tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
09.03.2020
Nguyễn Tài
Khúc khuỷu đường đời (12)


5. Qua buổi làm việc tối 22/8/1980, có thể kết luận là: Bản photocopy gốc của Cục D3 đã không được trả lại cho Cục D3 sau khi làm photocopy hồi 1976.


 


Vì vậy hiện nay có hai vấn đề cần được giải đáp:


 


a. Nếu không được trả lại cho Cục D3 thì bản Anh văn đó đi đâu?


 


Kết quả nghiên cứu trực tiếp trên sổ gốc ghi chép chụp ảnh của Cục G3 cho thấy có chi tiết như sau:


…


Những chi tiết khác là thuộc trách nhiệm Cục G3 trả lời cho BCSĐ/BNV.


 


b. sự phát hiện của anh Thành, Vụ trưởng BVĐ, có ý nghĩa rất quan trọng, có thể liên quan đến vấn để đang đặt ra:


 


Sổ trả ảnh của Cục G3 trình ra hôm 20/4/1979 đã ghi: “16/7. Tài liệu phái đoàn nước ngoài, giao cả phim” Giải thích là 16/7/1976.


 


Tối 22/8/1980, cô Trang vẫn khẳng định đã trả ảnh cho Cục E4 ngày 16/7/1976.


 


C14. Về thời gian tính của diễn biến vụ bản Anh văn - Những nghi vấn phải đặt ra:


 


Ngay tại cuộc họp - tối 22/8/1980, anh Thành đã hỏi: “Sổ trả ảnh ghi ngày 16/7/1976; tại sao anh Lê Quốc Thân đã báo cáo Ban Bí thư việc anh Tài từ 15/7/1976?”


 


Sáng 23/8/1980, tôi đã hỏi lại anh Thành, thì được anh Thành cho biết hiện nay còn đầy đủ tài liệu của Bộ Nội vụ lưu ở Vụ BVĐ về chuyện này, làm căn cứ chính xác cho sự nêu vấn đề của anh Thành.


 


…Và chắc chắn BCSĐ/BNV cũng đã phát hiện thấy sự mâu thuẫn cần được giải đáp trong dịp kiểm tra này.


 


Tôi yêu cầu BCSĐ/BNV phối hợp cùng Vụ BVĐ cho làm rõ:


…


 


- Sự báo cáo thiếu trách nhiệm và thiếu trung thực của anh Mão thì nay đã rõ ràng.


 


- Người trong Cục E4 biết việc nói là: “phim chụp xong, chưa in thành ảnh, đã giao cho Tẩu; Tẩu mang về Cục, cùng một số cán bộ đọc trên lecteur, thấy có tài liệu có tên anh Tài bèn dịch, mang đi báo cáo anh Thân; sau đó như thế nào không nhớ, nhưng Tẩu cắt riêng cái phim chụp tài liệu Anh văn lưu riêng, bên cô Trang đòi mãi, đến năm 1978 mới trả, mà phim này thì bị xén lại thành ra nếu ghép với đoạn phim chung thì không thật khớp. Và Trang còn cho biết là phim đã giao anh Thân cả (người biết việc thì nói anh Minh Tiến lưu)”.


 


 


*


 


 


Nhân họp Trung ương, anh Mai Chí Thọ tới nhà tôi. Anh ấy gặp anh Huynh, hỏi chuyện, nhưng có ý không hiểu rõ, vì hôm 22/8/1980 anh Huynh không dự họp. Sau khi nghe xong anh ấy nói: Đây không còn là việc riêng của Anh nữa, mà là Đảng có thể tin cậy cơ quan Kỹ thuật Bộ Nội vụ đến đâu. Hôm nay nó đánh được Anh, thì mai mốt sẽ đánh ai nữa, mà không có kinh nghiệm nghiệp vụ như Anh, thì ai biết đằng nào mà nói. Và tự nói, đã tìm anh Thọ, nhưng anh Thọ chưa về; ngày hôm sau phải đi Mông Cổ, nhưng sẽ tìm nói chuyện này trước khi đi.


 


Ngày 7/9/1980, anh Mười Hương đến chơi, cũng hỏi lại chuyện. Cho biết anh Mai Chí Thọ đã gặp anh Thọ và anh Hùng nói chuyện này.


 


Ngày 7/9/1980 tôi gửi thư cho Thường vụ Đảng ủy Bộ Nội vụ, yêu cầu Đảng ủy tham gia tích cực đóng góp giúp Ban Cán sự để làm rõ việc này.


 


Ngày 14/9/1980, anh Tâm Long nói lại ý kiến Thường vụ Đảng ủy là lãnh đạo tư tưởng Cục G3 để cán bộ đảng viên báo cáo thành thật. Tôi cho là Thường vụ Đảng ủy còn có thể làm hơn, với thẩm quyền của minh. Yêu cầu gặp đồng chí Bí thư, nhưng chưa được trả lời.


 


Nhưng gặp, anh Thành thì được biết Văn phòng anh Thọ giục anh Thành chuẩn bị báo cáo. Anh Thành vẫn chưa nhận được tài liệu do Bộ Nội vụ cung cấp.


 


Đến 13/9/1980, anh Thành cho biết anh Thọ vẫn chưa gặp. Tuần lễ tiếp đó, liên lạc điện thoại thì anh Thành đi Sài Gòn công tác và đi học ở Liên Xô vào ngày 30/9/1980.


 


Ngày 19/9/1980, anh Đông cho biết đã đủ để báo cáo với anh Hùng kết luận; đang chờ anh Hùng cho ngày.


 


Sau được nghe là anh Hùng đã có nghe báo cáo. Anh Quyết báo cáo tổng hợp đầu đuôi, cả hai bên ý kiến. Anh Đông bổ sung, phân tích vào những chỗ quan trọng, như sổ bị sửa, thì đưa tài liệu cho anh Hùng xem, và giải thích lại ý tôi để anh Hùng hiểu. Như vậy, có lẽ cũng khách quan và giúp cho anh Hùng thấy được vấn đề. Dù trong ý nghĩ của anh Quyết là sao, mà trả lời trên điện thoại, nhưng trong buổi làm việc với anh Hùng thì không có sự thiên lệch; hơn nữa, cách bổ sung của anh Đông thì thuận cho ý kiến tôi. Anh Đông cũng nhấn lại là chú trọng nội dung sự thật, đừng chú ý thái độ lúc tranh luận. Các Cục tham gia không có phát biểu.


 


Tôi đã có thư gửi anh Hùng ngày 27/9/1980, nói rõ về những bằng chứng anh Thành có, và yêu cầu gặp anh Thành kịp thời. Ngoài ra, cũng cung cấp thêm một số tình hình đáng lưu ý. Đã có gửi anh Quyết, anh Đông để biết. Ngày 28/9/1980, thư ký anh Hùng điện thoại báo nhận thư, và giải thích rằng làm việc theo cách là đã xếp vào tài liệu cần đọc, để anh Hùng đọc trực tiếp.


 


C16. [1] Những chuyện của tháng 10/1980


 


1. Các anh lãnh đạo của Bộ Nội vụ chuẩn bị đi vắng một tháng.


 


2. Anh Sáu Dân ra họp, đến thăm, nghe nói chưa làm việc, Anh ấy rủ vào Nam chơi. Đã đi một tuần, vì nếu đi lâu, các anh lãnh đạo Bộ Nội vụ trở về, sẽ nhiều việc; mình không nhắc, e rằng sẽ bị bỏ lơi không biết bao giờ mới xong.


 


Vào Sài Gòn, có nói chuyện lâu với anh Sáu Dân. Anh ấy cho biết cách đây mấy tháng, Thường vụ Thành ủy có điện cho Ban Bí thư việc của tôi. Anh Thọ có điện trả lời, nói để Ban Bí thư cùng Tổ chức TƯ giải quyết. Gặp anh Mười Cúc. Anh ấy nói trước đây đã thấy vô lý. Nếu quả là của tên gián điệp nước ngoài thì là sự khiêu khích. Và đã có nói với anh Thọ. Anh Thọ nói để Ban Bí thư giải quyết; nhưng anh Mười Cúc trong Ban Bí thư cũng chưa thấy đưa ra Ban Bí thư bàn gì cả.


 


Anh Năm Xuân kể là đã nói chuyện việc sửa sổ với anh Thọ, anh ấy nói sẽ nhắc anh Thành làm ngay. Cũng nói với anh Hùng, thì anh Hùng tỏ ra rất quan tâm.


 


C17. Những chuyện của tháng 11/1980


 


Trong thời gian tôi đi chơi Sài Gòn và BCSĐ/BNV đi công tác xa về, thì tình hình đã có những biến chuyển quan trọng.


 


Sau khi tìm được bản photocơpy của Cục D3, nay lại tìm được bản gốc của địch cũng lưu ở hồ sơ của D3. Do lần trước nắm không rõ yêu cầu, nên người ta chọn để gửi về Bộ 1 bản nom sạch sẽ hơn bản kia.


 


Mão đã được gọi về, và do họp lại thành phần cán bộ cũ trong Phòng của Mão, thì cháu Việt lại nhớ ra nó là người đưa đi photocopy. Và báo cáo chi tiết buổi đưa bản Anh văn đi photocopy và việc cô Trang tự ý chụp ảnh như sau:


 


Cháu Việt được anh Sành sai đi làm photocopy, vì lúc đó cháu là tập sự nên hay phải đi làm việc vặt. Mang bản Anh văn đi photocopy, cô Trang hoạnh đòi phiếu yêu cầu. Việt nói “của ông Tài, Thứ trưởng đấy, chẳng có phiếu”. Đôi co một lát, rồi đồng ý làm không có phiếu yêu cầu. Lại hỏi Việt, bằng (bản ?) tiếng Anh đã dịch chưa? Việt đáp đã có anh Sành thạo để dịch rồi. Nhưng cô Trang lại nhờ anh Sâm ở Cục G3 dịch. Họ nói tài liệu quan trọng, phải báo cáo lên trên. Vì sợ sau này phai mờ, thì microfilm thêm; nhưng không trả lại ảnh cho Cục D3. Cô Trang có điện thoại cho anh Sành.


 


Việt mang photocopy về báo cáo cho Sành; họ bảo nhau: “ông Tài chỉ yêu cầu photocopy, lại đẻ số. Nhưng thôi cứ nộp đủ photocopy là được. Đừng nói chuyện chụp ảnh mà bị rầy”. Rồi bỏ qua luôn.


 


Anh Quyết đã gặp anh Sâm, thì xác nhận có dịch bản Anh văn.


 


Cục G3 vẫn chối không photocopy; với lý lẽ nói là không có loại giấy như bản của Cục D3. Nhưng chỉ vài ngày sau, Cục D3 tìm ra bằng chứng, là tháng 9/1976 (2 tháng sau chuyện chụp bản Anh văn), Cục G3 vẫn dùng loại giấy đã photocopy bản Anh văn, để photocopy cho Cục D3 một số tài liệu khác có chữ ký của nhiều cán bộ Cục G3. Bộ mặt gian dối của Cục G3 lần này càng lộ rõ.


 


Cục G3 viện lẽ, bọn gián điệp nước ngoài có thể cũng có một bản photocopy y hệt. Nhưng do tìm được bản gốc, có những chi tiết mà về khoa học không ai có thể nói khác. Đó là: Trong bản chú thích của tôi ghi gửi Thành ủy Sài Gòn ngày 15/7/1976, tôi có viết là trên bản Anh văn lấy được của địch, có một số chữ viết bằng bút chì, chứng tờ sự ghi chú của tôi ngày 15/7/1976 là chính xác, khách quan. Đối chiếu với các bản photocopy và bản chụp ảnh, thì thấy các chữ viết bút chì đó ở các bản sao chụp đều y hệt, nghĩa là chúng đều từ một gốc. Chính anh Quyết cũng đã bác bỏ ý Cục G3. Nếu có chép lại những chữ viết tay bằng bút chì đó, thì không khi nào y hệt từ nét chữ đến kích thước... cho nên đây là căn cứ rất khoa học.


 


C18. Những việc của tháng 12/1980


 


Đầu tháng 12/1980, anh Đông cho biết đã làm với anh Hùng. Sẽ làm với anh Hoàn, anh Thân, và với tôi.


 


Tối 16/12/1980, BCSĐ/BNV mời họp. Đến nơi, vắng anh Hùng vì triệu tập lủng củng; nhưng anh Hùng đã nghe và nhất trí rồi. Anh Sáu Hoàng đã nhất trí và xin vắng vì chuẩn bị vào Nam. Còn có mặt các anh Quyết, Đông, Viễn Chi, Thao, Tiến. Thêm anh Huynh Cục trưởng D3 anh Mãng, Mai Khiêm G3; Trần Lung E4; Trọng Đảng ủy; Tâm, Văn phòng Ban Cán sự, và tôi.


 


Mở đầu, cho từng Cục báo cáo, ai hỏi gì thì hỏi. Sau, mời tôi nói và trả lời một số ý kiến. Cuối cùng là các đồng chí Ban Cán sự phát biểu. Anh Thao, Tiến không có gì nói, vì đã nói ở Ban Cán sự rồi (Ban Cán sự đã họp thống nhất ý kiến trước). Chỉ có anh Viễn Chi phát biểu, lạc đề. Anh Đông nói vắn tắt để chuyển cho anh Quyết kết luận.


 


Sau khi kể lại quá trình, đặt vấn đề, xác minh, các khó khăn gặp phải, khắc phục ra sao, những ý kiến khác nhau, và giải đáp bằng thực tế có căn cứ khách quan khoa học như đã biết, kết luận: Bản Anh văn trước đây nói là ở trong va ly người nước ngoài là báo cáo sai, nó là của D3, do làm việc lộn xộn luộm thuộm nên nói là của người nước ngoài. Nay sẽ báo cáo văn bản lên Trung ương.


 


Chú ý là mở đầu, thì nói việc kết luận anh Tài qua đình chỉ công tác ra sao là thẩm quyền Trung ương. Bộ chỉ có 2 việc: Trước đây đã ra văn bản về cơ sở. Nay ra văn bản về bản Anh văn. Ngụ ý coi như hết trách nhiệm. Không phải lúc bàn cãi, nên tôi không trả lời, tuy nói như vậy chưa hoàn toàn đúng.


 


Ghi lại các ý kiến phát biểu đáng chú ý.


 


- Cách một tuần, nghe nói Mai Khiêm chuẩn bị để phản đối, bằng cách nghe lại các băng ghi âm và xem tài liệu. Hôm họp, anh ta chỉ thanh minh và nêu một sự băn khoăn, không tỏ vẻ gì quyết liệt.


 


Nói mình là người phát hiện chuyện sửa sổ. Hỏi lúc nào, thì đáp ở buổi họp với anh Lê Quốc Thân. Hỏi: Thế anh Dịch báo cáo có đúng không? Không trả lời. Hỏi: anh Lê Quốc Thân xem sổ trước hay sau sửa? Đáp: không nhớ rõ.


 


Lộ ra rằng tập thể lãnh đạo Cục G3 có biết và bàn về chuyện sổ bị sửa; nhưng thấy đưa ra “không tiện và phiền” (!) nên cân nhắc lúc nào sẽ đưa ra. Hỏi: Vậy có ý thức đưa ra không? Không trả lời được, và chuyển.


 


Bị chất vấn nhiều về sự không trung thực.


 


Băn khoăn việc chụp ảnh bản Anh văn, bị anh Quyết bác ngay.


 


- Trần Lung Cục E4 báo cáo tóm tắt, công nhận kết quả. Nhưng trình ra một bản báo cáo ghi ngày 17/7/1976, và có chữ anh Lê Quốc Thân phê ngày 20/7/1976. Đại ý là “không buộc anh Tài, mà đã đề phòng có âm mưu địch”. Có vẻ để thanh minh: Nhưng sau cuộc họp, anh Huynh và tôi đều nghi đó là tài liệu giả. Trong cuộc họp, tôi chỉ nhắc rằng tài liệu ở BVĐ còn lưu, thì báo cáo đầu tiên là 15/7/1976, chứ không phải 17/7/1976.


 


Phải chăng, đây là cách hợp pháp hóa đưa tài liệu giả vào hồ sơ. Vì anh Đông cho biết cách đây một tháng, đã lệnh thu hết hồ sơ các Cục để Ban Cán sự cất vào một tủ sắt. Vậy thì tại sao bản này còn sót lại? Và Lung nói, “vì quan trọng, nên giữ riêng đến nay” (!), trái với quy tắc. Đã trao đổi, anh Đông cũng tỏ ra có chú ý, nhưng nói: “Bây giờ hãy tập trung kết luận đúng, sai đã”.


 


- Anh Viễn Chi nói: “Đây là kinh nghiệm một chuỗi làm việc vô nguyên tắc”. Rồi tự nhiên nói đao to búa lớn. Nào là “anh Tài cũng có trách nhiệm lớn. Là người nguyên tắc, mà được xem bản Anh văn, không báo cáo anh Hoàn. Gửi Thành ủy Sài Gòn, mà Cục trưởng, Thứ trưởng phụ trách (anh Viễn Chi), Bộ trưởng đều không biết. Thành ra khi xảy chuyện, không ai biết. Nếu có báo cáo thì đỡ rắc rối. Cho nên chính anh Tài gây rắc rối cho mình”. Rồi quàng luôn chuyện “hỏi cung tụi Ngụy, cũng là tự gây rắc rối”. Lại nói, “có trí nhớ nhiều, mà không nhớ việc Mão đưa tài liệu cho xem, làm kéo dài xác minh”.


 


Tôi chỉ đáp là “trách nhiệm báo cáo anh Hoàn không phải là tôi (ngụ ý theo hệ thống, thì anh Huynh phải báo cáo anh Viễn Chi và anh Hoàn; còn tôi, anh em cho xem, nghĩa là về nguyên tắc các anh đó phải biết rồi; nếu anh em chưa báo cáo cho các anh thì không phải lỗi ở tôi); tôi gửi Thành ủy Sài Gòn vì ngoài việc trước đây tôi đã kiểm điểm với Thành ủy, trong danh sách còn có hai đồng chí Thành ủy khác, việc này không liên quan đến Bộ Nội vụ. Tôi không nhớ thì tôi nói là không nhớ”; và tôi nêu việc “có sự mớm cung bảo Trọng Bỉnh đưa tôi đọc”. Việc hỏi cung bọn Ngụy, tôi nói đây không phải lúc, nếu muốn biết, sẽ có đủ tài liệu. Hôm sau, tôi có thư chính thức cho Ban Cán sự đập lại các ý này.


 


Đáng chú ý là trước nửa tháng đã có người nói: Họ muốn nói ông cũng tự gây rối cho mình để hòa cả làng. Phải chăng, anh Viễn Chi chỉ là người phát ngôn; và đánh tiếng để tạo cơ hội cho người khác nói sau. Cho nên, không chỉ trả lời ghi âm; tôi đã có thư chính thức cho BCSĐ/BNV.


 


Kết luận xong, anh Quyết nói: Sau này, còn làm rõ trách nhiệm cá nhân và đơn vị (anh Đông thêm là không phải chỉ cán bộ, mà cả lãnh đạo). Anh Quyết giới thiệu từng điểm cho từng Vụ, Cục. Và nói không kết luận, nhưng giá anh Tài nhớ được là anh Mão đưa cho xem, thì cũng mau việc hơn một chút. Tôi không trả lời, vì đã trả lời anh Chi rồi; và hôm sau đã có thư.


 


Tôi yêu cầu “kết luận đề cập nội dung và xuất xứ, vì trước đây báo cáo ban đầu của Bộ Nội vụ sai cả nội dung lẫn xuất xứ”. Được đồng ý.


 


Tôi yêu cầu cho một bản kết luận. Anh Đông nói được, nhưng sẽ báo cáo anh Hùng. Ngày 19/12/1980, Văn Phòng Ban Cán Sự nói khoảng ba hôm sẽ có văn bản.


 


C19. Những việc tháng 1 và 2 năm 1981


 


Cuộc họp ở BCSĐ/BNV từ ngày 16/12/1980, vẫn chưa có văn bản.


 


Ngày 1/1/1981, tôi gửi thư lên Bộ Chính trị và Ban Bí thư, và gửi qua BCSĐ/BNV. Và liên tiếp trong vài ngày sau, đã gửi thẳng đến anh Thọ, anh Trinh, anh Song Hào, anh Hùng, anh Hoàn, anh Quyết, anh Đông. Đến 5/1/1981, kiểm tra lại chưa thấy BCSĐ/BNV chuyển thư, nên lại giục, thì được biết còn nằm ở chỗ anh Tiến; bèn thư cho anh Đông, xác định ý nghĩa việc gửi qua BCSĐ/BNV. Thì ngày 6/1/1981 nhận được bản lưu công văn chuyển của Ban Cán sự lên Ban Bí thư.


 


Ngày 16/1/1981 mới nhận được bản kết luận, do BCSĐ/BNV đã gửi nên Ban Bí Thư từ ngày 5/1/1981. Qua nội dung được biết BCSĐ/BNV đã họp kết luận từ 24/11/1980 (còn cuộc họp 16/12/1980, lẽ ra để thông báo kết luận, cho ai phát biểu gì thì nói; nhưng đã được làm dưới hình thức một cuộc họp để kết luận).


 


Sau đây là nguyên văn:


 


Đảng cộng sản Việt Nam


Ban chấp hành Trung ương


Ban cán sự Đảng Bộ Nội vụ


Số 14/BC - BCS (D3)


Hà nội, ngày 5/1/1981


 


T-Y: Báo cáo về kết quả xác minh 2 vấn đề mà đ/c Nguyễn Tài yêu cầu


 


Kính gửi Ban Bí thư,


 


Trong quá trình đồng chí Nguyễn Tài (nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ) nghỉ công tác để kiểm điểm một số vấn đề theo quyết định số 234 QĐ/NSTƯ ngày 12/10/1977 của Ban Bí thư, đồng chí nguyễn Tài có đề nghị BCSĐ/BNV xem xét và kết luận về 2 vấn đề :


 


1) Trong thời gian đồng chí Nguyễn Tài bị địch bắt, có cơ sở nào của Bộ Nội vụ ở địa bàn phía Nam bị địch phá vỡ hay không?


 


2) Về bản tài liệu bằng tiếng Anh có tên đồng chí Tư Trọng (bí danh đồng chí Nguyễn Tài) có đúng là phát hiện trong va ly người nước ngoài ngày 12/7/1976 hay do nhầm lẫn.


Về hai vấn đề mà đồng chí nguyễn Tài đề nghị xem xét thì BCSĐ/BNV đã tiến hành xác minh lại và kết quả như sau:


 


1) Về vấn đề cơ sở:


 


Chúng tôi đã hỏi đồng chí Trần Quốc Hoàn và đồng chí Thứ trưởng Viễn Chi là hai đồng chí trước đây trực tiếp phụ trách chỉ đạo công tác điệp báo của Bộ Công an (nay là Bộ Nội vụ) phía Nam, thì hai đồng chí đều xác nhận là khi đồng chí Nguyễn Tài được điều động vào công tác ở An ninh Trung ương Cục, thì Bộ Công an (nay là Bộ Nội vụ) không giao cơ sở nào cho đồng chí Nguyễn Tài, do đó nên khi đồng chí Nguyễn Tài bị địch bắt thì cũng không có cơ sở nào của Bộ Công an (nay là Bộ Nội vụ) bị phá vỡ.


Về vấn đề này, ngày 19/3/1980, Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ đã có báo cáo số 112 BC/BCS gửi lên Ban Bí thư.


 


2) Về vấn đề “bản tài liệu tiếng Anh”.


 


Chúng tôi đã tổ chức kiểm tra lại xem là bản tài liệu tiếng Anh có tên đồng chí Tư Trọng do Cục G3 Bộ Nội vụ chụp có đúng là tài liệu lấy từ trong va ly người nước ngoài hay là chụp từ nguồn khác rồi báo cho nhầm vào vụ tài liệu của người nước ngoài. Nếu là nhầm thì ai là người đưa chụp, từ tài liệu gốc nào và từ máy, giấy của đơn vị nào chụp.


 


Đến nay đã làm rõ được các vấn đề như sau:


 


- Về nguồn gốc bản tài liệu bằng tiếng Anh có tên đồng chí Tư Trọng là do đồng chí Trọng Bình (cán bộ Cục chống gián điệp thuộc Bộ Nội vụ), sau khi miền Nam giải phóng, vào công tác ở phía Nam đã tìm thấy trong tủ tại Tổng nha Cảnh sát Ngụy cũ tại Sài Gòn. Tài liệu này có kèm cả bản dịch ra tiếng Việt của bọn Ngụy trước đây. Sau đó đồng chí Trọng Bình đã chuyển tài liệu này cho đồng chí Trần Mão (là cán bộ phụ trách phòng chống gián điệp Mỹ trong Cục chống gián điệp thuộc Bộ Nội vụ) mang về Bộ Nội vụ.


 


Đồng chí Trần Mão đã không báo cáo lãnh đạo Cục chống gián điệp cũng như các đồng chí lãnh đạo Bộ, mà tự ý đưa thẳng cho đồng chí Nguyễn Tài xem. Sau khi xem đồng chí Nguyễn Tài đã giao cho đồng chí Mão lưu hồ sơ. Đến trước ngày 15 tháng 7 năm 1976, đồng chí Nguyễn Tài nhờ cán bộ của Cục chống gián điệp đưa photocopy, cán bộ đó đã nhờ Cục G3 photocopy cho những bản chụp lại, đồng chí Nguyễn Tài giữ một bản, gửi đồng chí Mười Hương Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh một bản, một bản do Cục chống gián điệp lưu cùng bản tài liệu gốc.


 


- Về người đưa tài liệu sang nhờ Cục G3 chụp, đến nay, đồng chí Trần Quốc Việt, cán bộ Cục chống gián điệp đã nhớ ra và làm báo cáo xác nhận chính đồng chí là người được một cán bộ tại phòng đồng chí công tác giao đem tài liệu này sang nhờ Cục G3 chụp, người chụp là đồng chí Lê Hồng Trang đã chụp vào sau khi chụp các tài liệu người nước ngoài, và cùng một cuộn phim, không có cách quãng, sau đó quên đi nên khi in ảnh thì in luôn cả vào tài liệu của người nước ngoài và giao luôn cho Cục E4, các đồng chí Cục E4 thấy tài liệu quan trọng thì báo cáo lãnh đạo Bộ.


 


- Về đặc điểm kiểu ảnh in từ phim nói là chụp trong số tài liệu của người nước ngoài đã xác minh đúng là từ một bản gốc mà Cục chống gián điệp đang còn lưu giữ.


 


- Về đặc điểm giấy ảnh và máy chụp lại cũng đã xác đinh rõ là từ máy của Cục G3 chụp và trùng hợp loại giấy mà Cục G3 đã có sử dụng trong thời gian này.


 


- Về số thứ tự các kiểu phim chụp tài liệu lấy trong va ly người nước ngoài, thì nếu theo số ghi ban đầu trong số phim chụp của Cục 3 chỉ có số từ từ 116… đến số 111658. Còn bản tài liệu tiếng Anh là số 11659. Sau này trong một cuộc họp, do cho bản tài liệu tiếng Anh cũng là chụp trong số tài liệu ở va ly người nước ngoài, nên đồng chí Hồng Trang đã sửa lại số phim chụp tài liệu của người nước ngoài từ 116... đến 11659.


 


Qua kết quả xác minh nói trên, trong cuộc họp Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ ngày 24/11/1980, có thêm một số cán bộ các Cục liên quan tham dự, đã nhất trí kết luận là kiểu phim số 11659 chụp bản tài liệu tiếng Anh có tên đồng chí Tư Trọng không phải chụp từ tài liệu lấy trong va ly người nước ngoài, mà chụp từ bản tiếng Anh do Cục chống gián điệp đưa.


 


Về trách nhiệm trong việc nhầm lẫn này, chúng tôi sẽ cho kiểm điểm làm rõ, trách nhiệm từng đơn vị, từng người.


 


T/M Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ


 


Đã ký : Trần Quyết


 


Nơi gửi:


- Ban Bí thư


- Các đồng chí trong Ban Cán sự


- Đ/c Trọng Bí thư Đảng ủy. - Đồng chí Nguyễn Tài - Lưu VP/BCS


 


Nội dung có chỗ chưa đúng; ban đầu tôi đã sơ bộ báo cho Văn phòng BCSĐ/BNV; sau đó ngày 31/1/1981, đã có thư chính thức cho BCSĐ/BNV, đồng gửi BVĐ và Đảng ủy Bộ Nội vụ.


 


 


*


D. Vụ bản Anh văn nói là lấy được trong va ly đoàn nước ngoài, do hồ đồ thiếu trách nhiệm ngay từ đầu đồng thời bị dịch sai một cách quá dốt nát; đã là căn cứ để Tổ chức đặt vấn đề bí mật nghi tôi là CIA từ 7/1976, và đình chỉ công tác tôi từ 10/1977.


 


Lẽ ra, ngay sau khi tìm thấy bản của tôi gửi Thành ủy Sài Gòn và dịch đúng lại nội dung của nó, thì người ta đã phải loại bỏ nó khỏi sự nghi vấn đối với tôi.


 


Nhưng khi đó với lối suy diễn “quá ư lệch lạc” của những người có trách nhiệm, cộng với sự “không trung thực” của một số người trong cuộc, sự phụ họa của những kẻ cơ hội, người ta vẫn tìm cách “hoạnh”, và bắt tôi phải giải đáp những vấn đề lẽ ra không hề thuộc trách nhiệm tôi phải giải đáp. Làm cho việc kéo dài trên 3 năm mới được kết luận ngã ngũ như ta thấy. Tuy nhiên thời gian kéo dài thêm đó không hề vô ích; vì nó giải quyết được vụ việc một cách triệt để với tính thuyết phục cao.


 


Kết luận thanh toán triệt để mọi nghi vấn đối với tôi; mặc nhiên đặt ra những mối nghi vấn về những người khác mà nếu đọc kỹ các đoạn trên, ta đã có thể tự đặt câu hỏi. Đáng buồn là – tuy tôi đã chính thức nêu vấn đề, nhưng đã 20 năm trôi qua – mà trong Đảng không có một cơ quan có trách nhiệm nào chịu đứng ra làm rõ; nên một số người trong cuộc qua đời và vụ việc cũng bị “chìm xuống” luôn.


 


Đối với tôi, một lần nữa lại nổi lên sâu sắc một bài học về sự kiên trì bảo vệ tính trong sáng về sinh mệnh chính trị của bản thân; và tính triệt để cách mạng đấu tranh nội bộ; dù phải đối đầu với bất kỳ ai.


___


[1]Không thấy mục C15 (BT)


 


XI. Kết luận chụp mũ (Một sự cửa quyền trong Đảng)


Tình hình tiếp tháng 2 và tháng 3/1981


1. Ý kiến và thái độ Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ


Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ không trả lời gì thư của tôi nói rằng Bộ Nội vụ còn trách nhiệm đối với việc làm rõ trường hợp của tôi. Và cũng không trả lời việc tôi đề nghị gặp.


- Tiếp xúc anh Thế Tùng, nói chuyện của tôi một giờ rưỡi. Anh Trần Đông kể lại sự khó khăn để đi đến làm rõ và nhất trí kết luận chuyện bản Anh văn. Cho biết tôi có điểm chưa đồng ý kết luận số 14, nhưng kết luận như thế là tốt lắm. Có đưa ra BCSĐ/BNV bàn việc của tôi, nhưng anh Phạm Hùng nói đây thuộc thẩm quyền Trung ương, BCSĐ/BNV không bàn; khi nào Ban Bí thư bàn, thì anh Hùng sẽ có ý kiến. Bộ Nội vụ không đề nghị cụ thể về công tác, do TƯ quyết định. Như nói với tôi là việc trong nội bộ, tế nhị, nên kiên trì, nói ra thì khó, mong hiểu.


 


- Tiếp xúc anh Thế Tùng, anh Trần Quyết nói: việc bản Anh văn, Bộ Nội vụ sai rõ rồi còn gì.


 


- Nhân Hội nghị Công an, một số đồng chí đề nghị thông báo tiếp việc của tôi. BCSĐ/BNV không đáp ứng. Trả lời miệng cho anh Kha, anh Trần Đông nói: Trước thông báo là phải xin ý kiến anh Thọ, nay chưa có ý kiến cấp trên, nên chưa thể làm.


 


Nói chung nhiều anh em trong Ngành đã biết, nhưng họ nói: Không có vấn đề, nay là do Trung ương; giống như ý nói của BCSĐ/BNV. Riêng đồng chí Phan Ân, viết một trang ý kiến góp với Bộ Nội vụ việc của tôi, với hậu quả tiêu cực.


 


2. Ý kiến và thái độ Tổ chức TƯ Đảng


 


- Sau hơn một tháng không có trả lời của Ban Bí thư và anh Thọ, giữa tháng 1/1981 tôi gửi thư đến từng đồng chí Bộ Chính Trị, Ban Bí thư. Và gửi cho anh Tâm, Trưởng ban Tổ chức TƯ Đảng, xác định trách nhiệm của Tổ chức TƯ Đảng khi Tiểu ban BVĐ đã giải thể; và trên cương vị giúp TƯ quản lý cán bộ, nghiên cứu phân công.


 


- Anh Thành BVĐ điện thoại cho biết.


 


Anh Trinh đầu tiên định gặp anh Thành nghe lại, nhưng sau gặp anh Thọ, anh Thọ nhận sẽ giải quyết nên anh Trinh thôi luôn.


 


Anh Tâm đã báo cáo anh Thọ. Anh Thọ nói để nghe lại, rồi sẽ giải quyết. (Anh Tâm làm công văn 297 để trả lời chính thức là anh Thọ chưa định được ngày, sẽ báo sau).


 


Anh Vũ Quang Văn phòng TƯ trả lời là tài liệu đã tập trung nơi anh Thọ rồi.


 


Nghe nói ở Văn Phòng TƯ, các anh Bộ Chính trị, Ban Bí thư gửi tài liệu lại cho Văn phòng, không rõ có kèm ý kiến hay không? Hay chỉ quan niệm đã phân công cho anh Thọ, thì để anh Thọ giải quyết. Anh Thọ cũng bảo thư ký và Văn phòng TƯ thu xếp lịch để gặp tôi.


 


Sau Hội nghị tư tưởng, trước khi anh Thọ đi công tác, anh Tâm hỏi thì anh Thọ nói tháng 5/1981 mới gặp được; anh Tâm đề nghị giải quyết công tác trong lúc chờ, thì anh Thọ nói để phải trao đổi với mấy đồng chí Bộ Chính trị đã, nhưng không thấy nói gì – anh Tâm nói lại với anh Thành rằng anh Thọ vẫn than vãn là Mỹ nó mang hết hồ sơ đi (tóm lại là: quay lại luận điệu thiếu hồ sơ, sau khi lý do bản Anh văn không còn tồn tại được); ngoài ra, dường như anh Thọ cũng có nói với anh Tâm một số ý kiến gì khác, thuộc về suy luận hoặc định kiến, mà anh Thành không nói lại.


 


- Nhân Hội nghị CA, anh Vũ Oanh đến. Có đồng chí hỏi chuyện tôi. Anh Vũ Oanh tỏ ý tiếc và nói cũng do chính trước đây Bộ Nội vụ báo cáo, nay lại cũng chính do Bộ Nội vụ đính chính. Đây là một vấn đề đau đầu. Và anh Thọ đang nghiên cứu bố trí công tác cho thỏa đáng.


 


Một cán bộ Ban Tổ chức TƯ theo dõi cán bộ CA cũng trả lời cán bộ CA là các anh TƯ đã biết chuyện của anh Tài, anh Thọ đang nghiên cứu công tác.


 


3. Các chuyện khác ngoài lề


 


Quốc Minh hiện làm hợp đồng ở BVĐ nói với Kỷ về hưu: Thành nó phàn nàn là tích cực giục; nhưng càng giục thì trên họ càng lờ đi.


 


Kỷ kể là một cán bộ ở Kiểm tra nói: ông Thọ nói chuyện đó bới ra, ích gì (nói về bản Anh văn).


 


- Nhân gặp anh Mười Hương, được biết thư gửi anh Sáu Dân, thì có đưa cho anh Mười Hương xem; và anh Sáu Dân có thư riêng về việc này gửi ra Ban Bí thư.


 


Kể ý kiến anh Thành về việc anh Thọ nói chuyện hồ sơ, thì anh Mười Hương cũng nghe; và cho rằng chính bây giờ phải làm cho mọi người hiểu rõ về chuyện hồ sơ. Nhưng tôi nói: Không phải tôi có trách nhiệm chứng minh; tôi chỉ báo cáo sự thật phần tôi, trách nhiệm chứng minh là BVĐ, Tổ chức, Vì họ nắm tài liệu. Vả lại, nếu buộc tội tôi, thì người buộc tội phải chứng minh tài liệu, không được nói tùy tiện; không thể cứ suy diễn đặt vấn đề buộc tội người ta, rồi bắt người bị buộc tội phải chứng minh tài liệu để giải đáp.


 


- Cũng dịp này, anh Trung Thành - cán bộ cũ của Cục D3 - lâu nay không gặp, vì nhiều lẽ. Anh ấy đến thăm, và kể cho biết chính mắt đã được đọc:


 


Một bản tài liệu địch mà tên Kiệt ghi đại ý là một tù nhân đặc biệt, không chịu khai, mà lại gây khó chịu cho tình báo TƯ Ngụy. Y ký tên thể hiện sự bực bội khi ghi ý kiến.


 


Một bản tự khai của thị Chi là trước nó không hiểu và có sợ Cộng sản. Nhưng qua làm phiên dịch cho Mỹ, thì mới thấy người Cộng sản như thế nào. Cảm phục và chuyển biến tư tưởng. Tên Kiệt thấy vậy, định thay người khác. Nhưng tụi Mỹ cho rằng thị Chi là Trưởng phòng phiên dịch, được tin cậy mà còn bị ảnh hưởng, thì đưa đứa khác cũng vậy. Càng thêm vết dầu loang. Chi bằng, nói thẳng cho con Chi, mua chuộc và khống chế nó, cấm lộ bí mật và tiếp tục dùng. (Điều này lý giải việc vì sao có thằng Mỹ đến dịch có một buổi thay con Chi).


 


Đúng là tờ Trắng Đen, báo của bọn di tản, số 37, 38, 39 năm 1977, hồi cuối năm, có giới thiệu cuốn Decent Interval của tên Frank Snepp. Và đến 1978 có dịch đoạn sách nói về tôi, với đầu đề là CIA giết gián điệp Cộng sản như thế nào (lý giải sự hồ đồ của Tiểu ban BVĐ và ông Thọ khi nói tên F. Snepp viết bài báo bào chữa; khi họ chưa nhận được chính cuốn sách này từ nước ngoài mua gửi về, và Bộ Ngoại giao chưa dịch).


 


Tôi đã chuẩn bị đầy đủ cho việc gặp Tổ chức TƯ và anh Thọ với nội dung và lý lẽ. Trở ngại bây giờ không phải là có gì chưa rõ. Mà chính là không dám đảm bảo quyền dân chủ trong Đảng, để tôi được quyền trình bầy ý kiến của tôi; còn người đã làm sai nhưng có quyền, thì cứ nói lấn lướt sau lưng tôi, và tránh né không dám trực tiếp đấu lý lẽ với tôi. Tình trạng làm việc không tập thể; còn tập thể thì tự thoái thác trách nhiệm và quyền kiểm tra cá nhân được phân công, khi cá nhân đó làm sai: đó là yếu tố quan trọng làm cho sự tiêu cực kéo dài.


(còn tiếp)


Nguồn: Khúc khuỷu đường đời - 11 năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận. Hồi tưởng và suy nghĩ của Nguyễn Tài. Chưa xuất bản.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »