông nước của Thừa Thiên -Huế, cuối cùng Lê Duy Thanh cũng trở về chọn cuộc đất tại làng Định Môn (xã Hương Thọ ngày nay). Sử sách cũng kể rằng, sau khi tìm được cuộc đất này, Lê Duy Thanh đã cho bốc dịch tới 7 lần để hỏi xem khí đất cát hung, cuối cùng tìm được một vị trí tốt nhất là vùng núi Thọ Sơn có 5 triền uốn khúc như rồng cuộn từ dưới vươn lên, có 34 ngọn núi cao thấp chầu về, rải đều hai bên với 14 ngọn bên phải, 14 ngọn bên trái và 6 ngọn che chở hầu cận đằng sau.


Thế nhưng, khi vua Gia Long đích thân cưỡi voi đến xem, ông đã chọn cho mình một huyệt địa nằm vị trí khác, cách đó không xa, cũng trong vùng núi Thọ Sơn. Nhà vua cùng Lê Duy Thanh gieo quẻ, rồi vua quở trách Lê Duy Thanh rằng: “Xét về long mạch và cuộc đất cát tường thuận theo cung mệnh đế vương thì nơi đây mới hợp, lẽ nào khanh không biết mà lại chọn cho trẫm một nơi không thuận hợp như trước kia. Hay là khanh đã biết mà muốn dành để cải táng hài cốt của cha ông mình vào đó?”.


Sau đó, nhà vua còn sai thái tử Đảm (tức vua Minh Mạng sau này) gieo quẻ lần nữa, rồi giao thượng thư bộ Lễ là Nguyễn Hữu Thân giải đoán với kết quả: “Giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát” (vững như thạch, không cần chờ đến ngày, chính bền, tốt). Vì vậy, thượng thư bèn trình lên vua Gia Long đề nghị chọn cuộc đất đó xây lăng.


Theo nhận xét của các nhà phong thủy, cuộc đất lăng vua Gia Long chọn rất đẹp, có Long nhập thủ từ phương Cấn đến, tả có Thanh Long, hữu có Bạch Hổ bao bọc, trước mặt có một hồ lớn làm minh đường với phương thủy tụ là Khôn sơn. Phía bên kia hồ lại có ngọn núi Thiên Thọ làm tiền án, nước chảy tới minh đường rồi uốn lượn mà chảy tiêu ở thủy khẩu Tuất phương.


Cùng với vua Gia Long, vua Minh Mạng (1791 - 1841) cũng chọn nơi yên nghỉ của mình nằm gần ngã ba sông Hương, thuộc thôn La Khê, xã Hương Thọ.


Theo TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, cùng với phong thủy đặc biệt của lăng Gia Long, lăng mộ các chúa tại Hương Thọ cũng đều có vị trí rất lý tưởng và hoàn toàn tuân thủ các quy tắc về phong thủy địa lý. Cụ thể, các lăng mộ đều tọa lạc trên đồi cao, có núi dựa lưng, trước mặt đều có hồ nước, khe suối hoặc đồng ruộng làm “tụ thủy”. “Minh đường” của lăng thoáng rộng và có bình phong là núi tự nhiên che chắn. Hai bên đều có núi chầu về làm thế “tay ngai” (Tả Long, Hữu Hổ)…


“Khác với lăng và các công trình kiến trúc thời vua Nguyễn, lăng các chúa Nguyễn có hướng rất phong phú, không tuân theo nguyên tắc “Nam diện” (xoay mặt về hướng nam). Đây là một điều lý thú đối với những ai muốn tìm hiểu phong thủy thời Nguyễn”, TS Phan Thanh Hải nhận xét. Theo TS Hải, quy mô, cấu trúc lăng các chúa Nguyễn cơ bản tương tự như nhau. Các lăng đều phân bố ở phía tây, tây nam kinh thành, dọc hai bờ sông Hương. Mỗi lăng đều có 2 lớp tường thành hình chữ nhật bao bọc, xây bằng đá núi, gạch vồ; trước mặt và sau lưng đều có bình phong xây gạch đá che chắn; bình phong sau bao giờ cũng gắn liền với lớp thành ngoài; bình phong trước thì dựng độc lập. Nấm mộ (gọi là Bảo phong) xây hình khối chữ nhật, giật 2 - 3 cấp; trước mặt Bảo phong có án bằng đá hoặc xây gạch. “Sự giống nhau này cũng dễ hiểu vì tất cả các lăng trên đều được tái xây dựng và tu bổ trong các thời điểm gần nhau, cụ thể được trùng kiến đầu thời Gia Long (trong hai năm 1808 - 1809), tu sửa năm Minh Mạng 21 (1840) và đầu thời Thiệu Trị (1841)”, TS Phan Thanh Hải cho biết.


9 lăng chúa Nguyễn đã được các vua nhà Nguyễn cho dời từ vị trí khác đến vùng đất này gồm: lăng Trường Cơ (lăng Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế - Nguyễn Hoàng), lăng Trường Diễn (lăng của Hy Tôn Hiếu Văn hoàng đế - Nguyễn Phúc Nguyên), lăng Trường Diên (lăng của Thần Tôn Hiếu Chiêu hoàng đế Nguyễn Phúc Lan), lăng Trường Hưng (lăng của Thái Tôn Hiếu Triết hoàng đế Nguyễn Phúc Tần), lăng Trường Mậu (lăng của Anh Tôn Hiếu Nghĩa hoàng đế Nguyễn Phúc Thái, lăng Trường Thanh (lăng của Hiển Tôn Hiếu Minh hoàng đế Nguyễn Phúc Chu), lăng Trường Phong (lăng của Túc Tôn Hiếu Ninh hoàng đế Nguyễn Phúc Chú), lăng Trường Thái (lăng của Thế Tôn Hiếu Vũ hoàng đế Nguyễn Phúc Khoát), lăng Trường Thiệu (lăng của Duệ Tôn Hiếu Định hoàng đế Nguyễn Phúc Thuần).


Vua Gia Long xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa


Hội thảo Chủ quyền biển đảo VN trong lịch sử, do Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên-Huế tổ chức sáng 12.12.2016 tại TP.Huế, đã thu hút 27 báo cáo tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử, biển đảo trong cả nước.


Trong đó có các tác giả chuyên nghiên cứu về chủ quyền biển đảo như TS Nguyễn Nhã, TS Trần Đức Anh Sơn, GS-TS Nguyễn Quang Ngọc - Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, Viện trưởng Viện VN học và khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội ...


TS Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội TP.Đà Nẵng, công bố 9 tài liệu của phương Tây, ghi chép về sự kiện vua Gia Long xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Cụ thể, Hồi ký Le mesmoire sur la Cochinchine (tiếng Pháp) của Jean Baptiste Chaigneau, một sĩ quan người Pháp, sau đó trở thành cận thần của triều Gia Long, xuất bản tại Paris năm 1820, viết: “Vương quốc Cochinchine (tên người phương Tây gọi VN lúc đó) mà vị vua hiện nay (Gia Long) tuyên xưng hoàng đế gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc Cao Miên, một vài đảo có dân cư ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel (quần đảo Hoàng Sa) hợp thành từ những đảo nhỏ, bãi ngầm và mỏm đá không có người ở. Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế mới chiếm hữu hòn đảo này”.


Trong tập san Journal of an Embassy from the Governor - Ganeral of India to the Courts of Siam and Cochinchina (tiếng Anh) do John Crawfurd biên soạn, xuất bản tại London (Anh) năm 1830, có đoạn viết: “Năm 1816, vua Cochinchina đã chiếm một phần đảo không có người và hiểm trở bao gồm nhiều đá, đảo nhỏ, bãi cát... gọi là Paracels. Theo đó, nhà vua tuyên bố quần đảo này thuộc chủ quyền nước này mà hầu như sẽ không bị tranh chấp”.


Sách Die Erdkunde von Asien (tiếng Đức) của Carl Ritter, xuất bản tại Berlin (Đức) năm 1834, cũng đã miêu tả các đảo thuộc vương quốc Cochinchina, trong đó có Paracel như sau: “Những đảo nhỏ đầy cát và rong này vốn được hoàng đế Cochinchina tuyên bố chủ quyền từ năm 1816 và không gặp bất kỳ sự phản đối nào của các nước lân bang”...


Theo ông Sơn, sự kiện này trong sử sách triều Nguyễn, tuy được ghi chép khá mờ nhạt nhưng vẫn được thể hiện. Đại Nam thực lục - Chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, có chép: “Vào năm Gia Long thứ 15 (1816) nhà vua lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình”.


“Những tài liệu trên đã khẳng định một sự kiện trọng đại, vào năm 1816, vua Gia Long đã (sai người) cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố chủ quyền quần đảo này thuộc về lãnh thổ VN mà không gặp phải bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào. Xét ở góc độ pháp lý hiện nay, sự kiện này rất có ý nghĩa đối với vấn đề xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa nói riêng và lịch sử xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo VN nói chung”, TS Trần Đức Anh Sơn nói.


Bùi Ngọc Long


thanhnien.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »