tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
30.11.2009
Trần Văn
Dấu ấn nghề nghiệp

Anh nghỉ hưu đã được vài ba năm. Tuổi chưa cao lắm nhưng có một vài thứ bệnh khiến đi lại khó khăn. Tôi đến thăm, thấy tinh thần báo chí vẫn sục sôi trong anh. Hình như trong cõi thế gian này có những người sinh ra chỉ để làm một công việc. Anh sinh ra là để làm báo. Anh đã để lại dấu ấn của mình về nghề báo. Xin được kể lại chuyện làm báo của anh cách đây đã lâu. Nghĩ rằng, đã là dấu ấn, chắc không bao giờ cũ.


Ở năm thứ hai của thập niên 80 thế kỷ trước, báo H. giống như trụ sở một cơ quan chuyên ngành. Mỗi sáng, mỗi chiều, dòng chảy chính vào ra cơ quan vẫn là xe đạp. Cả cơ quan chỉ có hai xe ô tô con. Chiếc La Dalat là xe chung cho các đồng chí lãnh đạo. Chiếc Peugeot màu sữa đã bị thời gian bào mòn biến thành thứ màu gì đó không rõ dành cho sếp nhất. Có chừng 10 chiếc xe gắn máy, trong đó sang trọng nhất vẫn là chiếc xe Honda thời 70 của ông ủy viên ban biên tập phụ trách trị sự.


Thêm một đặc trưng của thời bao cấp là sự định hình định dạng những khoảng trống. Người ta có thể thấy nhiều không gian mộng mơ, hoài cảm trên đường đi. Hồi đó, trong ý thức lưu thông, hầu như không có ai cài đặt nỗi lo sợ bị xe cán hay sụp hố ga, ổ gà. Mây trời, mưa nắng luôn quấn quýt quanh ta trên đường đi. Khung cảnh cơ quan báo êm đềm như dòng sông Sài Gòn ngược xuôi con nước, dềnh dang lục bình, lãng đãng gió, mây.


Thực ra, nếu quan sát kỹ, cũng có những cái nhanh nhạy, gấp gáp. Đầu tiên là anh chàng lái xe với vóc dáng bình thường nhợt nhạt. Khi xe vừa tắt máy, anh ta nhanh nhẹn nhảy vọt ra khỏi xe và ngay lập tức mở cửa xe cho thủ trưởng. Giống như một diễn viên xiếc, các thao tác của anh ta rất chính xác, mau lẹ.


Chưa nhìn rõ mặt anh ta đã thấy cái đầu nhọn tóc ngắn được chải chuốt cẩn thận của tổng biên tập nhô lên. Ông ra khỏi xe nhanh hơn người bình thường ít nhất là 5 giây. Tay lái xe bảo: “Ông quăng người ra khỏi xe, hay thiệt!”. Những bước đi của ông không dài, không ngắn, không cao, không thấp. Chưa bao giờ thấy ông vội vàng hấp tấp. Không biết trong đầu ông có những gì, nhìn dáng đi, người ta thấy rõ ông là người nhiều lo toan, lắm suy nghĩ. Đầu ông luôn cúi xuống, chỉ có thể nhìn trước ba bước chân. Ông đi một lèo, từ mặt đất lên phòng làm việc của mình ở tầng ba. Người ta chào ông, ông ngẩng đầu lên, nhìn và chủ động né tránh. Ngày làm việc của ông bắt đầu từ lúc 7 giờ sáng. Cán bộ, phóng viên, nhân viên của báo đến cơ quan theo từng đợt. Sớm nhất là cán bộ, nhân viên bộ phận văn phòng. Bà trưởng phòng trị sự đến sớm nhất trên chiếc xe đạp bóng bẩy có gắn chuông. Tiếp đó là các nhân viên văn thư, phục vụ.


 Khối phóng viên cũng đến cơ quan theo đợt. Đầu tiên là chiếc xe Honda 67 đen thùi lùi giống như một con trâu tơ đang kỳ sung mãn lao thẳng đến trạm bảo vệ và thắng gấp. Người ngồi trên xe là phó tổng biên tập, phụ trách tòa soạn. Trái ngược với khi phóng xe, ông dắt xe vào bên trong với dáng điệu thận trọng như công binh dò mình. Và cũng khác hẳn với dáng điệu nhẹ nhàng như trôi như dạt, là tiếng nói rổn rảng phát ra từ cái miệng hô sặc mùi thuốc lá. Gặp ai ông cũng chào hỏi trước. Nhiều người giật mình.


Trong khi các quan chức kéo nhau lên phòng làm việc, cánh phóng viên bắt đầu co cụm lại ở các quán cà phê cóc rải rác trên lề đường gần trụ sở báo. Nói là quán nhưng thực sự chỉ là một tấm nylon căng lên che chắn cái bàn gỗ thấp tè chứa đựng mấy cái vợt pha cà phê, mấy phích nước sôi và hũ đường. Mỗi quán có chừng 10 cái ghế nhỏ. Người ngồi trên ghế giống như cóc ngồi. Người ta gọi quán cóc là vậy. Cánh phóng viên quần tụ theo nhóm. Không theo địa lý khu vực ban, phòng. Nhóm kết lại do tình bằng hữu nghĩa bạn bè. Mỗi nhóm có một thủ lĩnh. Nhóm quán gốc me do anh làm thủ lĩnh.


Anh là người có tiếng tăm trong làng báo Sài Gòn cũ. Do ảnh hưởng văn hóa Pháp nên rất sính dùng tiếng Pháp chêm vào các câu nói, bài viết. Lãnh đạo báo phê bình nhắc nhở. Anh hứa sẽ sửa chữa. Rút cục việc sửa chữa của anh rất chậm. Dân biên tập ở tòa soạn hét lên: “Tại sao ông cứ làm khổ chúng tôi vậy. Những từ ấy trong tiếng Việt đã có, sao không sử dụng? Ông sính ngoại cũng vừa vừa thôi chứ!”. Anh lại diễn bài ăn năn hối lỗi, tự đập tay lên đầu mình kêu rầm lên: “Lần sau sửa, lần sau sẽ không sính ngoại nữa”...


Nhưng lần sau cũng giống như lần trước. Dân tòa soạn đành nhẫn nhịn chịu thua. Họ gọi anh là “Trơ như đá” là vậy. “Trơ như đá” thuộc loại người “đa mưu túc trí”. Dáng vẻ như đạo sĩ, nói năng thanh thoát nhẹ nhàng. Chưa bao giờ anh giận dữ to mồm lớn tiếng với ai. Ở anh, sức thu hút mạnh nhất vẫn là “chuyện đời, chuyện nghề”. Không biết anh moi tin tức từ đâu, nghe lỏm chuyện ở chỗ nào, kho chuyện tiếu lâm thanh tục, chuyện lãnh đạo, chuyện dân tình không bao giờ cạn kiệt. Ngày nào cũng có cái mới.


Sáng hôm đó anh đến trễ 10 phút. Cả nhóm phải lục tục xếp đặt lại ghế ngồi để “Trơ như đá” ngồi ở trung tâm. Anh luôn là tâm điểm trong đám đông. Như thường lệ, “Trơ như đá” hắng giọng nói: - Chuyện lạ hen!


Khẩu ngữ và cách mở đề dẫn chuyện của anh thuộc loại “muôn năm cũ” nhưng vẫn hấp dẫn và mới mẻ ở từng chuyện. Thứ chuyện kể lòng vòng, rẽ trái rẽ phải lung tung, tưởng như lạc đường sai lối nhưng lại rõ ràng minh bạch. Nói tóm lại, chuyện của “Trơ như đá” liên tiếp bất ngờ.


“Ông anh họ tôi vừa lập được một chiến công hiển hách...”. “Trơ như đá” nhâm nhi cà phê kể chuyện tình trạng ngăn sông cấm chợ kiểm soát hàng hóa hết sức ngặt nghèo. Hồi đó, việc tư nhân buôn bán hàng lương thực bị cấm tiệt. Mỗi tỉnh trên đường quốc lộ đều có trạm kiểm soát. Các loại xe đò, xe tải, xe con... lưu thông trên đường đều phải bị kiểm tra hàng hóa. Bất kể là ai, mang theo gạo, khoai mì hay những hàng lương thực khác quá mức quy định đều bị tịch thu. Anh họ “Trơ như đá” quê ở Cà Mau, lên Sài Gòn thăm người bệnh, mang theo 15 kg gạo ngon, tài xế xe đò cười bảo: “Mang đi biếu mấy ông ở trạm kiểm soát à”. Ông cùng quê với Ba Phi cũng cười nói: “Mấy thằng kiểm soát không ăn nổi gạo này đâu!”. Không ai tin. Xe chạy.


Đến trạm kiểm soát, mọi người xuống xe hết. Trên xe, lù lù bao gạo ở ngay lối đi. Một tay kiểm soát kêu to: - Bao gạo này của ai? Ông anh họ “Trơ như đá” bảo: - Không biết chữ à? Đọc giấy ghi trên bao bì ấy… Tờ giấy dán trên bao gạo ghi dòng chữ: “Gạo này của bác Ba Phi gửi trung ương để nghiên cứu”. Tay kiểm soát trẻ quát to: “Ba Phi là ai?”. Mọi người trên xe cười ồ lên. Ông anh họ “Trơ như đá” giải thích: “Người dân Nam bộ có ai không biết bác Ba Phi! Nhỏ quê ở đâu lận? Bác Ba Phi làm to lắm. Hồi chiến tranh, bác dùng ná cao su bắn rơi máy bay Mỹ đấy”.


Một tay kiểm soát khác hung hăng bảo: “To gì thì to, lớn mấy cũng vậy, cứ mang theo mười ký gạo trở lên là tịch thu”. Ông anh họ “Trơ như đá” vẫn bình thản giải thích: “Chú mày tích cực việc công như vậy là tốt. Nhưng đây không phải là thứ gạo bình thường. Gạo này bác Ba Phi trồng trên bãi biển lẫn với rừng đước. Cây lúa cũng to khỏe như cây đước, sống tốt ở nước mặn, sản lượng rất cao. Tuy nhiên chất lượng gạo thế nào cần phải được đem ra Trung ương để khảo nghiệm. Các chú tịch thu cũng được thôi nhưng nếu công an, quân đội có đến hỏi thăm sức khỏe chớ có oán trách tôi”.


Mọi người cười vui vẻ. Có người còn “dặm thêm” cho câu chuyện thêm phần nghiêm trọng: “Đắc tội với ai cũng được, không thể đắc tội với bác Ba Phi được đâu”. Hết thảy cán bộ nhân viên ở các trạm kiểm soát đều bị mê lú một cách vui vẻ về câu chuyện bao gạo của Ba Phi.


“Trơ như đá” kết luận: Các trạm kiểm soát cần phải được dỡ bỏ. Nam bộ cần dựng tượng bác Ba Phi. “Trơ như đá” là người nghiêm túc với nghề báo. Chuyện “bao gạo Ba Phi” do anh ta bịa ra không phải để mua vui cho thiên hạ. Đấy là khúc dạo đầu thăm dò dư luận để anh viết bài về tệ nạn kiểm soát ngăn sông cấm chợ. Cả nhóm phóng viên “cây me” nhiệt liệt hưởng ứng, hô to: “Viết đi đại ca, tụi em sẽ hỗ trợ anh”. Thực ra, “Trơ như đá” là người không cần thiết phải có nguồn động viên hay hỗ trợ để làm việc. Anh luôn làm theo ý mình và rất hạn chế các áp lực. Tài năng “lách” của anh ta thuộc loại siêu hạng. “Trơ như đá” đề xuất hai phương án. Phương án một “tấn công trực diện” với một loạt bài điều tra vạch rõ những vô lý, bất công từ các trạm kiểm soát. Phương án hai “tấn công gián tiếp”, khơi gợi lòng vòng để cấp trên thấy ra mà sửa chữa. Ban biên tập báo chấp nhận phương án hai.


Để mở đầu chiến dịch lòng vòng đó, “Trơ như đá” viết một tiểu phẩm hài hước dài 1.000 từ. Một dạng truyện vui hư cấu, kể chuyện bác Ba Phi (người nổi danh với tài nói dóc) du hành từ Cà Mau về Sài Gòn. Qua các trạm kiểm soát, bác Ba Phi đều dựng nên những chuyện “dóc tổ” nhưng so với sự vô lý ở trạm kiểm soát còn thua xa. Giọng văn phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Ai đọc cũng phải cười. Tiếp đó là một bài ngắn phê phán việc làm cứng nhắc của một trạm kiểm soát khi tịch thu bao gạo 5,1kg. Một loạt bài ngăn ngắn sau đó phê bình cách hành xử “hành dân” của các nhân viên kiểm soát.


Nhiều bạn đọc sốt ruột đến báo kêu rầm lên: Phải làm mạnh lên chứ! Ngứa muốn chết gãi vậy chỉ tổ ngứa thêm. “Trơ như đá” thay mặt ban biên tập tiếp bạn đọc, ghi nhận những bức xúc, những ý kiến đề xuất. Một bản tổng hợp có đầy đủ những tên tuổi, địa chỉ, chức vụ, nghề nghiệp của 100 bạn đọc báo yêu cầu dẹp bỏ việc kiểm soát lưu thông hàng hóa phục vụ thiết thực đời sống người dân được gửi tới các cơ quan chức năng Trung ương. Trong khi chờ đợi quyết định, nhiều người thúc giục anh viết tiếp bài điều tra về các trạm kiểm soát. “Trơ như đá” khoan thai, nhũn nhặn bảo: “Chờ thêm ít nữa. Tôi tin rằng các ổng ở trên sẽ thấy ra!”.


Sáng nào “Trơ như đá” cũng nói vui, giống như hô khẩu hiệu: “Hiệu quả gắn với an toàn. Người khôn biết thiếu, người ngoan biết thừa”. Rồi anh ta kể lể những chuyện khôn ngoan trong nghề làm báo. Ít lâu sau, quyết định bãi bỏ các trạm kiểm soát hàng hóa được ban hành. “Trơ như đá” không bao giờ nói về công lao của mình. Thực ra, ai cũng biết, việc ngăn sông cấm chợ vô lý ấy trước sau gì cũng phải dẹp bỏ thôi. Nhiều lần lãnh đạo gợi ý, cũng có khi yêu cầu anh làm nhiệm vụ cán bộ quản lý, anh đều từ chối rất khéo: “Tôi làm phóng viên còn được, làm quản lý lãnh đạo là hỏng. Thật lòng đấy. Không ai biết rõ tôi hơn tôi”.


Nhắc lại chuyện ngày xưa, anh vẫn vui vẻ nói: “Thời đó phải làm như vậy. Giống như đi xe trên đường lầy lội đầy rẫy hố sâu hố nông. Nhất thiết phải từ tốn, cẩn trọng. Nếu sốt ruột cứ phóng ào đi, chắc chắn xe sẽ bị lật hoặc sa lầy không biết bao giờ mới thoát được. Để “moa” nói “toa”  nghe, phàm là việc gì, nếu nhẹ nhàng mà thay đổi được cứ nên nhẹ nhàng”. Trong câu chuyện, anh vẫn chêm những từ tiếng Pháp. Đúng là “Trơ như đá”, không bao giờ thay đổi


TV.


Nguồn: sggp.org.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »