tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
10.11.2009
Phạm Đình Trọng
Màu xanh Hà Nội

1. VÒM SẤU XÀO XẠC


 Mỗi đường phố Hà Nội có một nét riêng về phong cách kiến trúc, về cộng đồng dân cư và về tính năng xã hội. Những người chủ trong quá khứ của Hà Nội đã vô cùng tinh tế, chính xác khi chọn cho mỗi đường phố Hà Nội một loại cây đặc trưng.


       Đường Hoàng Diệu thênh thang, dải phân cách giữa đường và hai vỉa hè rộng rãi cho ba hàng xà cừ vạm vỡ vươn lên, cành lá tỏa rộng phủ bóng xuống bức tường thành rêu phong của kinh thành Đông Đô cổ kính làm cho đường phố hiện đại mà như sâu hút trong lịch sử. Đường Quang Trung, đường Phan Chu Trinh dập dìu người xe, nhộn nhịp dòng đời, mỗi độ xuân về hàng cây cơm nguội xanh lộc non làm cho con đường càng xanh tươi sự sống. Hàng cây sữa thưa thóang đường Nguyễn Du mùa thu về lại thả xuống đường phố thóang đãng hương thơm hắc nồng đậm đặc như quờ tay vơ được mùi hương. Tán sấu rậm rì, xanh tốt quanh năm trên đường Phan Đình Phùng, đường Trần Phú làm cho những biệt thự xinh xắn lùi sâu sau hàng song sắt, song bê tông càng tĩnh lặng, thâm nghiêm. Hàng sấu cổ thụ đường Phan Đình Phùng cây cao bóng cả, đạo mạo trang nghiêm như những người quyền cao chức trọng. Mùa đông giá lạnh, những chùm dây tơ hồng óng ánh vàng, giăng trên những tán sấu trẻ trung đang sức lớn đường Trần Phú, thả đung đưa dưới vòm cây, hàng sấu như lớp người trẻ cần bầu bạn quấn quýt. Và có một vòm sấu Hà Nội còn lại mãi trong kỉ niệm những người lính chúng tôi thời chiến tranh chống Mĩ.


        Máy bay Mĩ đánh bom Hà Nội. Các cơ quan dân sự phải di chuyển khỏi Hà Nội thì các cơ quan quân sự của Bộ Tổng Tư lệnh từ khu thành cổ Cột Cờ lại sơ tán ra các cơ quan dân sự đã bỏ trống. Phòng Chính trị, Bộ Tư lệng Thông tin di chuyển qua nhiều nơi: Bộ Tài chính ở phố Phan Huy Chú. Trường cấp ba Việt – Đức phố Lý Thường Kiệt. Trường cấp ba Nguyễn Trãi ở Kim Mã, nay là đường Giang Văn Minh. Cuối cùng về đình Hào Nam ở Giảng Võ. Tôi đã ở và làm việc ở tất cả những nơi đó. Đầu tiên cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh Thông tin đến kê bàn làm việc, kê giường ngủ ngay cạnh bàn làm việc trong gian phòng rộng mênh mông của ngôi nhà lớn Bộ Tài chính, số Tám phố Phan Huy Chú. Bộ phận Tuyên truyền của chúng tôi mới hình thành thuộc ban Tuyên huấn lúc đầu chỉ làm hai việc: viết báo và làm phim. Thời gian đầu chúng tôi ở gian phòng trên gác nhà số Bốn phố Phan Huy Chú góc đường Lý Thường Kiệt. Phạm Khắc Vinh và Nguyễn Duy Nhuệ đang cùng đạo diễn Nguyễn Chí Phúc bên xưởng Phim Quân đội làm bộ phim tài liệu Những cô gái Thông tin K6. Sau này trong chùm thơ dự cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, hội Nhà Văn Việt Nam, Nguyễn Duy Nhuệ kí tên là Nguyễn Duy và chùm thơ của anh có những bài rất hay như Tre xanh, Hơi ấm ổ rơm đã giành giải nhất cuộc thi thơ danh giá nhất nước và Nguyễn Duy nổi tiếng từ đó. Tôi lo thủ tục cho việc ra đời tờ báo Thông Tin, tờ báo ra đời sớm nhất trong các tờ báo quân chủng, binh chủng. Lúc đầu một mình tôi làm tất cả các việc. Tổ chức bài. Viết bài. Biên tập. Tổ chức mạng lưới cộng tác viên. Lên trang. Trình bày. Minh họa. Đạp xe xuống nhà in Quân đội ở Cầu Diễn, huyện Từ Liêm giao bài cho nhà in. Xuống nhà in sửa bông lần một, lần hai. Xin phòng Hậu cần chuyến ô tô xuống nhà in lấy báo về giao cho trung đòan quân bưu đang sơ tán ở trường Chu Văn An để các chiến sĩ quân bưu phát hành báo ra tòan quân. Ban ngày đạp xe chạy đủ việc. Trưa chiều cầm chiếc bát sắt tráng men sang bếp của phòng Chính trị ở số Bảy phố phan Huy Chú ăn cơm. Tối ngồi viết ở chiếc bàn lớn trên gác nhà số Bốn cạnh cửa sổ nhìn xuống đường Lý Thường Kiệt. Ngòai khung cửa sổ xanh rì tán lá sấu và lao xao tiếng gió. Mùa xuân hoa sấu lấm chấm trắng trong vòm lá xanh. Mùa hè chùm quả xanh lúc lỉu, chi chit uốn cành rủ trước cửa sổ. Qua những trận bão cuối hè đầu thu, chùm sấu rụng thưa. Đến cuối thu, sấu chín vàng, mỗi chùm chỉ còn vài quả. Đêm khuya mắc màn nằm ngủ trên chiếc bàn viết rộng đón ngọn gió luồn qua tán lá sấu vào phòng.


        Phạm Khắc Vinh, Nguyễn Duy Nhuệ cũng đi suốt ngày, tối về cũng ngủ trên hai chiếc bàn. Phạm Khắc Vinh sau này cũng giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ, hội Nhà Văn Việt Nam với truyện Trái chín. Chỉ có ba người ở đó nhưng căn phòng có ô cửa sổ xanh um lá sấu còn là nơi bắt đầu mối tình đẹp của thời chiến tranh gian khổ thiếu thốn đủ thứ và thiếu thốn lớn nhất là tình cảm. Phạm Đức là lính thông tin ở đơn vị kiểm sóat sóng vô tuyến điện. Đức đã có thơ in ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và được gọi lên bộ phận chúng tôi để viết về những tấm gương chiến sĩ thông tin xuất sắc. Đơn vị Đức ở ngay Hà Nội nên tối Đức vẫn trở về đơn vị. Nhân vật Đức đang gặp gỡ  khai thác tư liệu viết bài là nhân vật chính trong bộ phim tài liệu đang quay Những cô gái Thông tin K6 và cũng là diễn viên hát múa trong đội Văn nghệ Bộ Tư lệnh Thông tin, cô gái dân tộc Tày xinh đẹp của núi rừng Thái Nguyên, Triệu Thị Bộ. Gian phòng có vòm sấu bên cửa sổ của chúng tôi nhưng ban ngày chúng tôi đi vắng hết chính là nơi Phạm Đức hẹn gặp Triệu Thị Bộ để lấy tư liệu. Để rồi: Em rừng anh biển mà quen / Suối tình yêu nhỏ nên sông biển dài (Thơ Phạm Đức). Tình yêu của họ bắt đầu nảy nở từ gian phòng có tán lá sấu lao xao bên cửa sổ. Ngày Đức – Bộ làm đám cưới tôi không có mặt ở Hà Nội nên không được dự nhưng tôi được nghe kể rằng ngày cưới Đức - Bộ đúng vào ngày ở Chilê Pinôchê làm đảo chính giết hại Tổng thống Salvador Allende, người bạn thân thiết của Việt Nam nên ngày đó Việt Nam làm quốc tang, treo cờ rủ, dừng các họat động ca nhạc và đám cưới Đúc Bộ diễn ra trong âm thầm, lặng lẽ.


       Không có âm nhạc trong ngày cưới nhưng tình yêu của họ có màu xanh bền bỉ của vòm sấu Hà Nội. Ngày nay hai người con của họ đều đã trưởng thành và đều là những công dân Hà Nội.


 


2. BÓNG LIỄU HỒ TÂY


 


        Những năm qua, mỗi lần đến Hồ Tây tôi lại thấy mặt hồ sương khói huyền thọai như hẹp thêm một chút. Màn sương chiều bảng lảng trên mặt hồ như cũng mỏng ra, lõang đi một chút. Không gian huyền ảo của hồ cũng giảm đi sự thăm thẳm, lung linh để ngày càng trơ ra những khối nhà nhốn nháo, xô bồ chen nhau lấn ra hồ, lấn át  màu xanh bạt ngàn bên hồ.


        Lần này đến đường Thanh Niên vào chiều muộn tôi lại chợt nhận ra thêm một cái mất của Hồ Tây. Bờ Hồ Tây dọc đường Thanh Niên bây giờ đẹp hơn, thóang rộng hơn, sạch sẽ tinh tươm hơn trước rất nhiều. Lối đi bên hồ lát gạch, bờ hồ kè phẳng lì và hàng lan can sắt bên hồ đầy gợi cảm. Tôi cứ nghĩ hàng lan can thấp chạy sát mép hồ kia là chỗ tuyệt vời cho những lứa đôi tìm đến vừa để đắm trong tình yêu, vừa để đắm trong thiên nhiên kì diệu của Hà Nội. Nhưng chiều muộn rồi mà những lứa đôi sao lại thưa thớt thế nhỉ? Nhìn rải rác vài cặp đứng trống trải bên lan can sắt ven hồ tôi lại nhớ Hồ Tây thuở nào vừa dứt tiếng bom đạn đã san sát những lứa đôi nồng nàn bên nhau, trên thảm cỏ, trong um tùm mành liễu. Tôi lại  bâng khuâng tiếc hàng liễu rủ tự nhiên và thảm cỏ nhung bên Hồ Tây ngày nào.


       Mĩ đã leo đến nấc thang cuối cùng, đưa máy bay đến đánh phá Hà Nội. Hà Nội đã rỗng hẳn ra vì phần lớn dân đã rời Hà Nội sơ tán về các vùng quê xa. Năm 1967 Hà Nội rực lửa. Lửa đạn các lọai súng phòng không đan kín bầu trời. Lửa từ tên lửa Mĩ trên cao loang lóang phóng xuống. Lửa khói cuộn lên ngút trời từ những nơi bom Mĩ rơi. Lửa từ xác máy bay Mĩ rừng rực cháy lao xuống như thiên thạch. Cũng năm ấy binh chủng Thông tin mở đại hội Thi đua Quyết thắng ở trường Chu Văn An cạnh Hồ Tây, đầu đường Thanh Niên. Đám lính tuyên huấn chúng tôi đến ở hẳn trường Chu Văn An. Người trang trí hội trường. Người dựng tiết mục cho đội văn nghệ. Người đọc báo cáo thành tích, gặp gỡ điển hình để viết báo. Đại hội diễn ra chóng vánh nhưng chúng tôi còn ở lại trường Chu Văn An khá lâu để vẽ tranh, tổ chức triển lãm và hòan thành tập sách viết về các đơn vị và chiến sĩ thông tin xuất sắc từ các chiến trường về đại hội.


       Một sớm chúng tôi rất bất ngờ thấy ba trận địa pháo cao xạ ba mươi bảy li xuất hiện  trên sóng nước Hồ Tây. Mấy hôm trước chúng tôi đã thấy ba chiếc bè nổi được kết lại từ những khối hộp thép kín. Bây giờ trên ba bè thép đó là ba nòng pháo dõi lên trời và nhấp nhô những chiếc mũ sắt. Trận địa pháo trên mặt đất còn có thành đất đắp cao che chở. Trận địa nổi trên hồ thì trần trụi, đến cành lá ngụy trang cũng không có vì không còn tác dụng nữa. Vì thế chúng tôi phập phồng lo lắng theo dõi sự tồn tại của trận địa nổi trên Hồ Tây. Lúc đó cả miền Bắc đang hát ca ngợi Cồn Cỏ, hòn đảo  nhỏ nhoi, chơi vơi giữa biển đông vẫn vững vàng qua hết trận đánh này đến trận đánh khác của hàng đàn hàng lũ máy bay, tàu chiến Mĩ và chúng tôi liền gọi trận địa ba khẩu pháo trên Hồ Tây là Cồn Cỏ. Mỗi lần báo động, chúng tôi đều chạy ra hầm trú ẩn xây nổi bên Hồ Tây cạnh bãi đá bóng của trường Chu Văn An. Dù máy bay Mĩ đã gầm rú trên đầu cũng không ai chịu chui vào hầm mà đều đứng ở miệng hầm theo dõi trận đánh của ba khẩu pháo trên trận địa nổi Hồ Tây. Mỗi lần trận địa nổ súng, chúng tôi lại hét lên: Cồn Cỏ nổ súng rồi! Hoan hô Cồn Cỏ!


       Cùng phối hợp với trận địa trên Hồ Tây có trận địa súng bốn nòng đặt trên những chiếc xe bọc thép bánh hơi núp bên những khóm liễu ở đường Thanh Niên. Trận địa nổi trên hồ quất những đường đạn dựng đứng đan lưới lửa tầm cao thì những khẩu súng bốn nòng bên hồ kéo những điểm xạ dài giăng lưới lửa tầm thấp, tạo thành một thế trận chặt chẽ, lưới lửa dày đặc, tầng tầng lớp lớp.


       Vào đánh Hà Nội, Mĩ tự tin đưa loại bom mới rất chính xác và hiệu quả ra sử dụng, bom định hình được dẫn đường bằng hình ảnh của chính mục tiêu. Lọai bom này đã thổi bay mấy nhịp cầu Long Biên. Năm trước, ngay lần đầu tiên Mĩ đánh ra Hà Nội chúng đã đánh trúng kho xăng Đức Giang, phía Bắc cầu Long Biên. Lần này những tốp máy bay đều hướng vào nhà máy điện Yên Phụ, ngay phía Nam cầu Long Biên.


       Trước khi trận địa nổi trên Hồ Tây xuất hiện, Mĩ đã cho nhiều lượt máy bay trinh sát điện tử, máy bay không người lái vào trinh sát Hà Nội vì thế máy bay Mĩ chọn hướng Hồ Tây mênh mông sóng nước không có trận địa phòng không để nối nhau hạ độ cao lao đến mục tiêu nhà máy điện Yên Phụ. Quá  bất ngờ khi những đường đạn rất tập trung từ Hồ Tây quất lên, giặc lái Mĩ chưa kịp cắt bom đã vội vọt lên cao bảo tòan mạng sống rồi cắt vội bom, rút lẹ!


       Chúng tôi càng bất ngờ và thích thú khi được chứng kiến từ nhà máy điện Yên Phụ những vòng tròn khói đen bao quanh nhà máy liên tiếp phun lên xóa đi hình ảnh mục tiêu của những trái bom tinh quái được dẫn dắt bằng hình ảnh chính mục tiêu. Đứng bên Hồ Tây chúng tôi nhìn rất rõ từ xa đội hình máy bay Mĩ lừ lừ lao đến, những chớp lửa đầu nòng từ những khẩu pháo ở trận địa trên hồ, đội hình máy bay Mĩ tan tác vọt lên cao và những vòng tròn khói đen từ nhà máy điện Yên Phụ liên tiếp cuộn lên.


       Trận đánh kết thúc. Đòan xe bọc thép trên đường Thanh Niên lập tức di chuyển đến vị trí bất ngờ khác. Trận địa nổi trên Hồ Tây không còn yếu tố bất ngờ nữa nhưng vẫn bình thản neo lại đó chờ giặc. Nhà máy điện Yên Phụ vẫn an tòan cung cấp điện cho thủ đô.


       Trong niềm vui phấn chấn vừa được chứng kiến một trận đánh ngọan mục, trong không khí tĩnh lặng thanh thản chiều muộn Hà Nội, chúng tôi ra thăm trận địa trên đường Thanh Niên. Những tán cây cao trên đường đều đã bị hạ để mở tầm nhìn cho chiến sĩ trên tháp xe bọc thép. Cả những ngọn liễu vọt cao cũng bị hạ nhưng những cành liễu rủ tha thướt dưới thấp vẫn được giữ lại che chở, ngụy trang cho những chiếc xe bọc thép. Dường như trong không khí  vẫn còn mùi khét của khói súng và mùi hôi dầu mỡ của những vòng khói đen lúc chiều. Thế mà, thật kì diệu, trong chiều chạng vạng, trong  tán liễu rủ lòa xòa, trên thảm cỏ bên Hồ Tây dọc đường Thanh Niên lại san sát những đôi trai gái say đắm bên nhau. Tình yêu ở đâu và thời nào cũng đẹp nhưng sau trận Hà Nội đánh trả máy bay Mĩ, những lứa đôi lại dẫn nhau đến mảnh đất trận địa trên đường Thanh Niên để thể hiện tình yêu với nhau lại càng đẹp.


       Thảm cỏ mượt êm đường Thanh Niên ngày ấy, những khóm liễu tha thướt đã tham gia vào trận đánh bảo vệ Hà Nội ngày ấy nay đâu nhỉ?  


      


3. DƯỚI  TÁN CÂY CƠM NGUỘI


 


       Tán cây cơm nguội không dày đặc, kín mít, không tỏa rộng, râm mát như tán xà cừ. Tán xà cừ rậm rì, âm u một khối che kín bầu trời, không thấy sắc lá, không thấy vòm trời. Đi dưới tán cơm nguội không thể không ngắm vòm trời mùa thu, không thể không ngắm sắc lá mùa xuân.


       Cuối thu, cây cơm nguội bắt đầu thay lá. Ngọn gió se lạnh xào xạc trên vòm lá. Những chiếc lá cơm nguội nhỏ, vàng như tia nắng mong manh chiều cuối thu lả tả bay trên phố. Vòm lá cơm nguội vốn đã thưa thóang, bây giờ càng thưa thóang hơn để lộ ra vòm trời mùa thu xanh ngăn ngắt trên những khối nhà khấp khểnh cao thấp. Vẫn màu xanh muôn thuở, màu xanh vòm trời mùa hè Hà Nội cũng vô tư, hời hợt như vòm trời mọi nơi khác. Nhưng màu xanh vòm trời mùa thu Hà Nội sao bâng khuâng, da diết thế!


       Suốt mùa đông cây cơm nguội thong thả rứt lá vàng rải xuống phố để đến mưa phùn mùa xuân, tán cơm nguội bỗng bừng sáng lên trong sắc lá non óng ánh làm ngỡ ngàng cả con đường. Mưa như rây bột, không  nhìn thấy hạt. Đi trên phố biết có mưa bởi những hạt mát lạnh tạt vào má, dính vào cánh tay trần làm ướt má, ướt tay. Nước đọng thành giọt  trên lá cây nhỏ giọt xuống đường. Cuối phố chìm trong màn sương trắng mờ. Đi dưới tán lá non cơm nguội đường Quang Trung tôi cứ miên man nghĩ đến bạn tôi, nhà văn Hòa Vang nay đang phiêu diêu trong miền cực lạc. Đọan đường Quang Trung ngắn ngủi này cũng là đọan đường Hòa Vang dẫn tôi về nhà anh, đọan đường đầu tiên chúng tôi đi với nhau.


       Những năm tám mươi nghèo khổ ở thế kỉ trước, tôi còn trong quân ngũ, là biên kịch ở xưởng Phim Quân đội. Nhà văn Vũ Bão, phó tổng biên tập kiêm thư kí tòa sọan, kiêm luôn cả trưởng ban biên tập tờ báo Điện ảnh thuộc bộ Văn hóa và Thông tin thường đặt tôi viết bài. Bình thường muốn có bài về nơi nào, người giao việc chỉ cần cấp cho người nhận việc cái giấy giới thiệu đến nơi đó nhưng nhà văn đàn anh Vũ Bão không làm thế. Ông chưa hề cấp cho tôi cái giấy giới thiệu nào. Ông thường đạp xe từ nhà ở ngõ Quỳnh, Bạch Mai, hoặc từ tòa báo ở phố Trần Hưng Đạo đến tận xưởng Phim Quân đội, nhà số Mười bảy, phố Lý Nam Đế, nơi tôi có một khoang nhỏ chín mét vuông trong dãy nhà mái tôn ngăn ra nhiều gian, dãy nhà dài như một đòan xe lửa chở hàng. Dạo ấy chưa có điện thọai cầm tay nên có khi ông đến lại không gặp tôi, ông phải viết giấy để lại. Gặp thì ông dẫn tôi đi gặp ông đạo diễn này, cô diễn viên kia, trực tiếp giới thiệu tôi viết bài về họ, để tôi ở lại, ông lại đạp xe về. Ông đã dẫn tôi xuống tận khu văn công Mai Dịch để gặp đạo diễn điện ảnh Quốc Long, đến nhà đạo diễn Trần Đắc ở trong khu Chợ Trời ngõ Thịnh Yên.


       Một buổi chiều tôi đang ngồi với Vũ Bão ở tòa báo, 65 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội thì một người mày rậm, tóc dài bồng bềnh sau gáy bước vào cửa nhìn Vũ Bão, miệng râu ria lởm chởm lên tiếng: Ông anh viết giấy gọi, em phải đến ngay. Vũ Bão bảo: Tao sang tìm thấy cửa khóa phải viết giấy để lại. Vũ Bão giới thiệu chúng tôi. À ra Hòa Vang. Hòa Vang nắm chặt tay tôi, nghiêng mặt nhìn thẳng vào mặt tôi, mặt vẫn rất nghiêm, bảo: Rồi! Đọc rồi! Vẫn nắm chặt tay tôi, Hòa Vang kéo tôi đứng lên và nói với Vũ Bão: Sang nhà em! Hôm nay phải có chén rượu. Chúng tôi cuốc bộ theo Hòa Vang đi mấy bước phố Trần Hưng Đạo rẽ sang phố Quang Trung. Qua hai ngã tư, ngã tư Thợ Nhuộm, ngã tư Lý Thường Kiệt, rẽ vào ngõ số Năm.


       Những năm ấy cả nước nghèo khổ, cả nước trên chiếc xe đạp. Hà Nội còn nghèo khổ hơn các nơi khác ở chỗ nhà ở rất chật hẹp. Hòa Vang ở gian cuối trong dãy nhà mặt đường nhưng gian nhà ngăn làm hai, nửa gian mặt đường của người khác. Nửa gian nhà phía sau chắc cũng chỉ chín mét vuông, qua lối đi hẹp, có thêm gian bếp con con. Giá để bát, bếp dầu, nồi niêu, để một hàng sát tường. Phần còn lại của bếp chỉ đủ trải được chiếc chiếu trên nền gạch hoa. Đó là nơi ngủ, nơi làm việc, nơi tiếp khách của Hòa Vang. Hòa Vang lấy trên giá sách xuống chai rượu hình chữ nhật, nhỏ và mỏng như quyển sổ tay và ba chiếc li. Hòa Vang bảo: Anh Vũ Bão không uống rượu nhưng hôm nay em và Trọng gặp nhau, anh phải nhấp một chút với bọn em. Nào cụng li! Vũ Bão nâng lên đặt xuống chiếc li nhỏ hai, ba lần, ngồi đợi chúng tôi vãn cuộc rượu mới bàn công việc với chúng tôi.


       Nhà văn Vũ Bão có một truyện ngắn rất hóm Nhà trẻ không có bô viết về nghịch cảnh của một cơ quan sang trọng nọ trở thành nơi các chức sắc gửi gắm con cái đến, đám nhân viên cậu ấm cô chiêu ấy không biết làm việc và cũng chẳng cần làm gì. Dường như tờ báo cấp Bộ nhưng bé con con của Vũ Bão chỉ có chục người, cũng có tình cảnh ấy. Ban biên của Vũ Bão có năm phóng viên nhưng ai viết gì thì viết, ông không chờ đợi, hi vọng. Những đề tài, những bài viết ông thấy cần phải có, ông đều đặt tôi và Hòa Vang. Từ đấy manh chiếu trải ở gian bếp chật chội nhà Hòa Vang trở thành bàn làm việc ban biên tập thực sự của tờ báo do Vũ Bão là trưởng ban. Vũ Bão bàn bài vở từng số báo với tôi và Hòa Vang rồi tôi và Hòa Vang chia nhau đi viết.


       Quê Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây nhưng gia đình Hòa Vang đã có mấy đời ở Hà Nội. Chất Hà Nội ở Hòa Vang rõ lắm. Ba tập truyện ngắn, ba tiểu thuyết đã xuất bản, được tặng giải nhì cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ, hội Nhà Văn Việt Nam, Hòa Vang là một kẻ tài hoa. Tài hoa. Tinh tế. Lịch lãm. Cả cái sĩ cũng rất rõ. Sĩ diện. Điệu đàng. Làm duyên. Một thời sở Văn hóa Thông tin Hà Nội còn có đơn vị gọi là xưởng Phim Đèn chiếu, sản xuất những đoạn phim bằng hình ảnh tĩnh chiếu lên màn ảnh kèm với lời đọc giải thích tuyên truyền. Hòa Vang làm biên tập những đoạn phim này. Trong những bản lí lịch của mình, Hòa Vang ghi là Biên tập văn học nhưng không ghi tên cơ quan văn học đó. Tôi đã đến nhà Văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh dự buổi giao lưu kết thúc cuốc đi bộ dọc đất nước của nhà văn Hòa Vang cùng nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc, tôi càng nhận ra vẻ điệu đàng của Hòa Vang. Anh ngồi bệt xuống chiếc bục đặt trên sân khấu, chiếc điếu cày luôn bên cạnh. Anh nghiêng mặt hút điếu cày rồi kể về chiếc mũ nhà văn Tô Hoài tặng trước lúc lên đường, anh hát bài Huyền thoại Mẹ của Trịnh Công Sơn. Hòa Vang ham rượu thì ai cũng biết. Anh ngồi cả buổi ở quán. Anh la đà đến khuya ở nhà bạn. Trong túi quần anh bao giờ cũng có cái chai nhỏ, dẹp, mỏng và hơi khum khuôn theo thân người, vỏ là chai rượu Tây, bên trong là rượu Vân. Rượu có sẵn ở quán, có sẵn ở nhà bạn. Chai rượu anh mang bên người như chỉ để làm duyên mà thôi.


       Xưởng Phim Đèn chiếu của Hòa Vang hết vai trò, không còn việc làm. Vợ chồng anh còn nuôi hai đứa con gái đang đi học mà chỉ còn lương giáo viên của chị Lan, vợ anh. Hòa Vang lăn vào viết báo. Chị Lan phải đặt chiếc tủ con bán thuốc lá dưới tán cây cơm nguội trước ngõ. Tôi được anh Nguyễn Hữu Cẩn tổng biên tập tờ Màn ảnh Sân khấu Hà Nội giao cho tổ chức bài cho tờ báo của anh. Một buổi chiều tôi đến nhà Hòa Vang để chia việc với anh thấy anh ngồi bên tủ thuốc lá trước ngõ. Vợ anh đi công việc và anh phải ôm tủ thuốc lá thay vợ. Hòa Vang chạy  vào nhà lấy thêm chiếc ghế. Tôi đã ngồi với Hòa Vang cả buổi chiều dưới tán cây cơm nguội đang thay lá để bàn về những bài báo cần có cho số tháng sau của tờ Màn ảnh Sân khấu Hà Nội.


 


4. THẢM CỎ SÂN CỘT CỜ


 


       Nằm giữa điện Kính Thiên và tháp Cột Cờ trong khu thành cổ Hà Nội, sân vận động Cột Cờ có từ thời Pháp chiếm đóng. Khi tôi còn là lính báo vụ, binh nhất, làm việc trong tổng trạm Thông tin vô tuyến điện Bộ Tổng Tư lệnh, chiều vào sân Cột Cờ đá bóng, tôi vẫn nghe những sĩ quan lớn tuổi thuộc lớp sĩ quan đầu tiên của quân đội hình thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp gọi sân Cột Cờ bằng tên có từ thời Pháp thuộc là sân Mang Gianh.


       Năm đó tôi vừa bước vào tuổi hai mươi. Trong những kỉ niệm của tuổi hai mươi xanh biếc, có những kỉ niệm với màu xanh sân Cột Cờ tôi không thể quên. Năm 1964 miền Bắc chưa có chiến tranh, mức ăn của bộ đội khá lắm. Nhưng với đám lính trẻ chúng tôi, đêm ôm máy bảo đảm liên lạc, chiều nào sau giờ làm việc cũng ra sân Cột Cờ quần nhau với quả bóng thì ăn như thế còn thòm thèm. Quanh sân Cột Cờ, giữa những bụi cỏ, sát chân khán đài xi măng, rải rác những ngọn rau dền cơm lá nhỏ như vảy ốc. Chúng tôi hái dền cơm rồi mượn nhà bếp chiếc nồi nhỏ nấu nồi canh mang đến nhà ăn làm món ăn thêm. Canh dền cơm hoang dại ngọt vô cùng. Hái mãi dền cơm cũng hết nhưng chỉ sau trận mưa, mầm dền cơm non lại lên xanh, lại cho chúng tôi những nồi canh ngọt. Đó là màu xanh của cây cỏ sân Cột Cờ. Ở sân Cột Cờ còn có màu xanh của tình đồng đội và màu xanh của thế hệ chúng tôi nữa.


       Một buổi chiều chúng tôi đang mê mải với quả bóng thì vị tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng từ phía tòa nhà khán đài A đi lại chỗ chúng tôi. Ông cởi chiếc áo sơ mi trắng đưa cho viên chuẩn úy cần vụ đi theo và nhìn theo quả bóng, nói to: Cho mình đá với. Mọi buổi chiều, từ nhà riêng phía bên kia đường, ông đi bộ qua đường Hòang Diệu sang bơi ở bể bơi trong câu lạc bộ Quân đội. Hôm ấy thứ sáu, bể bơi đang tháo nước ra thay. Thấy chúng tôi đá bóng, ông liền xin tham gia. Hai đại đội thông tin, Xê Ba vô tuyến điện và Xê Bốn đường dây đang thi đấu. Lính Xê Bốn thường ít người ra sân bóng, Xê Ba phải san người sang đá cho Xê Bốn. Chúng tôi liền để vị tướng vào đá cho bên Xê Bốn. Lúc đầu bóng đến chân vị tướng chúng tôi còn có ý dè dặt, nhường nhịn, sau ham bóng quá, binh nhất Nhẫn liên tục làm cho vị thượng tướng nặng nề chậm chạp nhưng cũng rất ham bóng cứ ngã lên ngã xuống và viên chuẩn úy cần vụ của vị tướng đứng ngòai cứ hốt hỏang lo lắng. Tan trận đấu, binh nhất lính thông tin Nhẫn liền chạy đến hỏi vị thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng: Thủ trưởng ơi, thủ trưởng có bị đau không ạ? Vị tướng khóac vai Nhẫn, bảo: Cậu đá hay lắm. Nhìn cậu đá mình phải thèm nên cứ xông vào đá, đâu có biết đau! Nhẫn cũng quàng tay ngang eo vị tướng đi theo ông về phía khán đài A như đôi bạn bằng vai phải lứa.  


       Cột Cờ là sân tập của đội bóng đá Thể Công lừng danh lúc đó. Sân Cột Cờ là chiếc nôi của nhiều thế hệ cầu thủ tài năng mà tên tuổi của họ đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Nhưng rất ít người biết tên một người lính đá bóng từ sân Cột Cờ đi ra mặt trận đã trở thành một người Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Khánh.


       Khánh là con một liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp quê ở Nam Nhuế, Nam Sách, Hải Dương. Từ nhỏ Khánh được người cậu ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội nuôi ăn học. Đủ tuổi lao động Khánh trở thành công nhân nhà máy quốc phòng trên Yên Bái. Thời đi học, đá bóng ở bãi sông Hồng Hà Nội. Làm thợ, đá bóng ở đồi trọc Yên Bái. Từ bãi bóng giữa miền rừng Yên Bái, Khánh được phát hiện đưa về đội bóng đá Thể Công và trở thành một mũi nhọn sắc bén trên hàng tiền đạo. Nhưng Khánh lại mang bệnh thấp khớp mãn tính. Những hôm đội Thể Công tập ở sân Cột Cờ mà Khánh ngồi trên hàng ghế xi măng xem cả đội tập là tôi biết hôm đó trở trời, đầu gối Khánh lại xưng đỏ lên. Khánh hơn tôi hai tuổi nhưng cũng mang quân hàm binh nhất như tôi, coi như cùng trang lứa và chúng tôi nhanh chóng thân thiết với nhau. Khánh đã nhiều lần dẫn tôi ra nhà cậu Chất của Khánh ở phố Hàng Thiếc.


       Máy bay Mĩ đánh phá Hà Nội. Các đơn vị, cơ quan quân sự trong khu Cột Cờ đều phải san người ra, rời một bộ phận lớn khỏi khu Cột Cờ, lập khu B. Tổng trạm Thông tin vô tuyến điện chia làm hai. Một bộ phận vẫn bám ở Cột Cờ bảo đảm thông tin cho Bộ Tổng tư lệnh. Tôi theo bộ phận đến chân núi Ba Vì lập một trung tâm thông tin dã chiến. Trước hôm tôi rời Hà Nội, Khánh tặng tôi chiếc ảnh hồi Khánh mới về đội Thể Công, binh nhì Phạm Ngọc Khánh, đầu đội mũ cứng, bên cạnh ngôi sao binh nhì trên ve cổ áo là phù hiệu cánh cung mũi tên của Thể Công. Tôi chỉ ở Ba Vì một thời gian ngắn lại được điều về Hà Nội làm tờ báo Thông tin của Bộ Tư lệnh Thông tin. Đến Hàng Thiếc tìm Khánh, tôi được biết Khánh cùng đội bóng đá Thể Công đã chuyển lên trường Sĩ quan Lục quân ở Phúc Thọ, Sơn Tây. Từ đấy, thỉnh thoảng tôi lại qua Hàng Thiếc hỏi tin Khánh. Khánh đang học trường Sĩ quan Lục quân. Khánh ra trường, về đơn vị bộ binh và đã vào mặt trận, nghe đâu ở Quảng Trị. Một buổi chiều tôi đến Hàng Thiếc, vừa thấy tôi, bác Chất, cậu của Khánh thốt kêu lên: Khánh hi sinh rồi, cháu ơi! Bác đưa cho tôi quyển sách mỏng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tập sách giới thiệu mười hai đơn vị và chín cá nhân Anh hùng quân Giải phóng miền Nam trong đợt tuyên dương ngày 15 tháng hai năm 1970. Tôi tìm ngay được trang có hàng chữ đậm Anh hùng Phạm Ngọc Khánh. Ảnh Khánh in bên dưới chính là bức ảnh Khánh đã tặng tôi, anh lính binh nhì Phạm Ngọc Khánh nhưng đã được cắt cúp chặt lại, không còn chiếc mũ cứng trên đầu và ngôi sao trên ve cổ áo.


       Bản tuyên dương công trạng Phạm Ngọc Khánh ghi: Trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh thuộc đại đội 10, tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh 246. Trong chiến dịch Đường Chín – Khe Sanh xuân hè 1968, trong đội hình đại đội đánh chiếm điểm cao 689, hướng tiến công của trung đội Phạm Ngọc Khánh bị chặn đứng bởi lưới lửa từ khẩu đại liên địch trên cao quét xuống. Dẫn đầu trung đội, trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh hai lần bị thương vào cánh tay trái và phần mềm đùi trái. Cả trung đội ùn lại dưới làn đạn giặc. Lần thứ ba, anh lại bị đạn địch bắn gãy chân phải. Tình thế vô cùng hiểm nghèo, không tiến không lui được, cứ chôn chân dưới làn địch rồi sẽ thương vong hết. Phải diệt khẩu đại liên địch, đơn vị mới tiến lên được. Trung đội trưởng phải xốc trung đội tiến lên. Không đứng được nữa, bằng tay phải còn lành lặn, trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh ôm thủ pháo lựa địa hình lết lên sát điểm lửa, dùng hết sức còn lại anh dướn lên ném thủ pháo diệt được khẩu đại liên. Lập tức, chiến sĩ trung đội Phạm Ngọc Khánh liền ào lên chiếm lĩnh điểm cao. Tấm gương chiến đấu hi sinh của trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh có sức cổ vũ to lớn đối với toàn mặt trận Đường Chín – Khe Sanh. Chiến sĩ mặt trận Đường Chín – Khe Sanh gọi Phạm Ngọc Khánh là Phan Đình Giót của Khe Sanh.


       Tuy phòng Chính trị bộ Tư lệnh Thông tin sơ tán ra cơ quan bộ Tài chính phố Phan Huy Chú nhưng do công việc, tôi vẫn thường xuyên ra vào khu thành cổ Cột Cờ. Mỗi lần qua sân Cột Cờ tôi lại nhớ đến Khánh, đến Nhẫn, những người lính cùng thế hệ với tôi. Khánh đã hi sinh ở Quảng Trị. Nhẫn đang phụ trách một tổ đài vô tuyến điện chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ. Tôi lại thấy màu xanh bền bỉ của thảm cỏ sân Cột Cờ như xanh hơn, như trải ra mênh mông đến mọi ngọn đồi, mọi sườn núi đất nước.


 


5. NHỚ MỘT BÓNG ĐA


       Cánh cổng lớn. Mảnh sân rộng chạy dài vào phía trong, nơi có khối nhà sáng sủa nhưng trầm tư, tĩnh lặng. Ngay cổng nhìn vào, bên mảnh sân, cây đa sừng sững, uy nghi. Hồi ấy tòa báo Nhân Dân như một cung đình báo chí ở miền Bắc. Đối với đám lính trẻ mới bước chân vào nghề báo như chúng tôi, ở nơi có cây đa đại thụ ấy còn có những con người tên tuổi cũng uy nghi như bóng đa mà tấm lòng thì trìu mến thân thiết như bóng mát của tán đa. Nhà thơ Gia Ninh là một bóng đa đó.


       Sinh năm 1917, cùng năm, cùng tháng và sinh trước Xuân Diệu một ngày, Gia Ninh cùng với Xuân Diệu là hai trong số những nhà thơ đã làm nên phong trào thơ mới trẻ trung, khỏe khoắn những năm ba mươi thế kỉ hai mươi. Gia Ninh cũng là người đi với cách mạng từ những ngày đầu. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông trở thành Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Khánh Hòa. Năm sau, 1946 ông là quyền giám đốc sở Thông tin Tuyên truyền Trung Bộ. Báo Nhân Dân từ Việt Bắc trở về Hà Nội, Gia Ninh là một trong mấy người đầu tiên xây dựng nên trang Văn nghệ báo Nhân Dân. Tôi chỉ biết đến cái vóc dáng lừng lững ấy của cây đa Gia Ninh sau khi đã được ngồi dưới bóng mát cây đa ấy.


       Thấy tôi lơ ngơ giữa mảnh sân rộng và vắng, một người dáng đậm từ trong ngôi nhà tĩnh lặng bước đến, ánh  mắt thân thiện nhìn tôi, người đó nhỏ nhẹ hỏi: Đồng chí bộ đội tìm ai? Tôi thưa rằng tôi đợi anh Địch Thanh ở ban Quân sự. Anh Địch Thanh hẹn gặp nhưng anh lại vừa chạy đi đâu đó. Vẫn ánh mắt thân thiện, giọng  nhỏ nhẹ ấy lại nói: Vậy mà tôi tưởng đồng chí mang thơ đến cho chúng tôi. Tôi là Gia Ninh làm mục Thơ Bộ Đội nên các đồng chí bộ đội cũng hay đến tìm tôi lắm. Đồng chí tên là gì? có làm thơ không? Nhà thơ Gia Ninh dẫn tôi đến ngồi xuống chiếc ghế đá dưới bóng đa bên mảnh sân. Ông giới thiệu về mục Thơ Bộ Đội trên báo mà ông biên tập. Ông nhỏ nhẹ đọc những bài thơ của lính mà ông thuộc như thơ của ông.


        Những ngày ấy mặt trận phía nam sông Bến Hải đang nóng bỏng. Pháo tầm xa của ta từ bờ Bắc bắn sang điểm cao 241, Cồn Tiên, Dốc Miếu. Các trung đoàn bộ binh chủ lực ta bao vây căn cứ Đầu Mầu, Tà Cơn. Tư lệnh phó bộ Tư lệnh Thông tin trực tiếp vào Đường Chín, Khe Sanh tổ chức mạng thông tin bảo đảm chỉ huy từ bộ Tổng Tư lệnh vào mặt trận. Có đường dây điện thoại, đêm đêm chúng tôi vẫn gọi điện vào Phòng Thông tin mặt trận Đường Chín – Khe Sanh nhận tin chiến sự. Chúng tôi viết tin chiến sự, viết về những tấm gương chiến đấu cho báo Quân đội Nhân dân, báo Nhân Dân, buổi Phát thánh Quân đội Nhân dân. Tôi được gặp nhà thơ Gia Ninh trong những ngày sôi động đó.


       Sau này ở khóa I trường Viết Văn Nguyễn Du, tôi được gặp Nguyễn Hoa, một người lính làm thơ có thơ được in ở mục Thơ Bộ Đội báo Nhân Dân trong những ngày ấy. Nguyễn Hoa kể rằng tên cha mẹ đặt cho anh là Nguyễn Hoa Kỳ. Anh cũng kí tên đó trong bài thơ Mưa gửi về báo Nhân Dân nhưng khi bài thơ được in trên báo thì tên người viết lại là Nguyễn Hoa và ngòi bút của anh mang tên Nguyễn Hoa từ đó.  


       Ngày ấy chiến tranh đang ác liệt, anh còn là người lính thợ ở xưởng quân giới trong rừng sâu Hòa Bình, chiều chiều vẫn lên văn phòng xưởng mượn báo đọc. Hàng ngày chỉ có hai tờ báo Nhân Dân và Quân đội Nhân dân. Hàng tháng có thêm tờ Văn nghệ Quân đội. Báo Quân đội Nhân dân rất ít đăng thơ. Tạp chí Văn nghệ Quân đội đăng nhiều thơ đấy nhưng hầu hết là  thơ của những nhà thơ quen thuộc. A, báo Nhân Dân có mục Thơ Bộ Đội này. Người lính thợ làm thơ đọc rất đều những bài Thơ Bộ Đội trên báo Nhân Dân thấy toàn những tên tuổi mới tinh: Phạm Như Hà, Nguyễn Văn Chương, Gia Dũng, Lương Sơn . . . dưới những cái tên ấy đều có ghi hòm thư và những hòm thư ấy cho biết họ đều là những người lính ở các đơn vị trong toàn quân. Nguyễn Hoa Kỳ liền nắn nót chép bài thơ Mưa mới làm vào tờ giấy thếp năm hào hai, gấp lại cho vào bì thư gửi theo đường bưu điện đến báo Nhân Dân. Từ đấy chiều nào cầm tờ báo Nhân Dân anh cũng mở ngay trang giữa tìm mục Thơ Bộ Đội. Nhưng bài thơ Mưa mất hút chẳng thấy tăm hơi. Đã tưởng bài thơ bị thất lạc không đến được báo hoặc nó quá non kém đã bị báo loại rồi. Thôi, cứ chịu khó đọc Thơ Bộ Đội trên báo Nhân Dân xem bạn bè cùng trang lứa viết như thế nào. Một buổi chiều bỗng Nguyễn Hoa Kỳ sửng sốt thấy bài thơ Mưa được in trong một khung nhỏ nhưng trang trọng và thưa thoáng, rất dễ nhìn thấy. Nguyễn Hoa. Mưa. Cũng là bài thơ Mưa nhưng của Nguyễn Hoa chứ đâu phải của mình. Nguyễn Hoa Kỳ đọc đi đọc lại bài thơ. Đúng thơ mình rồi, không sai một chữ. Chỉ sai mỗi tên tác giả. Sao vậy nhỉ? Đến khi nhận được thư của nhà thơ Gia Ninh, Nguyễn Hoa Kỳ mới hiểu rõ nguồn cơn. Đồng chí Nguyễn Hoa Kỳ thân mến. Bài thơ Mưa của đồng chí viết về những hạt mưa lấp lánh rạo rực như tâm hồn những người lính trẻ, chúng tôi đã đăng trong mục Thơ Bộ Đội báo Nhân Dân ngày . . . Chúng ta đang chiến đấu cam go với đội quân xâm lược Hoa Kỳ không những trên mặt trận quân sự mà còn trên cả các mặt trận chính trị, ngoại giao, tuyên truyền, vì thế để có thể sử dụng được bài thơ của đồng chí trên báo Đảng, chúng tôi mạn phép đồng chí lược bớt chữ Kỳ trong tên tác giả. Mong đồng chí cảm thông và tiếp tục gửi những sáng tác mới cho chúng tôi. Đọc đi đọc lại thư của nhà thơ Gia Ninh rồi Nguyễn Hoa Kỳ liền chép một chùm thơ mới kí tên Nguyễn Hoa gửi cho nhà thơ Gia Ninh. Bài thơ Mưa của Nguyễn Hoa được nhà thơ Gia Ninh chọn in trên báo Nhân Dân đã mở cho Nguyễn Hoa con đường vào văn chương để hôm nay cơ quan hội Nhà Văn Việt Nam có Trưởng ban hội viên là nhà thơ Nguyễn Hoa.


       Tôi không làm thơ nên không có thơ in trong mục Thơ Bộ Đội ở báo Nhân Dân nhưng không bao giờ tôi quên cây đa bên mảnh sân báo Nhân Dân mà có lần tôi đã được ngồi với nhà thơ Gia Ninh dưới bóng mát của nó.


PĐT.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 


 


      

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »