tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
31.07.2012
Thái Thành Đức Phổ
Lưu Linh liệt truyện (7)

Nhưng chuyện bia rượu liên quan đến Huỳnh Bá Thành không chỉ có thế. Sau này, khi đã trở nên thân thiết với nhau, Huỳnh Bá Thành kể cho tôi nghe chuyện anh ta vào nhầm nhà hết sức… hy hữu. Một lần tàn cuộc nhậu, Huỳnh Bá Thành leo lên chiếc Honda PC chạy đến ngã tư Trần Quốc Toản và Nguyễn Văn Thoại ( nay là đường 3 tháng 2 và Lý Thường Kiệt)   thì không còn nhận ra đường nào là về Tân Bình, đường nào là ra Phú Lâm vì lúc đó đường phố vừa tối vừa vắng, hơn nữa hai mi mắt anh ta cứ muốn kéo sụp xuống. Trong lúc đang phân vân không biết nên đi đường nào, Huỳnh Bá Thành lờ mờ nhìn thấy có mấy người cầm gậy đứng trên lề đường cách đó một đoạn. Anh rà xe lại gần và nhận ra đó là mấy chú em phường đội. Vui mừng vì gặp người cùng trong lực lượng vũ trang (Huỳnh Bá Thành là công an), anh nhờ chỉ đường về Tân Bình. Một người trong bọn mau miệng:


- Anh cứ chạy thẳng đường này, qua năm ngã tư thì quẹo tay phải.


Giá như Huỳnh Bá Thành còn tỉnh táo thì biết ngay đây là lời chỉ đường tầm bậy, song lúc ấy anh đâu còn biết thế nào là đúng thế nào là sai nên nghe xong là quay xe chạy luôn. Chạy mãi chạy mãi, cuối cùng anh cũng đã nhìn thấy con đường đất đỏ quen thuộc dẫn vào nhà mình và điều quan trọng hơn là đã đứng trước cửa căn nhà của mình. Thoạt đầu Huỳnh Bá Thành thấy có gì đó khang khác, nhưng nghĩ chắc là do mình uống xỉn nên nhìn mọi thứ không được chuẩn như lúc không uống rượu.


Anh dựng chiếc Honda PC trước nhà rồi đẩy cửa bước vào, người vẫn còn ngầy ngật. Gieo mình xuống chiếc ghế bày ở phòng khách, anh lớn tiếng gọi:


- Bé Vu! Bé Vu đâu rồi, ra đẩy chiếc xe vào nhà giúp ba đi!


Anh gọi lần thứ hai vẫn chưa thấy đứa con gái thứ hai lên nhưng lờ mờ thấy từ nhà sau có một người đàn ông bước lên:


- Mới lên chơi hả? – Anh cố giương mắt lên hỏi vì đinh ninh đây là người bà con bên vợ ở Mỹ Tho mới lên chơi. – Vợ tôi và mấy đứa nhỏ đâu rồi?


Nhìn bộ dạng của Huỳnh Bá Thành, người chủ nhà – người đàn ông mới từ nhà sau bước lên đúng là chủ nhà – đoán biết là anh ta say rượu nhưng không hiểu sao anh ta lại xông vào nhà mình, bèn hỏi:


- Anh là ai mà lại xông vào nhà tôi vào giờ này?


- Nhà nào là của anh? Tôi cũng đang muốn hỏi anh là ai mà lại ở trong nhà tôi?


- Anh muốn biết lắm hả? – Người chủ nhà nhìn Huỳnh Bá Thành, hỏi lại. – Tôi là Trần Văn X, chủ sở hữu căn nhà này.


Nghe giọng nói cả quyết của người đàn ông, Huỳnh Bá Thành đâm ra nghi ngờ trí nhớ của mình nên hỏi lại:


- Nhưng… đây là đâu?


- Anh không biết đây là đâu mà dám ngang nhiên xông vào, lại còn lớn tiếng hạch hỏi người khác. Để tôi nói cho anh biết, đây là thị trấn Hóc Môn.


Nghe chủ nhà nói, Huỳnh Bá Thành gần như tỉnh hẳn rượu. Thấy bộ mặt ngơ ngác của anh, chủ nhà thương tình hỏi lại:


- Vậy nhà anh ở đâu, có gần đây không?


- Nhà tôi ở Tân Bình.


- Trời ơi! – Anh chủ nhà kêu lên.- Nhà ở Tân Bình mà anh chạy tuốt lên đây làm gì. Sao lúc đi đường anh không hỏi thăm người ta?


- Tôi có hỏi chớ sao không.


- Vậy là người ta chỉ đường tầm bậy tầm bạ cho anh rồi. Bây giờ cũng đã quá nửa đêm, anh quay ngược về Tân Bình chắc là mệt dữ. Hay anh cứ nghỉ tạm ở nhà tôi, mai sáng rồi mới tính.


Thế là hôm ấy Huỳnh Bá Thành nghỉ trong căn nhà mà lúc say rượu anh tưởng là của mình nhưng mãi tận… Hóc Môn.


Nhưng ngôi nhà thật sự của Huỳnh Bá Thành ở Tân Bình cũng không phải là không có chuyện. Không hiểu sao hồi ấy           Huỳnh Bá Thành lại nhận ngôi nhà này vì hồi mới giải phóng, một người hoạt động nội thành như anh xin cấp cho mình một ngôi nhà chẳng khó khăn gì. Thật ra ngôi nhà của Huỳnh Bá Thành ở cũng chẳng có gì khác so với ngôi nhà của mọi người, ngoạt trừ cái… toilet. Nhà ở Hà Nội không có nhà vệ sinh riêng đã đành – tôi không nói thời điểm này mà nói đến thời điểm cách nay ba, bốn muơi năm – còn nhà ở Sài Gòn mà không có toilet thì thật là bất tiện. Nhân đây tôi cũng nêu một thắc mắc đã có từ lâu mà không biết phải giải thích thế nào cho đúng. Ở ngoài Bắc nhà nào muốn xây cái nơi dùng để đi vệ sinh gọi là xây “công trình phụ”, tức là ngoài cái chính như cái nhà, cái bếp ra còn phải có cái gọi là công trình phụ. Nhưng tại sao cái phụ – tức bị xếp vào hàng thứ yếu – lại được gắn cho hai từ sang trọng là “công trình”, còn những cái chính lại không được đi kèm với hai từ sang trọng ấy?


Như trên đã nói, vì nhà của Huỳnh Bá Thành không có “công trình phụ” trong nhà nên vợ anh thỉnh thoảng phải đem quần áo và tấm đắp cất trong tủ ra giặt những khi anh gọi bạn bè về nhà nhậu. Cũng xin nói thẳng là những năm 78 – 80 của thế kỷ trước, đời sống còn khá nhiều khó khăn nên các cuộc nhậu thường tổ chức tại nhà cho thêm phần… thân tình – thật ra là cho đỡ tốn tiền, vì không phải lúc nào cũng có thể đưa nhau ra quán như bây giờ. Huỳnh Bá Thành là người quen biết rộng, lại quý mến bạn bè nên nhà anh chiều nào cũng có một cuộc rượu. Bạn thân quen kéo đến đã đành, bạn mới quen và bạn chưa quen – nhưng đi theo bạn quen của chủ nhà – cũng kéo đến. Thế là rượu bày ra, chén đĩa bày ra, chủ khách mời nhau cùng uống, cùng chuyện trò, ngâm thơ, hát hò… Tôi nhớ có lần một ông bạn đang ngồi trong chiếu rượu vội vàng đứng lên đi đâu đó một lúc rồi quay lại, lưng buộc sợi dây thừng không biết kiếm được ở đâu, giắt bên hông con dao thái thịt lấy được dưới bếp của chủ nhà rồi đứng giữa nhà vừa múa may vừa ngâm bài thơ Hồ trường, khiến cả mâm rượu đều rất hào hứng:


Đại trượng phu,


Không xẻ gan bẻ cật phù cương thường,


Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha phương.


Trời Nam nghìn dặm thẳm,


Non nước một màu sương.


Công chưa thành,


Danh chưa lập.


Trai trẻ bao lâu, đầu đã bạc


Trăm năm thân thế bóng tà dương.


Vỗ gươm mà hát


Nghiêng bầu mà hỏi:


Trời đất mang mang ai người tri kỷ?


Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.


Hồ trường! Hồ trường!


Ta biết rót về đâu?


Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh


                                                             cuồng loạn.                                                                                    


Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.


Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chảy đá


giương.


Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén sinh điên cuồng.


Mặc ta tỉnh! Mặc ta say!


Chí ta ta biết


Lòng ta ta hay


Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ


Hà tất cùng sầu với cỏ cây.


Uống rượu, chữa lửa bằng trà đá – dĩ nhiên rồi, vì nếu có bia để chữa lửa thì ai dại gì đi uống ba cái thứ rượu nấu theo phương pháp “gia truyền”: độ cồn cao quá thì đem can rượu kê vào vòi nước máy xả thêm nuớc vào, độ cồn thấp thì mở nắp can rượu cho vào một ít bột gì đó rồi lắc đều lên, thế là xong – tất phải đi tiểu, cố nhiên. Người biết thì đi ra ngoài, đứng chỗ lùm bông giấy mà tùy nghi chữa bệnh cho bụi hoa bằng niệu liệu pháp , người không biết thì cứ lần theo vách tường trong nhà đi xuống bếp, dọc đường tay sờ thấy cánh cửa thì mở ra, xả nước trà đá vừa uống đã thông qua bộ lọc của quả thận vào đó, xong rồi đóng cửa lại đi lên, yên chí lớn là mình đã đi đúng chỗ –  thật ra cánh cửa anh ta vừa mở là cánh cửa của tủ đựng quần áo chứ không phải cánh cửa của phòng toilet.


Đó cũng là lý do tại sao tôi nói vợ Huỳnh Bá Thành thường lôi quần áo trong tủ ra giặt. Bạn bè thân quen đến nhà anh trước hết phải để ý đến sợi dây phơi quần áo trước nhà. Nếu thấy trên sợi dây có nhiều quần áo được phơi phóng thì tốt nhất là nên rút lui, hôm khác hẵng đến, bằng không thì tối đó thế nào Huỳnh Bá Thành cũng sẽ gặp rắc rối to.


Cũng giống các bà vợ của các đức ông chồng khác, vợ Huỳnh Bá Thành cũng thường lấy vỏ chai rượu của chồng đã uống hết đem súc sạch để đựng nước mắm – nước mắm chứa trong chai thủy tinh bao giờ chẳng tốt hơn là đựng trong can nhựa. Tôi nhớ hồi ấy vỏ chai rượu được tận dụng nhiều nhất là Maxim, một loại rượu Tây được một công ty nào đó mua về rồi vô chai tại Việt Nam. Có một dạo dân nhậu Sài Gòn rất khoái Maxim vì tuy là rượu Tây nhưng giá cả lại phải chăng, uống sec hoặc uống theo kiểu consommation đều được. Huỳnh Bá Thành cũng thường mua loại rượu này để đãi bạn bè, thế nên trên kệ bếp của nhà anh xếp hàng dãy chai Maxim bên trong đựng… nước mắm, khiến không ít người nhầm tưởng, điển hình là trường hợp của Sáu Cảnh.


Một lần Sáu Cảnh đến nhà Huỳnh Bá Thành nhậu, trong lúc đi ngang qua bếp để vào toilet, anh nhìn thấy trên kệ xếp một dãy chai Maxim bèn tiện tay lấy một chai, dự định trưa hôm sau gọi mấy người bạn ra ngã tư Lê Quý Đôn – Ngô Thời Nhiệm để cụng ly cho sướng đời. Sáu Cảnh là người xởi lởi, lại sống rộng rãi nên có chai rượu ngon không nỡ uống một mình – rượu uống một mình thì có khác gì chuột chù húp… giấm. Lúc bạn bè đã kéo đến, Sáu Cảnh lôi chai rượu từ trong bị ra, bảo:


- Rượu có đây rồi, bây giờ chỉ thiếu mồi. Thằng nào…


- Chuyện đó để tao! – Một người trong bọn bảo. – Có rượu Maxim mà chơi cóc ổi như mọi khi có vẻ hẻo quá.


- Vậy thì gọi món gì cho xứng với chai rượu thuộc dòng cognac này?


- Đã bảo chuyện ấy đã có tao lo! – Rồi anh này lớn tiếng gọi. – Ông chủ, cho đĩa bò lúc lắc với khoai tây chiên.


Rồi đó, khi đĩa mồi được dọn lên bàn, Sáu Cảnh một tay cẩn thận cầm chai rượu, tay kia nắm lấy nút thiếc chai rượu vặn mạnh một vòng nhưng không nghe thấy tiếng lắc rắc của nút thiếc bị đứt. Sáu Cảnh sựng lại nhưng vẫn tiếp tục vặn nắp chai rượu. Mọi người trong bàn chờ đợi ngửi thấy mùi thơm nồng của rượu cognac nhưng chẳng thấy gì, chỉ ngửi thấy thoang thoảng mùi nước mắm Phan Thiết.


Hóa ra hôm trước ở nhà Huỳnh Bá Thành, Sáu Cảnh lấy phải chai rượu giả nhưng lại vớ trúng chai nước mắm thật.


 


 


PROMÉTHÉE BỊ XIỀNG


                      HAY LÀ TÍNH CẨN THẬN CỦA


                      ĐÁM ĐỆ TỬ LƯU LINH


 


 


Theo thần thoại Hy Lạp, Prométhée vì chống lại thần Zeus, lấy lửa đem xuống trần cứu loài người nên bị Thần Uy quyền và Thần Bạo lực áp giải đến Citer để cho Thần thợ rèn Hephaistos đóng đinh xiềng vào núi đá. Thần Zeus dùng mọi uy quyền và sức mạnh khống chế Prométhée, bắt Prométhée phải khai ra điều bí mật về cuộc hôn nhân sau này của mình nhưng chàng không khuất phục. Cuối cùng Thần Zeus giáng sấm sét, chôn vùi Prométhée.


Anh Phạm Khánh Anh là người thuộc thời đại chúng ta, vì thế anh không cần lấy lửa của Thần Zeus đem cho những người cùng thời vì bây giờ lửa ở trần gian thiếu gì. Bạn chỉ cần chi ra khoảng nghìn rưỡi là có ngay một chiếc hộp quẹt gas, muốn có lửa lúc nào là bật lúc ấy, hà cớ gì phải lấy lửa của Thần Zeus cho thêm… rách việc, lại còn bị xiềng xích quấn quanh người, mất hết cả tự do.


Ấy thế mà anh Phạm Khánh Anh vẫn bị xích như thường, thế mới là chuyện đáng nói. Trong một lần uống rượu xỉn trở về nhà, thấy chạy xe hết nổi, anh liền tấp vào lề đường, dựng xe đâu vào đấy rồi lấy sợi dây xích vẫn quấn quanh yên xe xích nó vào cột đèn, khóa lại. Lo cho chiếc xe xong đâu đấy, anh mới bắt đầu lo cho bản thân mình. Anh rút đôi dép lót dưới đít làm ghế rồi ngồi xuống, ngả lưng vào cột đèn nghỉ cho… tỉnh rượu. Đúng lý ra, anh phải xích cả anh lẫn chiếc xe vào cột điện, nhưng anh nghĩ nếu làm thế thì trông mình có vẻ… nô lệ quá nên thôi. Vả lại đề phòng là đề phòng kẻ gian lấy mất chiếc xe chứ anh thì ai thèm lấy mà phải khóa? Vợ Phạm Khánh Anh cũng giống nhiều người phụ nữ Việt Nam khác là đều có tính tự cao tự đại, cho rằng cái gì mà mình đã chọn đều là hạng nhất. Như Phạm Khánh Anh chẳng hạn. Mỗi khi anh đi đâu chị cũng dặn dò hết sức cẩn thận, nào là phải đề phòng thế này, để ý thế kia, thấy các bà các cô thì phải tránh xa, kẻo lại bị mồi chài thì khốn khổ. Các bà cứ làm như người đàn ông mà mình đã chọn làm chồng là nhất thế giới, để sểnh ra là con khác nó giằng ngay. Các ông chồng khác thì tôi không biết thế nào chứ Phạm Khánh Anh thì tôi rõ lắm. Ông này mà trải chiếu ngoài xa lộ ngủ ba ngày ba đêm cũng chẳng có ma nào thèm hỏi một câu chứ đừng nói là các bà các cô. Thế nên Phạm Khánh Anh ngồi ngả lưng vào cột đèn một lúc lâu mà không có ai hỏi đến nên đâm ra buồn ngủ. Đường vắng, gió hiu hiu thổi, mắt anh ngày càng sụp xuống và không hiểu hôm đó các đệ tử Lưu Linh đãi anh thứ rượu gì mà ngồi cả tiếng đồng hồ vẫn không thấy tỉnh. Và vì không tỉnh, anh đã ngủ một mạch cho đến lúc anh tỉnh trước, còn rượu thì vẫn…  chưa tỉnh. Chẳng phải anh giỏi giang gì. Anh tỉnh trước là nhờ có mấy người đi làm sớm nhìn thấy anh ngủ gục bên cột đèn bèn đến lay anh dậy. Anh dụi mắt, cảm ơn mọi người rồi định nhổm dậy dắt xe ra về nhưng không được. Thì ra tối hôm trước tự tay anh xích chiếc xe gắn máy vào cột đèn, còn lúc anh ngủ say thì có kẻ nào đó đã “ra tay nghĩa hiệp”, giúp chiếc xe thoát khỏi vòng xiềng xích rồi biến anh trở thành Prométhée, tức xích anh vào cột điện thay vì… núi đá. Tôi đồ rằng kẻ đã thay đổi vị trí giữa người và xe này có thể cũng đã tính đến chuyện vác Phạm Khánh Anh đi kiếm núi đá để xích vào, song vác một người lên tận Tây Ninh thì… quá mệt mỏi, còn núi đá của hòn non bộ lại ở trong nhà của người ta, leo vào thì khác gì tự chuốc vạ vào thân.


Ác một nỗi là kẻ xích anh vào cột điện đã không để lại chìa khóa nên mọi người đành phải tìm những vật cứng hơn để mở khóa cho anh. Anh về nhà trong trạng thái vừa lo lắng vừa mệt mỏi. Bà vợ nhìn thấy anh đứng trước cổng liền nổi cơn tam bành:


- Ông đi đâu cả đêm mà giờ này mới mò về nhà?


- Tôi ngồi một chỗ chứ đi đâu được mà đi.


- Thế chiếc xe đâu?


- Chiếc xe người ta mượn rồi.


- Ai mượn? Ông nói cứ như mình không hề quen biết gì người mượn xe ấy.


- Thì đúng là tôi đâu có quen thằng mượn xe.


Rồi anh kể cho bà vợ nghe lý do tại sao anh về nhà mà chiếc xe lại không chịu theo anh. Chắc chắn là chiếc xe nghĩ rằng đi về nhà với người quen nhưng say rượu không thể nào an toàn bằng đi với một gã hoàn toàn không quen nhưng lại không hề say rượu.


Để người khác xích mình vào cột đèn thay vì chiếc xe như trường hợp của anh Phạm Khánh Anh là quá mất cảnh giác. Vả lại, đã uống rượu say mà dựng xe ngồi nghỉ chờ đến lúc tỉnh rượu là điều tối kỵ. Tiếc là trong quyển Tri thức bách khoa về những điều nên tránh không đề cập điều này.


Theo nhà Lưu Linh học Nguyễn Tám thì mỗi khi uống rượu xỉn ta cần phải hoạt động cho cơ thể không bị mỏi mệt mới có thể tránh được cơn buồn ngủ khiến mi mắt ta cứ muốn sụp xuống, đồng thời đầu óc cũng nhờ có sự vận động của cơ bắp mà tỉnh táo hơn.


Lý thuyết mà anh Nguyễn Tám đưa ra chưa biết đúng sai thế nào, song có một nguyên tắc mà ai cũng phải thừa nhận, ấy là phải trải qua thực tế mới có thể chứng minh được lý luận ấy là đúng hay sai. Theo nguyên tắc này, chúng ta thử xem anh Nguyễn Tám hành xử ra sao.


Hôm ấy, gần tàn cuộc rượu, tôi xin phép được về sớm vì ở nhà có chút việc, nhưng chạy xe được nửa đường thấy không an tâm lắm nên quay xe trở lại chỗ nhậu. Không thấy Nguyễn Tám đâu, tôi hỏi:


- Cha Nguyễn Tám đi toilet hả? Cha này trông thế mà thận suy quá cỡ. Lúc tôi còn ngồi đây, hắn đã đi mấy bận rồi.


- Toilet đâu mà toilet.


- Vậy hắn đi đâu?


- Về nhà rồi. Ông đi được một lúc thì y cũng ra giắt xe đạp đi luôn.


- Y vẫn bình thường hay đã xỉn rồi?


- Thấy giắt xe thì xiêu vẹo nhưng không đến nỗi ngã ngồi ra đất.


- Vậy thì nguy rồi. Mấy bố uống rượu già đời mà không biết mấy thằng uống rượu say bao giờ cũng cố làm như mình còn tỉnh hay sao mà không cử ai đi kèm hắn về nhà?


- Chúng tao định bảo thằng Vinh đi kèm nhưng hắn nhất quyết không chịu, còn bảo chúng tao làm như vậy là đánh giá thấp tửu lượng của hắn.


- Thôi được rồi, để tao lại nhà xem hắn đã về chưa. Hắn đi theo đường nào?


- Từ nhà hắn đến quán này chỉ có mỗi con đường, đi sao về vậy, cần gì phải hỏi.


Từ quán nhậu tôi chạy xe về hướng nhà của Nguyễn Tám. Đường vắng, vì lúc ấy đã hơn 11 giờ đêm. Gần đến nơi, tôi thấy có một người rất giống Nguyễn Tám đang lết trên mặt đường, tay kéo lê chiếc xe đạp theo mình. Tôi rọi đèn vào chỗ con người quái dị đang ra sức lôi kéo chiếc xe đạp kia và nhận ra đúng là Nguyễn Tám thật.


- Ông đang làm trò gì thế?


- Ai đấy? – Nguyễn Tám hỏi và ngước mắt nhìn lên. – À, Phổ hả? Sao giờ này ông còn ở đây?


- Ông trả lời câu hỏi của tôi trước đi.


- Ông hỏi cái gì tôi đâu có nghe.


- Tôi hỏi là ông đang làm trò gì thế?


- Thì tôi đang kéo xe, ông không thấy hay sao mà còn hỏi.


- Ông làm như mình là Tam Lang  không bằng. Nhưng chiếc xe ông đang kéo là chiếc xe đạp chứ đâu phải xe kéo.


- Ai chẳng biết, cần gì ông phải nói!


- Thế sao ông không leo lên đạp mà lại phải kéo, trông hoàn cảnh quá!


- Từ quán nhậu tôi đã leo lên thử đạp mấy lần rồi nhưng đều không được nên mới đầu tôi với nó cùng cuốc bộ, gần đến nhà thì tôi với nó cùng… bò cho chắc ăn. Mình vốn nhát, chẳng may mà bị ngã gãy chân thì có mà húp cháo trong bệnh viện.


Tìm được cách về nhà trong tình trạng say xỉn một cách độc đáo như thế, phi Nguyễn Tám thì không ai có thể nghĩ ra được.


 


Câu chuyện trên đây đã minh chứng một cách hùng hồn lập luận về sự cần thiết phải vận động sau khi uống rượu xỉn của Nguyễn Tám là hoàn toàn đúng đắn. Chỉ tiếc là các đệ tử Lưu Linh không ai chịu áp dụng phát minh độc đáo này. Các đệ tử Lưu Linh sợ nhất là uống rượu xỉn, chạy xe nửa đường mà xe hết xăng hoặc gặp sự cố gì đó phải dừng lại thì coi như không bao giờ chạy tiếp được nữa.


Trong số các đệ tử Lưu Linh, anh Hoàng Giáp là người hiểu rõ nguyên tắc này nhất nên mỗi khi cuộc rượu sắp tàn là bao giờ anh cũng rời bàn, lững thững đi ra đường gọi xe xích lô vào để đưa anh và chiếc xe gắn máy về nhà. Anh bảo:


- Xong cuộc rượu mà tự mình chạy xe về nhà chẳng khác nào giao tính mạng mình cho thần chết. Tớ bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc: uống rượu xong, leo xích lô về nhà là không phải lo lắng gì đến tính mạng của mình.


Và anh đã chứng minh cho chúng tôi thấy luận thuyết của anh đưa ra là hoàn toàn đúng. Một lần rời khỏi bàn rượu anh cũng ra gọi một chiếc xích lô và “xì du à ghen” ( see you a gain) chúng tôi sau khi cả người và xe ngồi gọn trong lòng chiếc xích lô. Không hiểu hôm đó trên đường đi đến quán nhậu anh gặp ai mà kết cục lại hoàn toàn thay đổi chứ không như những lần trước, tức là chỉ có chiếc xe về đến nhà còn anh sáng hôm sau bừng mắt dậy mới biết cả đêm mình nằm ngủ ở… công viên Chiến thắng trên đường Hoàng Văn Thụ. Nghe anh kể lại chuyện này, tôi bảo:


- Chiếc xe về đến nhà là mừng rồi, ông về lúc nào mà chẳng được.


- Mừng cái gì mà mừng! Ông nghe chưa đến đầu đến đũa mà đã... Tôi nói chiếc xe về đến nhà là nhà của… thằng cha chạy xích lô chứ đâu phải nhà tôi.


- Thế mà lúc nào ông cũng dương dương tự đắc, bảo  rằng nhậu xỉn cứ leo lên xích lô về nhà là an toàn nhất.


- Tôi bảo an toàn là an toàn tính mạng chứ đâu có bảo an toàn cả tài sản.


- Thế sáng hôm sau ông vác mặt về nhà, bà xã có nói gì không?


- Giá như bà ấy chửi cho một trận thì đã may. Đằng này bà ấy chẳng nói chẳng rằng, cả ngày cứ lầm lầm lì lì…


- Thế thì thậm cấp đại thậm cấp! Chí nguy đại chí nguy! Tôi nghe mấy ông ngoài Bắc kháo nhau:


               Ra đường sợ nhất công nông


              Về nhà sợ nhất vợ không nói gì…


- Thế cho nên tôi đang lo sốt vó lên đây.


- Dù vậy ông vẫn còn gặp may. Người ta thường bảo: “Của đi thay người”.


- Ông nói thế là còn đánh giá tôi quá cao. Tôi mà làm sao dám so sánh với chiếc xe. Chiếc xe thằng cha chạy xích lô đem về nhà nó còn bán được chứ nó mà chở tôi về nhà thì bán cho ai? Chẳng lẽ nó lại đem tôi bán cho… vợ nó?


- Chết đến nơi rồi mà còn đùa. Thế sao hôm trước tôi nói cho ông nghe lý thuyết về sự tự vận động sau khi uống rượu của nhà Lưu Linh học Nguyễn Tám, ông không những không nghe mà còn bảo đấy là thứ nhảm nhí. Nếu ông mà nghe theo lý thuyết này thì đâu đến nỗi phải lo đối phó với bà xã như bây giờ.


- Thì vưỡn! Nhưng dù gì anh em cũng phong cho tôi là chủ tịch Hội chai lọ thành phố, đâu có dễ dàng gì nghe theo lý thuyết của một người không mấy danh tiếng như cái gã Nguyễn Tám nào đó.


Như trên đã nói, cho dù anh Nguyễn Tám không thừa nhận thì tôi cũng dư biết anh là người nhát như… cheo, nhất là trong lĩnh vực… đầu tư. Anh thường bị bà xã cằn nhằn là đầu tư không có trọng điểm, bạ đâu đầu tư đấy, thấy có tỉnh nào là đầu tư tỉnh ấy, bất kể có gặp rủi ro hay không, dù số tiền anh bỏ ra để đầu tư không nhiều. Đến đây thì hẳn quý vị độc giả đã biết anh Nguyễn Tám đầu tư trong lĩnh vực nào rồi. Còn nếu các vị vẫn tỏ ra ngơ ngác thì tôi xin nói luôn: anh Nguyễn Tám đầu tư vào lĩnh vực vé số, hay nói cho dễ hiểu là anh mua… vé số. Tuy nhiên, anh Nguyễn Tám đầu tư vé số thì nhiều – tức là ngày nào cũng mua – nhưng không mất nhiều tiền vì anh chỉ đủ tiền mua… hai tờ chứ không như người khác mua nguyên một cặp. Vả lại anh mua nhưng ít khi dò vì dò chỉ sợ… không trúng, lúc ấy thì tiêu tan bao nhiêu hy vọng mà anh tưởng tượng ra khi chẳng may trúng số.


Ấy thế mà có lần anh Nguyễn Tám trúng số, mà trúng độc đắc hẳn hoi nhưng anh lại chẳng nhận được đồng xu nào. Anh mua một tờ - lý ra anh mua hai tờ nhưng vì cần mua mấy điếu thuốc nên chỉ mua một tờ thôi – và cất đi. Đến chiều có kết quả xổ số anh lại không dò vì sợ không trúng. Đến khi anh tìm thấy tờ vé số trong một quyển sách và đem ra chỗ đại lý vé số dò thử thì hóa ra tờ vé số trúng thật, nhưng số tiền lẽ ra anh được lãnh, người ta đã sung vào công quỹ do đã quá hạn lãnh thưởng từ lâu. Anh Nguyễn Tám đem chuyện mình trúng số kể với tôi rồi kết luận:


- Cũng may là mình không lãnh được tiền, nếu không cả hai thằng đã chết từ lâu vì ngày nào cũng rủ nhau đi uống rượu thì sống làm sao nổi.


Hóa ra không có tiền cũng có cái hay của nó.


 


Như thế, uống quá nhiều rượu là hoàn toàn không có lợi. Nhưng chưa chắc uống ít rượu đã là điều hay. Nếu quý vị không tin vào điều này, có thể tìm anh Chánh – bạn tôi – để hỏi. Một người đã được liệt vào hàng thâm niên trong làng chai lọ như anh Chánh, những gì anh nói liên quan đến rượu đều rất đáng tin cậy.


Một hôm chúng tôi – có cả anh Chánh, cố nhiên -  đang ngồi uống rượu ở quán Cây trúc thì có một cô rất xinh đẹp dựng xe dưới lòng đường rồi tiến đến gần bàn vui vẻ chào:


- Em chào các anh!


Rồi chợt thấy có cả anh Chánh ngồi đấy, cô cúi chào rất lễ phép:


- Cháu chào chú!


Tất nhiên Chánh cũng cất tiếng chào lại cô gái, như chúng tôi, nhưng thái độ không được vui cho lắm. Lúc cô gái đi rồi, Chánh mới bảo:


- Sau nhiều năm gia nhập làng chai lọ, giờ tao mới biết uống rượu là hoàn toàn có hại.


- Thế à? Nhưng do đâu mà ông đưa ra kết luận khủng khiếp thế?


- Thì do chúng mày chứ do đâu? Này nhé, chúng mày với tao tuổi sàn sàn như nhau, thế mà con bé lúc nãy chào chúng mày bằng anh, còn tao thì nó lại gọi bằng chú.


- Thế thì đã sao? Với lại chúng tao tưởng mày và con bé có họ hàng với nhau.


- Tao với nó đâu có họ hàng gì. Chẳng qua là cách nay mấy hôm tao có ghé nhà nó chơi, trót ngồi uống với bố nó mấy chén rượu, thế là nó coi tao cũng ngang hàng như bố nó. Chúng mày thấy đấy, uống rượu hại đến thế là cùng.


Nhưng đâu phải chỉ có cô bé này mới gọi anh Chánh bằng chú. Bằng chứng là trước đó mấy chục năm, khi anh Chánh giắt chiếc Honda PC rời khỏi quán Cây trúc một đoạn thì bị hai gã thanh niên chặn lại. Một trong hai tên lớn tiếng:


- Ê! Lão già, đưa xe đây!


Biết là gặp bọn cướp, anh Chánh vội vàng giao ngay chiếc xe cho bọn chúng. Hai thằng hí hửng giắt xe đi được một đoạn thì bị anh Chánh gọi giật lại:


- Ê! Hai thằng kia, lại đây tao bảo.


Một trong hai thằng quay lại chỗ anh Chánh, quát:


- Chuyện gì thế, lão già? Muốn lấy lại xe hả?


Thấy tên cướp tuy có vẻ hung hăng nhưng không phải là loại giết người cướp của, anh Chánh bảo:


- Chúng mày đưa tao mấy đồng để tao đi xe về nhà chứ. Nhà tao ở xa lắm.


- Ông đi ra ngoài mà không đem tiền hay sao mà còn hỏi.


- Có đem, nhưng tao uống rượu hết nhẵn rồi.


- Đã ít tiền còn bày đặt uống rượu. – Tên cướp cằn nhằn. – Này, cầm lấy rồi biến đi cho con nhờ.


Tên cướp dúi cho anh Chánh mấy đồng  đủ tiền đi xích lô rồi trở lại chỗ tên đồng bọn đang đứng chờ. Cả hai tên chống chân chiếc PC của anh Chánh lên, thay phiên nhau ra sức đạp nhưng xe vẫn không chịu nổ máy. Trong khi đó anh Chánh lững thững đi về phía đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) để kiếm xích lô nhưng chưa thấy chiếc nào chạy qua. Đứng đợi một lúc, anh Chánh giật mình khi thấy hai tên cướp xe đứng ngay trước mặt.


- Ê, lão già! Trả lại tiền cho bọn này đi!


- Thế còn chiếc xe?


- Xe đây, ông giữ lấy. Mẹ, xe gì mà đạp sặc gạch cũng chẳng thấy nổ máy gì cả.


Thế là anh Chánh lại phải ì ạch giắt chiếc xe về nhà.


 Tuy thế, cả hai trường hợp trên cũng chẳng có gì là độc đáo so với trường hợp của anh Duy Khiêm mà tôi sắp thuật lại dưới đây. Anh Duy Khiêm có chiếc xe chạy xăng pha nhớt mà khi còn nhiên liệu thì chạy bằng động cơ, đến lúc hết nhiên liệu thì chạy bằng… động nhân, tức là người phải đạp nó mới chạy. Hẳn quý vị còn nhớ, sau ngày thống nhất đất nước được mấy năm, không còn mấy ai sử dụng loại xe này vì trông nó vừa cổ lỗ sĩ mà người ngồi trên chiếc xe ấy nom chẳng khác gì mấy ông phán già thời… thực dân Pháp. Các vị đừng nhầm, không phải tôi đang nói đến chiếc Mobilette đâu nhé. Chiếc xe này động cơ để tận trên guidon nên sử dụng rất thích hợp trong những ngày mưa lớn, đường phố biến thành sông. Đến đây thì chắc các vị đã đoán ra tôi đang nói đến chiếc xe nào rồi phải không? Đó chính là chiếc xe solex mà anh Duy Khiêm đang sử dụng và lấy làm quý lắm, coi nó là cả một gia tài, dù anh không phải là dân chuyên sưu tầm đồ cổ. Chẳng biết có phải Duy Khiêm cố tình gây chú ý cho mọi người hay không, nhưng mỗi khi nghe tiếng nổ xành xạch của chiếc xe do anh điều khiển chạy vào sân quán nhậu là mọi người đều quay mặt ra nhìn. Đã thế, để bảo quản cái tài sản “vô giá” – tức nó chẳng có giá trị gì về mặt giao dịch thương mại – này, anh còn quấn trên chiếc xe bảy sợi xích cộng với bảy ống khóa Viro… dởm. Bao giờ cũng thế, đi đến nơi là anh dựng xe đâu đó đàng hoàng rồi móc túi lấy chùm chìa khóa mở đủ bảy ống khóa, sau đó lấy bảy sợi dây xích quấn đúng bảy vị trí trên chiếc xe rồi bấm khóa lại. Xong nghi lễ khóa xe, anh lùi lại mấy bước nhìn lại chiếc xe lần cuối rồi mới yên chí bước vào quán. Có lần tôi bảo Duy Khiêm, chiếc xe cà khổ ấy ném ra đường còn bị người ta mắng là thằng nào lại đem sắt vụn ném ra đường làm cản trở giao thông, khóa làm gì mà khóa lắm thế, anh cười cười:


- Ờ thì… cẩn thận vẫn hơn. Biết đâu có thằng nào đang nổi máu sưu tầm xe cổ đi ngang qua nhìn thấy, nó dắt đi mất thì có phải mình mất món tiền đủ uống mười ngày rượu không.


- Ông đừng có mơ! Chiếc xe của ông kêu mấy thằng thu mua sắt vụn vào trông thấy nó còn bỏ chạy mất dép nữa là mấy tay máu mê xe cổ.


- Có nhẽ đâu thế! – Gã nhại giọng Bắc của tôi.


Tôi vừa bực vừa buồn cười:


- Để đấy, rồi xem!


Không ngờ tôi lại trở thành nhà tiên tri, chí ít cũng là trong trường hợp tôi phán về chiếc xe của Duy Khiêm. Theo lời anh ta kể lại thì trong một lần đi nhậu về, do đạp xe quá mệt nên anh chọn một lề đường rộng rãi đẩy xe lên dựng sát vào tường nhà của một hộ nào đó, khóa xe cẩn thận – tức là khóa đủ bảy chiếc – rồi mới ngồi nghỉ. Ý định của anh là ngồi nghỉ một lúc cho đỡ mệt và cũng là cho tỉnh rượu nhưng không ngờ rượu càng ngày càng ngấm nên anh ngủ thiếp đi lúc nào không biết, đến lúc mở bừng mắt ra thì trời đã hửng sáng từ hồi nào rồi.


- Thế “Tài sản vô giá” của ông có bị mất không?


- Mất là mất thế nào? Mới đầu tôi cũng nghĩ chiếc xe thế là đi tong, nhưng sực nhớ mình đã khóa đến bảy ổ khóa thì đến bố thằng ăn trộm cũng không lấy được chứ đừng nói là thằng ăn trộm.


- Tóm lại là hôm đó ông không mất gì cả, đúng không?


- Đúng vậy. Không những không mất mà tớ còn nhận được tờ giấy trong đó viết mấy chữ có vẻ rất ngạo mạn.


- Thế à? Nhưng tờ giấy ấy của ai?


- Thì của thằng ăn trộm chứ của ai.


- Có nhẽ đâu thế! – Tôi nhại lại.


Hắn ta phì cười, rồi bắt đầu kể:


- Đúng là sáng hôm đó khi bừng mắt tỉnh dậy tớ đã nghĩ ngay: “Thế là mất bố nó chiếc xe rồi!”, nhưng ngoái đầu nhìn lại phía sau thì chiếc xe vẫn còn dựng nguyên ở chỗ cũ. Thế là tớ vội đứng lên đi lại chỗ chiếc xe và phát hiện ra một điều rất lạ: đúng là chiếc xe vẫn còn nhưng cả bảy ổ khóa lẫn bảy sợi dây xích đều không còn nằm trên chiếc solex quý giá của tớ nữa.


- Hóa ra tên trộm không lấy xe mà lấy cả bảy sợi dây xích lẫn ổ khóa?


- Cũng không phải.


- Thế cả “bảy chiến sĩ bảo vệ” ấy biến đi đâu?


- Cả bảy thứ ấy được xếp ngay ngắn trên một tờ báo đặt bên cạnh chân chống của chiếc xe, trong đó có một ổ khóa và sợi dây xích nằm đè lên một tờ giấy có viết mấy chữ rõ to: CÓ CÒN LOẠI KHÓA NÀO NỮA KHÔNG? Ông biết không, lúc đọc xong dòng chữ này, tôi nghĩ ngay, giá như còn gã ăn trộm ở đấy, tôi sẽ bảo cho gã biết…


- Ông bảo với gã thế nào?


- Tôi sẽ bảo: “HẾT RỒI!”.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Lưu Linh Liệt Truyện. Phóng sự của Thái Thành Đức Phổ. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »