KIẾN THỨC VÀ KIẾN GIẢI
“Kiến thức” là những điều trông thấy và hiểu biết do từng trải và học tập mà thu được. Thí dụ: Ông ta có kiến thức sâu rộng (connaissances). “Sơ phát kiến thức” là những kiến thức đầu, lý tính nhận thức” là connaissances rationnelles, còn ultimes connaissances là “tối chung kiến thức”.
“Kiến giải” là ý kiến hiểu biết đối với một vấn đề gì, nói một cách khác, kiến giải có một ý nghĩa hẹp hơn kiến thức.
Thí dụ: Những nhân vật trong truyện cổ tích có thực không? Hành động của họ có thực không? Về vấn đề này, có những kiến giải khác nhau.
CÔNG TY HỢP DOANH HAY CÔNG TƯ HỢP DOANH
“Công tư hợp doanh” là một hình thức kinh doanh hợp tác giữa tư nhân và Nhà nước, (cũng như từ “lao tư lưỡng lợi”, có ý nói cả lao động lẫn tư bản đều có lợi).
“Công tư hợp doanh” là tổ chức thương mại hay sản xuất rất có lợi. Đa số tư nhân có thể có tiền nhưng thường thiếu nguồn tiếp tế về nguyên liệu và không thấu triệt được nhu cầu cung cấp trong nước, trong lúc Nhà nước cũng thiếu: Thiếu vốn, thiếu cán bộ kinh doanh và thiếu thị trường, do đó, sự hợp tác giữa những người có vốn trong nước và chính phủ để cùng khắc phục những nhược điểm, đẩy mạnh sản xuất tiến lên là điều rất cần thiết để phục hưng nền kinh tế chung.
Để cho người nước ngoài tự do kinh doanh theo chủ trương mở rộng đầu tư của Nhà nước (tất nhiên họ phải tuân theo nguyên tắc đã quy định) là một điều cũng tốt, nhất là trong hoàn cảnh một nước còn chưa được mở mang, nhưng không bao giờ nên để cho thành phần “đầu tư” ấy lũng đoạn thành phần “công tư hợp doanh”.
Ở nước ta đã có nhiều xí nghiệp công tư hợp doanh được thành lập, song số ấy xét ra còn quá ít, so với mọi hoạt động kinh tế nói chung.
Có người không hiểu hình thức Công Tư Hợp Doanh kê chệch ra là “Công Ty Hợp Doanh”. Công ty là một hình thức “hợp doanh” nói công ty hợp doanh thì thừa nghĩa mà không định được nội dung.
BẢN CHẤT, BẢN NĂNG, BẢN LĨNH
Có nhiều người nói và viết, thường lẫn lộn “bản chất”, “bản năng” và “bản lĩnh”. Họ nói “Người Việt Nam bản năng thực thà” hay “Người Việt Nam đều có bản lĩnh đáng để cho người Mỹ khâm phục”. Nói như thế là chưa thật đúng vì ba chữ “bản lĩnh”, “bản năng” và “bản chất” hoàn toàn có ý nghĩa khác nhau.
Bản chất là chất đặc biệt vốn có ở mỗi người, sự vật để thành những nét đặc biệt của người hay vật ấy. Ví dụ ta nói: “Anh ấy bản chất nóng nảy” là ý nói anh ấy do vấn đề cấu tạo sinh lý sao đó (gan, mật, thần kinh v.v…) nên tính tình thường xuyên nóng nảy, khác hẳn những người khác.
Bản năng (cũng còn gọi là thiên năng) là tính tự nhiên, không cần phải học tập mà cũng không phải do ảnh hưởng mà có. Thí dụ: Bơi lội là bản năng của loài cá. Bản năng của loài người là mới đẻ ra đã biết bú, đến tuổi cập kê thì tự nhiên biết tình ái, yêu đương…
Còn bản lĩnh thì có nghĩa là tài lực, kỹ năng. Bản lĩnh không thể tự nhiên mà có, nhưng có được là nhờ trí thông minh và sự điêu luyện, học tập. Nói rằng toàn thể người Việt Nam đều có bản lĩnh cao, đáng để cho người Mỹ khâm phục là chưa thật chính xác vì, nước nào cũng chỉ có một số người có bản lĩnh cao thôi, chớ không thể là vấn đề của toàn thể nhân dân được.
PHẢN CHỦ ĐẦU TRÂU
Không phải chỉ người Bắc mới nói “trại” (chệch) như tôi đã nêu thí dụ ở đầu cuốn sách này. Người Trung, người Nam cũng có thể nói trại như người Bắc.
Ở Bắc, những thành ngữ như “Bồ dục chấm nước cáy” đã biến thành “dùi đục chấm nước cáy”.
Ở trong Nam, tại các vùng quê, chúng tôi thấy có một số người hay nói “phản chủ đầu trâu”. Họ nói “phản chủ đầu trâu” để chỉ những hạng người xấu xa, phản bội, đáng khinh bỉ.
Nhưng tại sao lại “phản chủ đầu trâu”.
Nguyên văn ở chữ “phản Trụ đầu Châu”, vốn để chỉ bọn quần thần nhà Trụ ngày xưa, khi nhà Trụ đổ, quay sang phù tá nhà Châu, gồm có bọn Khâu Khôi, Bạch Phong v.v…
Đứng về mặt lịch sử hồi đó, nhà Châu đã có nhiều công trạng trong vấn đề thu tóm Trung Hoa, phục hồi chính nghĩa và nhân tính, cho nên đứng về mặt thực tế, quan quân nhà Trụ hướng về nhà Châu khá nhiều. Đó cũng là một lẽ rất tự nhiên trong quy luật phát triển xã hội.
Song đối với một sĩ phu mang nặng triết lý “trung thần bất sự nhị quân” thì đó lại là một điều “bất khả”.
Vì thế các sĩ phu này cho bọn Khôi Phong là những người không xứng đáng, là những người “phản Trụ đầu Châu”.
Từ “phản Trụ đầu Châu” đến “phản chủ đầu trâu” trong lòng người dân, trước sau cũng chỉ là một nội dung ý nghĩa, song vì sự truyền khẩu trong dân gian dần dần đã làm sai lệch đi mà thôi.
Có lẽ đồng bào ta coi bọn “phản Trụ đầu Châu” hay “phản chủ đầu trâu” đều xấu cả, đều là bọn đầu trâu mặt ngựa cả, nên thấy thành ngữ “phản chủ đầu trâu” cũng chẳng có gì sai trái - mà nó lại có ý nghĩa Việt Nam hơn! - nên cứ vậy mà truyền lan mãi chăng?
TRƯNG DỤNG, TRƯNG THU, TRƯNG TẬP, TRƯNG BINH, TRƯNG CẦU
Trưng là bày ra. Trưng bày là bày ra cho người ta coi. Thí dụ: Trưng bày các võ khí cướp được của địch.
Trưng cầu không có nghĩa là bày ra nhưng tìm cách để biết ý kiến của số đông. Thí dụ: Nhà báo mở một cuộc trưng cầu ý kiến độc giả để xem có nên thêm mục mới hay không.
Về chính trị “trưng cầu dân ý” là tìm biện pháp để hỏi ý kiến nhân dân, để cho nhân dân tự ý bỏ phiếu quyết định một vấn đề gì. Thí dụ: Phải làm ngay một cuộc trưng cầu dân ý để tìm biết dân muốn hòa hay chiến.
Về bốn chữ “trưng tập”, “trưng dụng”, “trưng thu”, “trưng binh”, đại đa số chúng ta thường hay dùng lộn xộn.
Chữ “trưng tập” chỉ nên dùng vào việc tập trung tài sản của tư nhân để dùng vào việc công. Thí dụ: Ngay khi bắt đầu tác chiến, chính phủ đã tính ngay tới việc trưng tập xe cộ lại để dùng vào công việc tiếp kế. Chữ “trưng thu” cũng có nghĩa là thu tài sản lại như trưng tập.
Nhưng “trưng dụng” thì có nghĩa rộng lớn hơn. Trưng dụng thường dùng để nói về việc cơ quan chính quyền sử dụng nhà máy, nhà cửa, nhà băng… của tư nhân để dùng vào việc công. Thí dụ: Vùng đó thuộc quân sư, chính phủ phải trưng dụng hết nhà cửa và trả tiền cho các chủ nhà.
Chữ “trưng binh” thì chỉ dùng vào một công tác nhất định về quân sự. Trưng binh là gọi những người có nghĩa vụ đầu quân vào bộ đội.
Ngoài mấy từ trên ra, còn “trưng mua” mà chúng ta ít khi dùng tới. Trưng mua là buộc tư nhân phải bán vật gì cho chính phủ để dùng vào việc công (như trưng dụng). Thí dụ: Trưng mua ruộng đất.
HẬU BỊ, HẬU CẦN
Nhiều người đọc báo không hiểu chữ “hậu cần”. “Hậu cần” cũng như chữ hậu phương, thường dùng trong lúc kháng chiến (chống Pháp, chống Mỹ) có ý nghĩa là miền ở sau mặt trận, nhưng hậu cần có ý nghĩa là công việc (cần lao) ở hậu phương, nhằm phục vụ quân đội ở tiền tuyết như việc tăng gia sản xuất, chế tạo võ khí, cung cấp quân nhu v.v… Thí dụ: Ngoài tiền tuyến binh sĩ đánh nhau với địch, nhưng ở hậu phương công việc của người dân cũng quan trọng và có ích lợi không kém.
“Hậu bị” (ít được dùng) là để dùng về sau, để bổ sung. Thí dụ: Trong khi các chiến sĩ đánh nhau, bộ quốc phòng vẫn phải lo trưng binh và huấn luyện tân binh để làm một lực lượng hậu bị. Quân hậu bị, do đó, có nghĩa là quân dự trù, có khả năng tác chiến, nhưng chưa ra ngoài mặt trận.
Hậu đội khác hẳn với hậu bị. “Hậu đội” là đội quân đi sau để tiếp ứng hay hộ vệ quân chủ lực.
ĐÃI NGỘ
Có người dùng chữ “đãi ngộ” trong một câu văn như thế này: “Chúng tôi phàn nàn thái độ của người ấy đối với anh vì sự đãi ngộ không xứng đáng”.
Dùng như thế hơi sai vì trong chữ “đãi ngộ” phải hiểu là tử tế rồi. Chỉ một chữ “đãi” không, còn có thể ngờ là đài tồi tàn, không tử tế, (nó đãi tôi không ra gì), nhưng “đãi ngộ” thì có nghĩa là đối đãi, cư xử tử tế.
Chữ “đãi ngộ” hàm cái ý tử tế chân thành, không giống chữ “đãi bôi” có nghĩa là đối xử tử tế ngoài mặt, nhưng có vẻ giả dối ở bên trong. Thí dụ: Ăn nói đãi bôi cho xong miếng xôi, trôi miếng thịt. Hay: Ồ, anh ta tử tế gì, mời mình đãi bôi đấy thôi, chớ nó ngán mình muốn chết!
CỔ HỦ, CỔ GIẢ, CỔ ĐIỂN
Nói về các nhà văn tiền chiến, có người viết trên một tập san chê các nhà văn tiền chiến là “cổ điển”. Qua chữ cổ điển họ muốn nói rằng văn chương, tư tưởng, của các nhà văn tiền chiến “hủ lậu”, “cổ hủ”. Thật ra “cổ điển” không bao giờ có nghĩa là cổ hủ, cổ giả.
“Cổ giả” là người xưa cũ, người nhà quê. “Cổ hủ” là hủ lậu, quê mùa. Chữ “cổ điển” không bao giờ có nghĩa là quê mùa cả. Cổ điển là danh từ để chỉ những tác phẩm nghệ thuật của cổ đại Hy Lạp và La Mã. Nới rộng nghĩa ra, cổ điển dùng để chỉ chung những tác phẩm hay nhất của trào lưu nghệ thuật một thời đại được công nhận là mẫu mực. Thí dụ: Đến bây giờ các trường vẫn còn học văn học cổ điển Pháp. Hay: Báo Tri Tân có cái công dịch nhiều sách cổ điển của Việt Nam bằng chữ Hán ra chữ Việt.
“Chủ nghĩa cổ điển” là quan niệm và trào lưu nghệ thuật thịnh hành ở Âu châu hồi thế kỷ 17 và 18, chú trọng phục hồi tinh thần và hình thức cổ đại Hy Lạp và La Mã.
TỪ KHUYNH TẢ, KHUYNH HỮU, ĐẾN KHUYNH LOÁT VÀ KHUYNH ĐẢO
“Tả khuynh”, “hữu khuynh” nghĩa là có xu hướng, chủ trương, hành động nghiêng về hữu hay về tả. Thí dụ: Tư tưởng tả khuynh không thích hợp với trình độ quần chúng lúc này vì nó quá mạnh.
“Khuynh” ở đây có nghĩa là thiên về phía, nghiêng về phía… nhưng trong từ “khuynh đảo” thì không có nghĩa như thế mà làm cho sụp đổ. Thí dụ: Bọn tay sai của ngoại quốc, đến lúc chợ chiều, khuynh đảo lẫn nhau chung quy chỉ vì chuyện tiền nong phân chia không đều.
Chữ “khuynh loát” có ý nghĩa mạnh hơn khuynh đảo. Khuynh loát là hất cẳng người khác vì ghen ghét. Thí dụ: Các nhà trí thức học xong ở ngoại quốc rồi không chịu về nước vì một số người ăn bám chế độ tìm các cách để khuynh loát những người tài đức…
CHIẾN TRANH, CHIẾN THUẬT, CHIẾN LƯỢC
“Chiến tranh” là từ chung để nói về tình trạng xung đột bằng võ lực trong một nước. Thí dụ: Nước ta, sau hơn ba chục năm chiến tranh, nhưng dân chúng vẫn kiên trì chịu đựng để kiện toàn nền độc lập đất nước.
Chiến tranh chia ra làm hai loại:
1) “Chiến tranh lạnh” tức là chiến tranh bằng chính trị, kinh tế và ngoại giao.
2) “Chiến tranh nóng” là chiến tranh bằng võ khí và bom đạn.
“Chiến tranh tâm lý” (hay chiến tranh cân não) là thủ đoạn, mưu mẹo có tính cách bịp bợm, dọa dẫm để gây hoang mang trong hàng ngũ đối phương. Thí dụ: Kẻ thù hay tung tin đồn nhảm đó là một đòn chiến tranh cân não.
“Chiến trận” là cuộc giao chiến chính thức giữa hai quân đối địch ở chiến trường tức là khu vực diễn ra chiến tranh.
“Chiến tuyến” là mặt trận. Thí dụ: Chiến tuyến quân sự, chiến tuyến văn hóa.
Cũng thuộc về chiến tranh, còn từ “chiến công” tức là công lao lập được trong chiến tranh; “chiến cụ” tức là vũ khí; “chiến cuộc” tức là tình hình chiến tranh; “chiến dịch” là các trận đánh có quan hệ với nhau trên một mặt trận, trong một thời gian (thí dụ chiến dịch Điện Biên Phủ); “chiến khu” tức là khu vực chiến tranh (chiến khu Năm); “chiến lũy”, thành xây để chống giặc; “chiến hào” là đường hầm để quân đội núp mà bắn quân địch; “chiến lợi phẩm” là những đồ vật thu được của địch… nhưng có hai từ cũng về chiến tranh mà đến nay vẫn có người dùng lầm là “chiến thuật” và “chiến lược”.
“Chiến lược” là kế hoạch đặt ra nhằm thắng quân địch trên một hay nhiều mặt trận. Thí dụ: Chiến lược đánh lâu dài để làm cho địch nản chí; những quân đội xâm lăng không chịu được những chiến lược lâu dài. Ngoại trừ phạm vi chiến tranh, từ “chiến lược” còn dùng để chỉ một phương pháp tiến công của một giai cấp trong một thời kỳ, chú trọng xếp đặt lực lượng của mình và đối phương của mình nhằm chiến thắng.
“Chiến thuật” khác chiến lược. “Chiến thuật” chỉ là một bộ phận chiến lược rộng lớn, gồm những kế hoạch tổ chức để thực hiện và thủ thắng cho chiến lược. Thí dụ: Địch quá nhiều mà lại có võ khí tối tân, nếu ta đánh chúng thì khó thắng, vậy phải dùng chiến thuật du kích là hơn. Chữ “chiến thuật” còn có nghĩa là bộ phận của chiến lược, gồm những phương pháp, hình thức, tổ chức và khẩu hiệu đấu tranh để thực hiện chiến lược. Thí dụ: Muốn chiến thắng địch, ta phải áp dụng chiến thuật cách mạng, không sơ hở một kẽ nào để cho địch có thể phản công.
Cuối cùng, cũng nên ghi thêm rằng “chiến lợi phẩm” khác với “chiến phẩm”. Chiến lợi phẩm, như trên đã nói, là đồ vật thu được của địch trên chiến trường. Chiến phẩm, khác thế, dùng để chỉ tất cả những phẩm vật dùng vào chiến tranh như lương thực, y phục, thuốc men v.v…
THẾ NÀO LÀ “DANH MỤC SỞ ĐẮC” VÀ “THỰC CHẤT SỞ ĐẮC”?
Trong sách vở kinh tế, hay nói “Danh mục sở đắc” để chỉ cái phần được hưởng ghi trên sổ sách. Thí dụ: Một người thợ lương tháng được 120.000đ. Số tiền 120.000đ ấy là số tiền “danh mục sở đắc” của anh ta.
Đối lại với “danh mục sở đắc” là “thực chất sở đắc”. “Thực chất sở đắc” là phần được hưởng thực sự.
Thí dụ: Nếu đồng lương của anh ta chỉ có thế thôi, nhưng giá sinh hoạt rẻ, anh ta có thể mua được nhiều gà, nhiều thịt, nhiều gạo, thì cái “thực chất sở đắc” của anh cao. Ngược lại thì anh bị thiếu thốn cực khổ.
Cho nên đứng về mặt kinh tế mà xét, không chỉ có thể căn cứ vào tiền lương nhiều hay ít, mà phải căn cứ vào giá trị của đồng tiền ấy cao hay thấp nghĩa là phải căn cứ vào “thực chất sở đắc” chứ không nên căn cứ vào “danh mục sở đắc”.
THIỀN QUYÊN HAY THUYỀN QUYÊN?
Thường thường ta nói “thuyền quên” để chỉ người con gái đẹp, lanh lợi, tháo vát.
Nói như vậy là nói trại.
Trong ngôn ngữ Việt Nam, có khá nhiều tiến nói trại như vậy, nghe mãi cũng quen tai, như “tông giáo” nói quen thành “tôn giáo”, “bổ tử” thành bố tử (áo bố tử con cò) v.v…
“Thiền quyên” là một tính từ để chỉ người hay vật xinh đẹp. Thí dụ: Hoa thiền quyên, trăng thiền quyên.
Người con gái đẹp vì thế mà được gọi là “gái thiền quyên”.
Chú ý: Chữ “thiền” đây không phải có nghĩa là thiền = nhà chùa (như cửa thiền hay thiền sư). Trong chữ Hán, sự phân biệt các chữ thiền với các nghĩa khác nhau bằng các “bộ” đứng bên cạnh nó.
Thiền = chùa, bộ y trước chữ Đan.
Thiền = đẹp, bộ nữ trước chữ Đan.
CÁCH MẠNG HAY CÁCH MỆNH
Nói “cách mạng” hay “cách mệnh” đều được cả.
Chỉ có điều nên biết: Cách mạng là gì? Theo nghĩa đen của danh từ, cách mạng là sự hủy bỏ hay đổi đời (cách) của một vật thể (mệnh).
Có người nói “cách mệnh” là từ rút ngắn của “cách thiên chi mệnh” (thay đổi mệnh trời), ý muốn nói sự vùng dậy táo bạo. Định nghĩa ấy không đúng.
Về mặt xã hội, hiện nay người ta thường dùng từ “cách mệnh” để chỉ những việc thay đổi lớn lao có tính chất đột biến (chứ không phải từ từ) của một trạng thái lạc hậu chuyển qua một trạng thái tiến bộ về chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa.
Muốn biết thực chất của một sự biến có thực sự cách mạng hay không, ta phải xét xem, so với trước, nó có sự thay đổi thực sự tiến bộ hay không.
Thí dụ: Kết quả của một cuộc vận động cách mạng chống độc tài, chống áp bức, không kỳ thị tôn giáo chẳng hạn, phải là cuộc vận động thực sự dân chủ, với đầy đủ những thể chế, luật pháp dân chủ bảo đảm, trong đó mọi quyền hạn về sinh sống được coi trọng, không còn có sự phân biệt đối xử về tín ngưỡng hay tôn giáo v.v…
Nếu không có những thay đổi căn bản ấy thì không thể coi đó là một cuộc cách mạng.
Ngược lại, nếu tình hình càng trở nên đen tối hơn, quyền dân chủ càng bị bóp chẹt hơn, thì đó chính là một cuộc vận động cách mạng (chớ không phải cách mạng thật sự).
Tóm lại, cách mạng là cuộc thay đổi tận cội gốc những quan niệm và hình thức cũ để tiến tới một tổ chức mới, nhằm cải thiện đời sống của quần chúng. Sau mỗi cuộc cách mạng, con người phải dễ thở hơn, sung sướng hơn.
Theo quy luật tự nhiên của sự phát triển xã hội, loài người cứ phải mỗi ngày mỗi tiến, thì cứ sau một thời gian nhất định (dài ngắn tùy theo trình độ tiến nhanh, tiến chậm của mỗi nước) lại có một cuộc cách mạng. Đó là những cuộc vận động mấu chốt để thay đổi quan hệ về sự làm việc và cách hưởng thụ về sự làm việc ấy nhằm đẩy mạnh sức sản xuất trong nước.
Như trên đã nói, cách mạng là một cuộc vận động thay đổi lớn và có tính chất đột biến, cho nên cách mạng khác với “cải lương”. Cải lương, cải tiến, chỉ là sự thay đổi dần dần.
Những người chủ chương cách mạng triệt để thường chống chủ nghĩa cải lương, cải tiến, vì theo họ cải lương, cải tiến tuy không phải là thoái bộ, nhưng chỉ là một hình thức có thể làm nhụt ý chí đấu tranh của người cách mạng. Quần chúng vì ngại đấu tranh khó khăn, cũng dễ tự mãn hay được an ủi phần nào về những kết quả của các cuộc vận động cải lương, cải tiến.
Tuy nhiên, vẫn có những người chủ trương cách mạng triệt để, song không từ chối các cuộc vận động cải lương, cải tiến vì theo họ, nhiều cuộc vận động cải lương, cải tiến góp lại cũng thành một cuộc cách mạng. Có điều là họ không bao giờ chịu thỏa mãn làm cho ý chí đấu tranh đình lại sau một cuộc vận động cải lương, cải tiến.
VŨ TRỤ QUAN, THẾ GIỚI QUAN, NHÂN SINH QUAN
“Vũ trụ quan” và “thế giới quan” cũng như nhau. Đó là cách thức nhìn nhận và giải thích các hình thức tự nhiên và xã hội. Thí dụ: Các thủ lĩnh tư bản có một vũ trụ quan khác hẳn các thủ lĩnh vô sản về kinh tế, xã hội và nhiều địa hạt khác.
Chữ “quan” đây là quan sát. Nhân sinh quan cũng là một cách nhìn, nhưng hạn định trong một phạm vi: Nhìn nhận đời sống, công tác xã hội, lịch sử, dựa theo lợi ích của giai cấp mình. Thí dụ: Nhân sinh quan cách mạng, tức là nhân sinh quan của những người yêu nước, yêu giống nòi đấu tranh để thực hiện công bằng xã hội, đưa đất nước đến tự do, độc lập và phồn thịnh.
QUÁ TRÌNH, LỊCH TRÌNH, GIÁO TRÌNH
“Lịch trình” có một ý nghĩa rộng rãi, nói chung, về bước đường đã trải qua. Thí dụ: Lịch trình tiến hóa của xã hội loài người.
“Quá trình” cũng có ý nói tới bước đường đã trải qua, nhưng con đường đây có một ý nghĩa tiến triển, phát triển. Thí dụ: Quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Quá trình không giống từ “quá kỳ”, có ý nói về việc vượt qua kỳ hạn đã định.
“Giáo trình” cũng khác hẳn nghĩa lịch trình và quá trình. Giáo trình là sưu tập các bài giảng về một bộ môn trong trường đại học. Thí dụ: Giáo trình về văn học sử Việt Nam.
GIÁ TRỊ TINH THẦN, GIÁ TRỊ ĐỔI CHÁC, GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Gần đây, nhiều người hay nói tới những “giá trị tinh thần”. Chữ “giá trị” đó có hai nghĩa, muốn hiểu theo cách nào cũng được.
1) Giá tốt hay xấu, đắt hay rẻ của một vật, cũng như giá hàng, giá tiền.
2) Tác dụng tốt đẹp, cao quý. Thí dụ: Người có giá trị, bài diễn văn có giá trị.
Về lĩnh vực kinh tế, nói “quy luật giá trị” tức là nói tới quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa, theo đó việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
“Giá trị sử dụng” là giá trị của những vật có thể thỏa mãn được nhu cầu của người ta, như cơm gạo thỏa mãn được nhu cầu ăn, quần áo thỏa mãn được nhu cầu mặc.
“Giá trị đổi chác” cũng như giá trị giao dịch, là giá trị của hàng hóa làm cho hàng hóa có thể đem đổi lấy tiền hoặc một thứ hàng hóa khác.
Sau hết “giá trị thặng dư” là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra thêm, ngoài giá trị của sức lao động mà bị các nhà tư bản chiếm không.
QUÁ ĐỘ
Nhiều người dùng lầm chữ “quá độ” và cho rằng từ này chỉ bất cứ cái gì không bình thường, đi quá cái mức của nó (như ăn quá độ, chơi quá độ).
Sự thực, “quá độ” có một ý nghĩa khác hẳn: quá độ dùng để nói về thời gian chuyển tiếp giữa hai thời kỳ. Thí dụ: Thời kỳ quá độ. Lúc ấy, Nhật đi, Tàu đến. Dân ta khổ sở vô cùng; trong giai đoạn quá độ ấy, số người chết đói hàng ngày tăng lên.
Mặt khác, cũng nên nói thêm rằng, quá độ không bao giờ cùng một nghĩa với “cao độ”.
Cao độ có ý nói tới một mức vượt xa mức thường. Chữ “độ” đây cũng như chữ “độ” trong từ “quá độ” chỉ một khoảng thời gian nhất định, một số đo lường nhất định. Thí dụ: Độ này, độ trước. Hay: Độ cao, độ thấp.
QUAN NIỆM, Ý NIỆM, KHÁI NIỆM
Ba từ “quan niệm”, “ý niệm”, “khái niệm” có ý nghĩa và tầm quan trọng khác nhau.
“Quan niệm” là cách hiểu một vấn đề. Thí dụ: Quan niệm của anh về việc đó ra sao?
“Khái niệm” có một ý lớn lao và trang trọng hơn quan niệm. Khái niệm là hình thức tư duy(1) của loài người khiến người ta hiểu biết những đặc trưng, những thuộc tính, những mối liên lạc cơ bản nhất của các sự vật và các hiện tượng trong hiện thực khách quan. Thí dụ: Khái niệm về văn chương dân gian Việt Nam.
Còn “ý niệm” thì cũng là khái niệm về một sự việc, nhưng có ý chật hẹp và sơ lược.
TRANH ĐẤU, TRANH THỦ, TRANH CHẤP
Từ được dùng rất nhiều từ ngày Cách mạng Tháng Tám bùng nổ lên là từ “tranh đấu”.
“Tranh đấu” (cũng như đấu tranh) là sử dụng triệt để và tích cực mọi phương pháp nhằm đánh bại đối phương để giành lại phần thắng về mình. Thí dụ: Ta và Mỹ tranh đấu từ hai mươi năm nay để giành lấy thắng lợi cuối cùng. Về phía người vô sản, đấu tranh giai cấp ngụ ý cố gắng đưa giai cấp công nhân lên giữ vai trò lãnh đạo. Trong chữ đấu tranh giai cấp, ta phải hiểu rằng đây là một cuộc vật lộn giữa các giai cấp đối lập để tranh lấy quyền lợi, phía giai cấp thống trị thì giành quyền lợi cho phe mình còn giai cấp bị trị thì tranh đấu để đánh bại giai cấp thống trị.
“Đấu tranh tư tưởng” là một cuộc đấu tranh làm cho tư tưởng đúng đắn thắng lợi. Chữ này cũng giống như chữ đấu trí. Chữ “tranh luận” có ý hẹp hơn: Bàn cãi để tìm ra lẽ phải. Thí dụ: Tranh luận về giá trị một cuốn tiểu thuyết. Chữ “tranh biện” cũng giống như chữ tranh luận, tranh cãi. Thí dụ: Tranh biện, tranh cãi gay go về vấn đề nghệ thuật vị nhân sinh.
Cũng được người ta dùng nhiều là chữ “tranh thủ”. Tranh thủ có ý mạnh hơn chữ tranh đấu: Tranh đấu chỉ là tìm mọi phương pháp để giành lấy thắng lợi về mình, còn tranh thủ là tranh đấu lấy thắng lợi và giữ lấy. Hay cố gắng lôi cuốn về phía mình để làm lợi khí, để làm hậu thuẫn hay vây cánh. Thí dụ: Về lãnh vực ngoại giao, trong đấu tranh cách mạng, chúng ta luôn tranh thủ sự đồng tình của nhân dân thế giới. Tranh thủ thời gian có một ý nghĩa khác một chút: Sử dụng một khoảng thời gian để làm một công việc đáng lẽ phải làm vào lúc khác. Thí dụ: Tranh thủ giờ nghỉ để đi về nhà thăm vợ và mua bán. Do đó, chữ “tranh thủ thời gian” dần dần có một ý nghĩa rộng rãi hơn: Thay vì một lúc khác mới làm công việc đó, nhưng làm ngay để dành thì giờ. Thí dụ: Tình hình nguy cấp lắm rồi, ta không thể chờ đợi được nữa, phải tranh thủ thời gian để cướp chính quyền từ tay Pháp - Nhật.
Ngoài hai từ “tranh đấu” và “tranh thủ” ra, còn “tranh chấp”. Tranh chấp là giành giật nhau. Thí dụ: Nhật và Mỹ đang tranh chấp thị trường xe hơi.
Chữ “tranh chấp” còn có thể dùng để nói về sự bất đồng ý kiến trong một cuộc tranh luận. Thí dụ: Ý kiến tranh chấp. Khi cuộc tranh giành có sức mạnh xen vào, người ta nên dùng chữ “tranh cường”. Tranh cường cũng là tranh chấp, tranh đua, tranh giành, nhưng có ý nhấn về hai lực lượng giành giật nhau quyền lợi, đo sức với nhau để giành lấy thua, được. Thí dụ: Trước cờ ai dám tranh hùng, năm năm hùng cứ một phương hải tần.
“Tranh đoạt” cũng có ý giành nhau để chiếm lấy quyền lợi, cũng như tranh giành, tranh chấp (tranh giành thị trường), nhưng “tranh hùng” thì có ý nghĩa mạnh hơn một chút, tuy cũng với ý nghĩa giành giật nhau. Thí dụ: Các cường quốc kinh tế tranh hùng ở Đông Nam Á.
Sau hết, còn từ “tranh tồn”. Từ này có ý rộng rãi và ngụ ý tranh đấu để giành lấy sự sống. Từ này bị coi là cũ, ít ai dùng tới.
CẦM CHIN CẦM ĐỔ
Thành ngữ “cầm chin cầm đổ” thực ra không lai một tí Hán nào, nó hoàn toàn là tiếng của người miền Nam Việt Nam. Thế mà có người cũng nói trại được!
Nguyên văn nó ở thành ngữ “Cầm tĩn mà đổ”, để chỉ những trận mưa rào xối xả, mưa lớn tới mức như có người cầm tĩn nước mà đổ xuống vậy.
“Tĩn” là một thứ lọ bằng sành, chứa được từ ba đến năm lít nước, bầu phình ra, cổ thắt lại. Đây là một thứ lọ của đồng bào miền Nam thường dùng để đựng nước mắm, cá mắm v.v… mà ta thường thấy rất nhiều tại chợ Cầu Ông Lãnh.
Nếu “tĩn” đầy nước, ta dốc ngược lên mà đổ ra thì nước chảy từ trong ra rất mạnh, lại thêm có tiếng ào ào, ục ục… Nước mưa dội xuống mà cứ cảm tưởng như “cầm tĩn mà đổ” thì quả là một trận mưa rào khủng khiếp vậy.
Song le nông thôn ta thường thường nói “cầm chin cầm đổ”, bất quá cũng chỉ để ngụ cái ý nghĩa như trên mà thôi.
ĐỘNG CƠ LUẬN CÓ KHÁC KẾT QUẢ LUẬN KHÔNG?
“Động cơ” nghĩa thông thường, là bộ máy tạo ra sức chuyển động. Thí dụ: Xe có động cơ, hay động cơ xe lửa, xe điện, xe hơi v.v… Nghĩa rộng, động cơ là những nguyên nhân, yếu tố phát sinh ra hành động.
Con người ta mỗi khi nói làm một việc gì đều có những nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyên nhân ấy nhằm thỏa mãn dục vọng hay quyền lợi nào đó. Nguyên nhân ấy có lúc bộc lộ rõ ràng, song đại đa số được che đậy bởi nhiều lý do trá hình khác.
Thí dụ: Một người lính chiến đấu ngoài mặt trận, hầu hết là những người thực sự giác ngộ quyền lợi Tổ quốc, thấy cần phải hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ ấy. Cũng có cá biệt người chỉ vì có người yêu muốn có một người chồng say sưa cung kiếm mà tình nguyện vào lính. Hai người ấy có hai động cơ khác nhau, một người vì chính trị, một người vì ái tình.
Vì có động cơ khác nhau nên có ý thức và tinh thần chiến đấu khác nhau. Do đó mà thuyết “động cơ luận” chủ trương phải tìm cho thấy cái “động cơ” của công việc thì mới định được giá trị của công việc ấy cho thật đúng. Nếu có sai, cần sửa, thì phải sửa ngay từ cái động cơ.
Nghịch lại với “động cơ luận” là “kết quả luận”. Người chủ trương “kết quả luận” không cần biết có động cơ và cho động cơ thuộc về chuyện riêng tư của mỗi người, miễn là có thành tích thì có khen thưởng, có sai lầm thì có trừng phạt.
Công bình xã hội phải dựa vào kết quả, chớ không thể hoàn toàn dựa vào động cơ.
BỔ SUNG, BỔ TÚC, BỔ TRỢ, BỔ KHUYẾT, BỔ DI
Chữ “bổ” có nghĩa là tăng thêm. “Bổ dưỡng” là tăng thêm sức khỏe cho toàn thân (thuốc bổ dưỡng, thức ăn bổ, thuốc bổ thận). Vì thế trong những từ “bổ sung”, “bổ túc”, “bổ trợ”, “bổ khuyết”, “bổ di” đều có ý tăng thêm vào, nhưng mỗi từ có một ý khác nhau và dùng cũng khác nhau.
“Bổ khuyết” là bù vào chỗ thiếu. Thí dụ: Tài liệu của ông không đủ phải bổ khuyết mới được.
“Bổ di” cũng là bổ thêm vào chỗ thiếu sót cho đầy đủ. Thí dụ: Kiến thức của anh ta nông cạn lắm, cần phải học hỏi nhiều để bổ di.
Chữ “bổ sung” có ý nghĩa thiếu và cần phải thêm vào cho tốt đẹp hơn. Thí dụ: Bổ sung quân số, bổ sung tài chánh.
“Bổ túc” là gia thêm cho đầy đủ, nhưng thường dùng vào những trường hợp trừu tượng, như bổ túc văn hóa cho cán bộ, bổ túc ý kiến cho bài văn hoàn hảo hơn.
Riêng từ “bổ trợ” không có nghĩa thiếu, nhưng là cái nọ giúp cho cái kia cho đầy đủ hơn. Bổ trợ cũng tựa như “hỗ trợ” (giúp đỡ lẫn nhau). Thí dụ: Bài văn ấy được ý nhưng từ chưa chỉnh phải sửa lại từ để bổ trợ cho ý.
PHI VÔ SẢN, PHI QUÂN SỰ, PHI XÃ HỘI
Trong bản tự kiểm thảo, phê bình, Thế Lữ viết: “Tự lực Văn Đoàn nêu ra khẩu hiệu yêu đời vui vẻ trẻ trung, còn tiểu thuyết văn thơ thì đề cao tư tưởng phi vô sản”.
Trong cụm từ “phi vô sản”, “phi” có nghĩa là trái với đạo nghĩa, trái với lẽ phải (phi lý), trái với pháp luật, trái với tầm thường (phi phàm). “Phi vô sản”là trái với hệ thống tư tưởng vô sản, không thuộc về hệ thống tư tưởng vô sản.
“Phi quân sự” là một khu đặt ra do hai bên đối phương đồng ý là không để xảy ra việc gì có tính chất quân sự. Thí dụ: Hai quốc gia thỏa thuận đường biên giới là khu phi quân sự.
“Phi xã hội chủ nghĩa” là không có tính chất xã hội chủ nghĩa.
THỰC TẬP, THỰC CHẤT, THỰC LỰC
“Thực lực” là sức mạnh có thật. Thí dụ: Muốn chống lại thực dân, chỉ nói yêu nước không được, mà cần phải có thực lực. Chữ thực lực đây cũng có ý nghĩa như “thực học” là cái vốn văn hóa có chất lượng. Thí dụ: Con người có thực học.
“Thực chất” là cái cốt yếu, cái căn bản có thật sự. Thí dụ: Thực chất của một tác phẩm văn học là nội dung tư tưởng được đề cập.
“Thực tập” có nghĩa khác hẳn. Đó là đem những điều đã học ra tập làm thực sự (cũng như thực thi, chỉ khác một chút là thực tập là để tập mà thực thi là để thi hành). Thí dụ: Sinh viên trường đại học nông nghiệp đi thực tập trên đồng ruộng.
Cuối cùng, cũng nên biết về nghĩa chữ “thực dụng”. Thực dụng và dùng vào việc thực tế được. Thí dụ: Bài học thực dụng.
“Chủ nghĩa thực dụng” là quan niệm triết lý hoài nghi lý luận, cho rằng chỉ có hiệu quả thực tế mới là tiêu chuẩn của chân lý.
CHỈNH HUẤN, CHỈNH LÝ, CHỈNH PHONG
“Anh ấy bị chỉnh”. “Chỉnh” nghĩa là bị cấp trên phê bình gắt gao về một hay nhiều khuyết điểm, hay không làm tròn nhiệm vụ của cấp trên giao phó.
“Chỉnh đảng” là cuộc vận động cải tạo tư tưởng nhằm bài trừ những tư tưởng không thuộc hệ thống tư tưởng của đảng, để làm cho tư tưởng và hành động được nhất trí.
“Chỉnh huấn” là cuộc vận động cải tạo tư tưởng trong cán bộ và nhân dân bằng cách tổ chức học tập chính trị và liên hệ kiểm điểm. Chữ chỉnh huấn cũng có nghĩa với chữ “cải tạo tư tưởng”.
“Chỉnh lý” là sửa chữa, sắp xếp cho đúng. Thí dụ: Chỉnh lý tài liệu lịch sử - chỉnh lý giáo trình để in thành sách.
“Chỉnh phong” là cuộc vận động chỉnh đốn “đảng phong”, “học phong” và “văn phong” trong Đảng Cộng sản Trung Quốc trước đây đã thực hiện.
“Phong” đây là tác phong, tức là lề lối làm việc, đối xử với người khác.
NGHỊ LUẬN, NGHỊ QUYẾT, BÌNH NGHỊ, NGHỊ SỰ
“Nghị luận” là bàn bạc cho ra phải trái. Thí dụ: Báo ấy có những bài nghị luận đứng đắn, chiết trung. Nghị luận cũng như “bình luận”, riêng chữ “bình nghị” thì có ý sâu rộng hơn. “Bình nghị” có nghĩa là bàn bạc và cân nhắc cẩn thận, xét định hơn, kém, phải, trái. “Bình phẩm” cũng có ý nghĩa như thế, nhưng khác bình nghị là bình phẩm có mục đích đánh giá cao thấp, khen chê. Thí dụ: Bình phẩm văn học, bình phẩm một cuốn sách.
“Nghị sự” là việc đem ra thảo luận.
HIỆU TRIỆU, KHẨU HIỆU, HIỆU LỆNH
“Hiệu triệu” là lời kêu gọi quần chúng. Thí dụ: Lời hiệu triệu của Tổng thống Nixon không được dân chúng hoan nghênh.
“Hiệu lệnh” chỉ là lệnh của cấp trên đưa ra để cho cấp dưới thi hành. Thí dụ: Cán bộ đã thi hành hiệu lệnh ông ấy một cách tích cực.
“Hiệu suất” có một ý nghĩa khác. Đó là kết quả của sức lao động chân tay hay trí óc trong một thời gian nhất định. Thí dụ: So với thời gian này năm ngoái thì công nhân hãng X đã có một hiệu suất hơn hẳn. Hiệu suất còn có nghĩa là tỷ số giữa công hữu ích của một cái máy và công toàn phần phải cung cấp cho nó.
“Khẩu hiệu” là câu tóm tắt một nhiệm vụ đưa ra để động viên tuyên truyền quần chúng. Muốn làm khẩu hiệu, trước hết phải biết khẩu hiệu nhằm mục đích gì và có nghĩa là gì.
Đặt khẩu hiệu là phải cô đọng ý tưởng lại cho thật ngắn, nhưng thật đủ để cho người dân hiểu ngay, nhớ ngay và biết ngay nhiệm vụ của mình. Thí dụ: Khẩu hiệu chào mừng ngày lễ lớn. Nhiều khẩu hiệu lại dùng chữ chưa đúng, thí dụ chữ “hoan nghênh” và “hoan hô”.
“Hoan nghênh” là một từ nói lên sự đón tiếp, tiếp nhận một cách vui vẻ. Thí dụ: Dân chúng hoan nghênh viện trợ thuốc men của nước bạn gửi tới.
“Hoan hô” là tiếng reo mừng, tỏ ý hoan nghênh tán thành. Thí dụ: Hoan hô tình hữu nghị Việt - Trung.
CƯƠNG LĨNH, CƯƠNG VỊ, CƯƠNG VỰC
“Cương vị” là vị trí công tác. Nó còn có nghĩa là tư cách, danh nghĩa.
Thí dụ: Cần phải có cương vị để giải quyết vấn đề tổ chức và sắp xếp cán bộ.
“Cương lĩnh” khác hẳn cương vị. “Cương lĩnh” là chương trình hoạt động của một chính đảng hay một mặt trận trong một thời kỳ để đưa đường chỉ lối cho đảng viên, thành viên (thành viên của mặt trận) và toàn dân thực hiện. Thí dụ: Cương lĩnh của Đảng Cộng sản.
“Cương mục” là bản trình bày về một vấn đề, chia ra từng phần lớn và phần nhỏ. Phần lớn gọi là “cương”, phần nhỏ gọi là “mục”.
“Cương vực” là bờ cõi đất nước, còn “cương giới” là biên thùy giữa hai nước.
TẠI SAO CÓ TỪ BA XÍCH ĐẾ?
Khi muốn chỉ một câu chuyện gì đó không chính xác hoặc phù phiếm, hão huyền, ta thường gán cho nó một câu “Chuyện ba xích đế”.
Nếu đem chiết tự mà xét “ba xích đế” chẳng có một nghĩa gì hết. Nhưng nói như vậy, không phải nó không có xuất xứ.
“Ba xích đế” không bắt gốc từ Tam hoàng, Ngũ đế, mà rất đơn giản, từ “ba xị đế”. “Đế” là một thứ rượu lậu, ta thường uống, nấu bằng cỏ “đế”.
Trước đây, vì chế độ độc quyền nấu rượu ở trong tay người Pháp, nên ở miền Nam, muốn có một thứ rượu vừa rẻ vừa ngon do nông dân ta lấy gạo nếp làm ra, cũng phải nấu “lậu”. Muốn nấu “lậu” thì phải ra “biền” (ruộng) mà nấu. Ngoài biền không có sẵn củi, nên phải nấu rượu bằng cỏ đế. Vì thế mà ta gọi “rượu đế”, tức là rượu “lậu” đun bằng cỏ đế.
Uống trung bình chỉ ba xị (ve nhỏ) là say. Một lẽ nữa là ở miền Nam thường hay có cái lối nói ăn ba miếng chơi, uống ba chén chơi, nói ba câu chuyện chơi tiêu khiển. Thành ra có từ “ba xị đế”.
Sau ba xị đế rồi, người bắt đầu “tửu nhập ngôn xuất” nói có “chất say” không kiểm soát được nữa.
“Chuyện ba xích đế” tức là “chuyện ba xị đế”. “Tào lao ba xích đế” là nói chuyện tào lao sau khi uống ba xị đế rồi.
(còn tiếp)
Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.
www.trieuxuan.info
|