tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
03.01.2013
Nguyễn Phan Quang
Giáo sư Trần Văn Giàu – Nghe Thầy kể chuyện

Nhà văn Triệu Xuân: Thời kỳ làm báo nói: Đài Tiếng nói Việt Nam, và báo viết: Đầu tư-Vietnam Investment Review; năm nào tôi cũng có may mắn được đến phỏng vấn Giáo sư Trần Văn Giàu vài ba lần, thường là dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn, dịp Tết. Trong một lần đến nhà riêng ở 70 Phạm Ngọc Thạch, quận 3, TP. HCM phỏng vấn chú Sáu Giàu, tôi gặp Giáo sư Sử học Nguyễn Phan Quang cũng đang ghi âm câu chuyện của GS Giàu. Ông Nguyễn Phan Quang và tôi quen nhau từ đấy, sau trở thành thân thuộc... Vì cùng yêu kính Giáo sư Trần Văn Giàu, ông Quang thường tìm đọc những bài tôi viết hoặc những bài tôi post trên www.trieuxuan.info; và ông Quang cũng thường góp bài cho wesite chuyên về văn học nghệ thuật www.trieuxuan.info



Nhà báo, nhà văn Triệu Xuân phỏng vấn GS Trần Văn Giàu, 1996. Ảnh Ngô Thanh Hương.



Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm Giáo sư Trần Văn Giàu – Nghe Thầy kể chuyện của GS Nguyễn Phan Quang, ghi âm từ năm 1995, tại 70, Phạm Ngọc Thạch, nhà riêng hồi đó của chú Sáu Giàu.



GS. Sử học Nguyễn Phan Quang: Tôi có vinh dự trong số không nhiều các học trò đầu tiên của Trường Dự bị đại học ở Thanh Hóa cuối năm 1951- đầu năm 1952, cũng là một trong những học trò “lớp dự bị” đầu tiên của GS Trần Văn Giàu.


Từ năm 1984, tôi được biệt phái vào dạy học tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghĩ bụng chỉ vài ba năm hết biệt phái lại trở ra Hà Nội, nào ngờ “biệt phái dài hạn” hơn 20 năm  ở phương Nam !


Học trò của Thầy Giàu qua các thế hệ rải đầy khắp nước. Số bạn bè cùng khóa 1951-1953 ở Thanh Hóa, rồi 1954-1956 ở Hà Nội vào công tác tại TP. Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975 cũng có mấy người, nhưng theo nghề Sử của Thầy thì hình như chỉ có một mình tôi.


Suốt 20 năm, kể từ 1984, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều với Thầy (qua các hội thảo khoa học, được tham gia công trình “Lịch sử Việt Nam” do Thầy chủ trì, đươc Thầy “mời” làm phó chủ tịch Ủy Ban Giải thưởng Trần Văn Giàu về Lịch sử và Lịch sử tư tưởng…).


Là học trò của Thầy ngót 60 năm trước, tôi cảm nhận sâu sắc vinh dự này và mong được nghe Thầy truyền lại những kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử; và nếu có dịp thì được nghe Thầy kể chuyện dài dài cuộc đời làm cách mạng và làm nhà giáo của Thầy.


                Và dịp đó đã đến với tôi. Đó là vào những tháng đầu năm 1995. Hồi này, Thầy vừa bình phục sau lần phẫu thuật, nhưng chưa đi lại được bình thường. Hàng ngày, Cô (bạn đời của Thầy, cùng một tuổi với Thầy) vẫn phải dìu Thầy ngồi trong xe lăn, đẩy đi đẩy lại loanh quanh trong nhà. Tôi và các bạn đến thăm Thầy thường xuyên hơn. Tuy chưa bình phục hẳn, nhưng gặp các học trò cũ, chúng tôi cảm thấy Thầy và Cô vui hẳn lên. Mỗi lần ra về, Thầy Cô lại dặn: “Các chú rảnh việc thì đến với Thầy Cô nha!”.


                Một lần (những ngày đầu năm 1995), tôi đánh bạo đến một mình: “Thưa Thầy, Thầy chưa đi lại được bình thường, em muốn đến để được nghe Thầy kể chuyện, cả những chuyện Thầy chưa từng kể, cũng là để Thầy khuây khỏa, có được không ạ?”. Thầy cười khó hiểu: “Chú Quang là nhà sử học, “lều” sử học thôi, tôi ngán gì”!


“Em sợ ghi tốc ký cũng không kịp nên mang theo máy ghi âm để Thầy… kể chuyện thoải mái”. Thầy cười hiền từ, nhưng nghiêm khắc hỏi lại: “Ghi âm? Chú định viết một tác phẩm về Trần Văn Giàu?”. “Dạ, em không dám đâu ạ. Em chỉ mong ghi lại để con cháu của em biết là cha ông chúng nó đã từng được học một ông thầy như thế”. Thầy quắc mắt: “Như thế là như thế nào?”. Tôi lúng búng: “Dạ, là như, là như… Ông Trần Văn Giàu ạ”. Thầy cười mắng: “Chú này lộn xộn! Thôi, hỏi gì thì hỏi đi; mà đã kể thì phải kể có đầu có cuối, và phải mấy buổi chứ không phải một buổi là hết chuyện đâu, nhớ đâu kể đó thôi”. Tôi mừng quá, miệng vẫn lúng búng: “Dạ, chỉ sợ Thầy mệt”…


 


Hà Nội, những ngày rét đậm đầu năm 2011.


NPQ.


Vợ chồng cố GS Trần Văn Giàu lần đầu tiên mua được Tủ thờ Ông Bà Cha Mẹ, sau khi nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1, 1996. Ảnh Triệu Xuân.



 



Gia đình tôi ở tỉnh xưa gọi là Tân An mà nay gọi là Long An. Đó là cái tỉnh phần lớn là Đồng Tháp Mười: rừng tràm, nước phèn, văn học thì ít, học hành ít lắm. Tỉnh tôi trước kia chỉ có ông Nguyễn Thông là người có văn hóa cao, sau ông làm bố chính Bình Thuận. Nói chung là một tỉnh của người lao động vất vả, của người Đồng Tháp Mười, nước phèn với rừng tràm, chứ không phải là mảnh đất có nhiều người thành đạt.


                Nhưng được cái thế của tỉnh là sông rạch nhiều, rừng rú nhiều cho nên cũng là cái ổ của kháng chiến. Khi Tây nó đến – cái thời mà tôi nghe nói và biết được, thì ông cha tôi đã là binh lính của cuộc khởi nghĩa Thủ khoa Huân, nổ ra cách nhà tôi không bao xa. Mà trong gia đình cũng có chết nhiều. Lớn lên, năm nào tới ngày nào đó, chúng tôi đi tảo mộ thì đều tảo mộ những người bị chết trong khởi nghĩa Thủ khoa Huân. Có cái “Mả Bảy”, tức là 7 người bị bắn một loạt. Mỗi lần đi tảo mộ tất nhiên cũng có gợi lên một ý gì.

                Tới chiến tranh thế giới thì tôi có hai ông anh đã lớn (mười mấy, hai mươi tuổi) trực tiếp tham gia Thiên Địa hội đi đánh Khám Lớn, nhưng thất bại rồi rút lui về làng. Những điều đó ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến đầu óc, bắt đầu hiểu chính trị, nhưng mà lợt lạt lắm.


                Năm 1925-1926, tôi lên Sài Gòn học, không có tư tưởng chính trị gì lắm đâu, chỉ chống Tây thì nói chống Tây vậy thôi, chứ tư tưởng yêu nước thì chưa có gì sâu đâu. Nhưng bấy giờ tôi chịu ảnh hưởng của phong trào Nguyễn An Ninh, rồi chịu ảnh hương phong trào Phan Châu Trinh. Bấy giờ tôi học ở trường Chasseloup Laubat (bây giờ là trường Lê Qúy Đôn) là một trường cao nhất và lớn nhất lúc bấy giờ. Tôi đã đến tuổi hiểu được cái gì ở trong những lời kêu gọi của Nguyễn An Ninh. Nhất là lúc bấy giờ chống lại cái gia đình phong kiến, hô hào bọn trẻ sẽ rời khỏi nhà mình, đi cho xa, đi thật xa để tìm một cái lý tưởng, chứ không phải bó rọ ở trong gia đình của mình. Đó là lần đầu tiên tôi nghe được lời khuyên lạ tai mà rất là lý thú. Là thanh niên, không chịu bó tay ở trong gia đình, không những phải rời khỏi làng, khỏi tỉnh, khỏi xứ, mà phải đi cho thật xa mà tìm cái lý tưởng gì mới, chứ không phải cứ bị ràng buộc vào cái tư tưởng của Khổng giáo. Đó là điều thứ nhất đánh mạnh vào đầu óc của tôi.


                Rồi năm 1926 thì ông Phan Châu Trinh chết. Tôi học ở trường; anh em chúng tôi tổ chức xô cửa trường (cửa trường đóng, không cho ra) để đi biểu tình đưa tang ông Phan Châu Trinh. Có lần gặp bà Bình (Nguyễn Thị Bình), tôi nói: Bà không biết chứ có lẽ tôi là người cuối cùng [ý nói: người còn sống cho đến hôm nay] đi biểu tình đưa tang ông Phan Châu Trinh. Cả trường chúng tôi tham dự cuộc biểu tình lớn này; mà trường chúng tôi bấy giờ lại là trường con nhà giàu, cho nên nó đuổi một số thôi. Tôi không thuộc vào những người bị đuổi nên tôi vẫn học lại; mà học cũng không được, vì cái khí thế chính trị lúc đó không cho phép mình học một cách yên ổn.


Trong nhà trường đã vậy, ngoài xã hội cũng sôi nổi: vụ Nguyễn An Ninh, vụ Phan Châu Trinh, lại còn tờ “La Cloche Fêlée” của Nguyễn An Ninh công kích chính phủ rất mạnh, rồi luật sư tiến sĩ Phan Văn Trường viết những bài rất hay, lại có một người Pháp dân chủ tuyên truyền lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của đại cách mạng Pháp. Ông này là trạng sư MONIN nói tiếng Pháp hay lắm. Chúng tôi nghe cái văn của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường, nghe diễn thuyết chính trị  rất hùng dũng của ông MONIN… Tôi chịu ảnh hưởng của tình hình như vậy.


            Sau cuộc biểu tình nhân đám tang Phan Châu Trinh, một số anh em bị đuổi học, một số khác trốn đi Pháp để tìm cái gì mới, như ông Nguyễn An Ninh kêu gọi. Tôi cũng ở trong số đó, muốn đi khỏi nhà khỏi nước để tìm cái gì mới, nhưng cái gì mới đó thì không rõ, nhưng chắc chắn không phải là cái cũ mà mình có lâu nay; phải có lý tưởng nào cao xa hơn, nhưng là lý tưởng gì thì không biết, chỉ biết xin cha mẹ cho đi Pháp.


                Ý tưởng của tôi là: đi Pháp học cho giỏi để đạt được mấy cái bằng tiến sĩ luật khoa và văn khoa. Luật khoa để khi trở về Sài Gòn làm ông trạng sư giỏi, bênh vực đồng bào mình bằng những lời cãi hùng hồn như ông MONIN, tiến sĩ văn chương để biết viết bài sâu sắc như Phan Văn Trường, như Nguyễn An Ninh. Đấy, chỉ có thế thôi, nghĩa là không phải làm ông quan mà là làm trạng sư và nhà báo. Sau khi ở Pháp về sẽ mở văn phòng luật sư, ra một tờ báo đê bênh vực đồng bào mình, không phải nhà cách mạng. Mục đích thấp thỏi như thế, rất là bình thường, rất không có gì cách mạng cả; yêu nước yêu dân thôi, chống Pháp chứ không có gì cách mạng cả.


                Sự thực là như vậy thôi nên cha mẹ cũng cho đi; lại thấy tôi học giỏi nên tin chắc rằng tôi mà đi Pháp thì thế nào cũng thành công. Nhưng ở nhà (nói lằng nhằng cho chú Quang nghe thôi) bắt buộc tôi phải đi hỏi vợ trước rồi mới được đi Tây; có lẽ sợ tôi sang Tây kiếm một cô đầm nào chăng. Tôi đi hỏi vợ – bà này đây này (Thầy cười, quay sang nhìn Cô) – tôi bấy giờ cũng giống như con trâu mới lớn lên, cha mẹ muốn buộc con trâu ở trong nọc, cho nó đi vòng vòng thế thôi, chứ không cho đi xa. Chú hiểu ý đó chứ?


                Thế là tôi đi Pháp năm 1928. Khi qua Pháp, tôi thường đi tham dự những hoạt động chính trị, sinh hoạt chính trị trong thành phố Toulouse, một thành phố có phong trào cộng sản mạnh. Tôi nhận ra có những người Pháp bênh vực nhân dân Việt Nam; đó là những người cộng sản. Cho nên tôi đi theo họ hoài, rồi bắt đầu tiêm nhiễm. Mình ở bên đây nói đến Tây là mình ghét, sang qua đó có tụi Tây mình thương được, bởi vì nó bênh vực mình. Rồi thì những người Pháp đó tuyên truyền cho mình, tổ chức mình vào Đảng cộng sản Pháp, mặc dầu mình còn rất trẻ, mới có 18 tuổi thôi.


                Để giúp cho họ làm binh vận, nghĩa là làm tờ báo vận động người lính Việt Nam đồn đóng ở phía nam nước Pháp. Phía nam nước Pháp là một vùng ấm áp nên Pháp để lính Việt Nam ở phía nam; ở miền bắc thì ít, ở miền nam thì đông. Đảng cộng sản Pháp ở đó làm một tờ báo tuyên truyền ở trong binh lính Việt Nam. Thì tôi làm ngay; nhưng tuổi tôi chưa phải là tuổi đã có thể viết báo được. Nói làm báo – tờ báo là báo “Cờ Đỏ” – nhưng tôi chỉ có việc dịch bài của người Pháp và viết ra chữ quốc ngữ, rồi anh em Pháp họ in, rồi họ đi phát, chứ còn tôi chưa viết, chưa có đủ sức để viết báo.


                Vận động binh lính Việt Nam chống lại thực dân; thế là bắt đầu tôi làm chính trị từ đó, vào năm 1929, tôi đúng 18 tuổi. Công việc làm bí mật, vừa làm vừa đi học.


                Nhưng qua năm 1930 thì có một việc rất lớn như là một trái bom nổ trong lỗ tai của chúng tôi. Đó là cái khởi nghĩa Yên Bái. Trước đó thì không có biểu tình gì cả, êm ru à! Khi thấy Yên Bái nổ ra một cái, nhưng nổ ra không được, Tây nó bắt, nó tiêu diệt khởi nghĩa và đợt đầu tiên nó đem 13 người ra xử tử trong đó có Nguyễn Thái Học, Ký Con…


                Bên Pháp được tin như thế thì phải tính làm sao? Mình đi Pháp là tính làm hai cái tiến sĩ để về làm báo, làm văn phòng luật sư. Nhưng bây giờ học cứ học hay sao? Ngồi yên để mà học hay là đi ra đấu tranh? Ra đấu tranh có thể nó đuổi, nó không cho học nữa. Mà ở nhà thì mình hứa với gia đình như thế, nhất là hứa với bên vợ như thế, sẽ về làm ông tiến sĩ, ông luật sư, nhà báo.


Nhưng đang học giữa chừng chưa đến đâu cả, thì đối với Yên Bái nổ ra, nó đem lên đoạn đầu đài 13 người; mình là người Việt Nam, sinh viên ở tại nước Pháp và Paris thế nào? Thứ nhất, mình đã là đảng viên cộng sản rồi, làm sao đây? Không đi biểu tình thì cũng được, không ai bắt buộc mình. Nhưng mà tham gia tổ chức biểu tình thì có khả năng nó không cho mình học nữa, nó đuổi về, thì cái mục đích của mình đặt ra hồi nào, hai năm trước, thế là không được nữa.


Nhưng chúng tôi quyết định tranh đấu cùng với nhân dân Pháp biểu tình chống sự đàn áp Yên Bái, ủng hộ Yên Bái, ủng hộ những người bị xử tử, đòi tổng thống Pháp phải bỏ án tử hình đi. Cuối cùng chúng tôi làm một cuộc biểu tình tại Paris, trước dinh tổng thống Pháp, chỗ Mitterand ở bây giờ, để đòi thả những người Yên Bái. Tôi là đại biểu của anh em học sinh, sinh viên và thợ thuyền ở Toulouse lên dự cuộc mít tinh. Trong cuộc biểu tình đó – hồi tháng 5-1930 – thì tôi bị bắt. Bị bắt thì trong bụng tưởng đâu là nó bắt thì nó giam ít bữa rồi nó thả ra, bởi vì nước Pháp dân chủ mà! Dân chủ thì được tự do biểu tình, bị bắt nó đạp chân đạp cẳng mình ít hôm rồi nó thả ra chứ làm gì. Nó thả ra thì mình qua trường khác mình học. Bị đuổi trường này thì lại qua học trường khác. Nhưng mà không phải thế. Tụi tôi cũng tính trước có khả năng nó đuổi khỏi trường, nhưng có khả năng nó đuổi khỏi nước Pháp, không cho học nữa. Đó là khả năng thứ hai và là khả năng thực tế: nó đuổi bọn tui về.


Tháng 6-1930, tôi và một số 18 anh em bị đuổi về Việt Nam, không cho học nữa. Không nhớ hết. Nguyễn Văn Tạo cũng bị bắt bữa đó, nhưng nó lại thả, sau Tạo đi biểu tình nữa, nó lại bắt. Có thầy kiện biểu tình đòi thả bọn tui ra, nhưng không thành công.


Chúng tôi về đến Sài Gòn tháng 7-1930. Trước khi thả, nó đưa vào Khám Lớn đặng nó ghi tên, lăn tay, chụp hình… Té ra mấy năm trước mình đi Pháp tưởng là khi về sẽ có 2 bằng tiến sĩ… Nhưng mà bây giờ thực tế trở về không có bằng cấp nào hết, mà quần áo cũng không có. Bữa đi biểu tình, tôi ở Toulouse lên không mang quần áo gì, chỉ mang cái áo ngoài thôi. Một miếng giấy lộn cũng không có chứ đừng nói bằng cấp gì. Không có valise quần áo gì cả, về nhà xem như là trơ trụi hết.


Tất nhiên mình nghĩ: chắc bây giờ không có bằng cấp, không có gì cả, lại về ngay trong Khám Lớn, chẳng những bên nhà mình phiền lòng mà bên nhà vợ chắc còn phiền lòng hơn nữa, chắc họ cũng thôi không gả con cho nữa. Nhưng mà về tới Sài Gòn, được tự do, ở nhà bên tôi thì không rầy rà gì, bên vợ thì cũng không rầy rà gì, vì bên vợ tôi là một gia đình có truyền thống cách mạng; nhà ông cố là trụ sở, là tổng hành dinh của Thủ khoa Huân khởi nghĩa. Còn ba ông con trai thì một người bị bắn, một người bị chém, một người bị “khắc nhượng” (chặt gân), cũng là nhà yêu nước; cho nên bây giờ mình chống Tây thì họ cũng không chê lắm. Vả lại, lúc đó là lúc ông Nguyễn Sinh Sắc ghé nhà chơi hoài. Họ vẫn cho cưới!


 


Trong lúc công khai cưới vợ thì tôi làm hai việc: một việc bí mật, một việc công khai. Bí mật là tôi gia nhập ngay Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930 (tháng 8-1930); còn việc công khai là tôi đi dạy học ở trường trung học Huỳnh Công Phát ở Sài Gòn do ông Hoàng Minh Giám làm giám đốc, đường Kichner, quận 1.


 


Bắt đầu nghề giáo của tôi là một sự tình cờ như thế, chứ không có ý gì làm thầy giáo. Trước hết là bây giờ thì phải kiếm ăn, kiếm ăn thì hay nhứt là đi dạy học; hai nữa là muốn ở Sài Gòn để hoạt động thì cũng phải có việc đặng mà che công việc làm của mình. Nhưng mà sự thật có một thứ dạy khác, cũng là nghề giáo dục mà là giáo dục chính trị cách mạng. Tôi làm professeur của trường Huỳnh Công Phát, nhưng tôi được Xứ ủy chỉ định làm giảng viên của một tổ T.K. (Thanh niên Kộng sản).


 Tôi còn nhớ tổ đó độ chừng mười mấy người. Lớp học đó phần nhiều là học trò trường trung học, mà trong số đó có lẽ bây giờ đã chết hết rồi; tôi nhớ có Kỉnh, sau là đại sứ ở Moscou. Trường đó ở trên đường Đakao, tức là đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng?); nghĩa là không kể những việc khác thì công tác đầu tiên của tôi ở Sài Gòn là dạy học. Có hai thứ dạy học: một thứ dạy theo chương trình Tây (ở trung học), một thứ dạy theo chương trình cách mạng (lớp T.K.)


Tôi bắt đầu giảng dạy ở lớp T.K. bằng việc cắt nghĩa thế nào là Thanh niên Kộng sản. Công việc là vậy; và chắc là không lọt khỏi con mắy của tụi Tây. Một hôm, cuối năm 1930 hay đầu năm 1931 (có lẽ cuối 30, tháng Chạp), tôi giảng bài ở lớp, bữa trước tôi bỏ quên cái cặp ở đó. Ngay đêm đó cơ quan bị bắt, bị Tây bao vây bắt tất cả những ai có mặt trong cơ quan. Khi tôi đến, thấy có bí hiệu trước cửa, tôi biết rằng cơ quan bị thộp (vồ) rồi.


Từ ngày đó, tôi trở thành người cách mạng chuyên môn. Tôi trốn về nhà tôi ở, vì mình có hai, ba chỗ ở. Việc tôi bị bắt trước dinh tổng thống Pháp là bước ngoặt số 1; từ một anh học sinh trở thành một người đi làm cách mạng; bước ngoặt số 2: từ một người cách mạng làm nửa công khai nửa bí mật trở thành một người làm cách mạng chuyên môn. Từ nay thì không có làm công khai được rồi, chỉ toàn làm việc bí mật thôi.


Chú nghĩ coi, hai bước ngoặt, nghĩa là tôi muốn nói rằng cái nghề giáo của tôi không phải là ý tôi muốn, cuộc đời nó xô đẩy thế, và tôi trở thành một người cách mạng chuyên môn, nhưng lại bắt đầu chuyên môn của mình trong việc dạy học. Như vậy là ngay từ lúc đầu, việc tôi đi vào nghề cách mạng. Trong nghề cách mạng, chuyên môn chính là tuyên huấn, giảng dạy, đào tạo cán bộ, có thể xem như một điều không tính trước, cuộc đời đưa đẩy như vậy, và tôi nhận xét rằng quyết định như vậy là đúng: không thể tiếp tục học làm tiến sĩ trước việc lớn như Yên Bái. Thực dân tàn sát dã man, mình phải có thái độ tham gia cuộc vận động chống đế quốc.


 Khi trở về Sài Gòn, anh em đưa vào Đảng Cộng sản làm công tác huấn luyện bí mật, trở thành người cách mạng chuyên nghiệp, xét cho cùng là một sự tình cờ (hasard)(1) nữa, nhưng khi xẩy ra tôi đã giải quyết được và giải quyết đúng. Tôi không thắc mắc về chuyển hướng đó, gia đình cũng không thắc mắc. Có thể có người “tiếc” giùm, nhưng nói chung mọi người đều thấy là đúng.


*


                 Không phải sinh ra là người cách mạng, mà cuộc đời xô đẩy. Nhưng mỗi lần gặp sự xô đẩy như vậy là mình có sự giải quyết, sau này nhìn lại thì thấy đó là cách giải quyết đúng. Cuộc đời đặt ra nhiều vấn đề. Hay, dở, tốt, xấu…, phần nhiều là do tự mình giải quyết những vấn đề đặt ra cho mình.


 Đi học như tôi, nhiều người cũng yêu nước, nhưng họ vẫn học như thường và trở thành kỹ sư, bác sĩ… sung túc, có tiếng tăm, giàu có… mà vẫn đi theo cách mạng. Đó là một cách giải quyết. Thực ra đó cũng là một thái độ… để vẫn giữ được quyền lợi cá nhân, gia đình. Trường hợp tôi có thể nói là exceptionnel [đặc biệt]. Trong mười mấy người bị trục xuất, có những người không tiếp tục hoạt động, không tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương tuy không chống lại cách mạng, hoặc đã có tham gia đảng cộng sản Pháp nhưng về Việt Nam không tham gia Đảng cộng sản nữa mà tiếp tục đi học ở Hà Nội, sẽ là cử nhân, luật sư, hoặc đã có bằng cử nhân rồi thì về lập trường tư cho đến già, sống sung túc, không bị tù tội…


Còn Trần Văn Giàu thì khác; bên Pháp thì không nằm im trước biến cố lớn của lịch sử, “le bien le mal” phải giải quyết rõ ràng. Biểu tình ủng hộ Yên Bái là phải hay không phải? Cho dù có phải bị trục xuất, nên hay không nên? Đây có thể coi là thử thách đầu tiên: thà đi biểu tình để chịu trục xuất chứ không thể ngồi yên xem nhân dân Pháp ủng hộ Yên Bái của mình. Có thể coi đây là bước ngoặt thứ nhất của tôi.


 Còn bước ngoặt thứ hai? Ra đi kỳ vọng như thế, trở về trơ trụi như thế. Thế thường cũng có tự ti, xấu hổ. Nhưng trong suy nghĩ của tôi bấy giờ là: nếu mình không làm được một “sự nghiệp” trong nghề công khai như viết báo, trạng sư, thì có thể chuyển sang nghề khác mà có thể đạt mục đích. Tôi và một số anh em đi thẳng vào con đường hoạt động bí mật, nghĩa là chuyển hẳn cái… có thể gọi là “đổi đời”, mà cái đổi đời này là đi vào chỗ nguy hiểm, không có gì êm ả. Hoạt động nghĩa là tù, nghĩa là chết. Nhưng giữa việc làm thầy giáo trung học yên lành (chú biết không? mỗi giờ dạy của tôi họ trả 3 đồng bạc đấy, bấy giờ bằng 3 giạ lúa – một thùng có 23kg – nghĩa là cũng sống được). Nhưng mình không muốn sống cái lối sống đó, lại chọn một lối sống khác: bí mật, chịu hứng tất cả những gì khốn khổ có thể xẩy ra, nhưng nó lại hợp với lý tưởng của mình, với tính khí của những người thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ. Ý tưởng, tâm lý chỉ thế thôi.


Có lẽ tới đây cỡ đó cũng vừa rồi; bây giờ chú có thể hỏi thêm.


 [Hôm sau, em muốn xin Thầy nói thêm về công việc nghiên cứu, những gì xoay quanh những công trình của Thầy].



TVGDù tuổi cao, sức yếu, Giáo sư Trần Văn Giàu thường xuyên tự đọc các loại sách báo, viết bằng tay, không có thư ký. Ảnh  do Triệu Xuân chụp năm 1997.






Tôi đi học hai năm ở Moscou, trường Đại học Đông phương (ĐHĐP). Nói cho đúng, nhờ học ĐHĐP mà tôi có vốn nội dung để làm thầy giáo sau này. Năm 1933, tôi bí mật trở về nước. Lần này (1933-1945), tôi làm công việc hoạt động tổ chức lãnh đạo đấu tranh, mà việc rất lớn vẫn là việc đào tạo cán bộ, có đào tạo trong tù, có đào tạo ở ngoài. Dạy trong tù - bấy giờ gọi là “thầy giáo đỏ”.


 


Thời gian này, có những thời gian ở ngoài, tôi vẫn mở những lớp học, sẽ nói sau. Đây là đang nói mở nhiều lớp trong tù, và đây cũng là một đặc sắc trong nghề giáo của tôi. Tôi làm “thầy giáo đỏ” có chương trình, có nội dung và đào tạo được nhiều cán bộ. Có 4 lần làm “thầy giáo đỏ” ở trong tù: lần 1 đầu 1933-1934; lần 2 ở Côn Lôn; lần 3 trở về Khám Lớn; lần 4 ở trại giam Tà Lài.


 


Đặc sắc làm thầy giáo của tôi là: tôi là anh chiến sĩ huấn luyện viên, nhờ có vài kiến thức cơ bản để giáo dục anh em.


 


Hồi ở Moscou, thầy lên lớp dạy có bài vở, có “plan”. Dàn bài thì trường đưa ra, có nhiều bộ phận. Ví dụ: học chủ nghĩa Mác-Lê 7 bài, mỗi bài có 5-6 vấn đề. Ông thầy Moscou có một cách dạy rất đặc biệt: cho dàn bài, chia mấy phần, mỗi phần phải đọc cái gì từ trang mấy đến trang mấy. Ông giảng yêu cầu của bài, mình về phải đọc những bài ông cho, nghĩa là ông chưa giảng bài, chỉ nêu yêu cầu thôi. Ví du: vấn đề nông dân, ông cho 1,2,3,4 vấn đề (nông dân là gì, phân hóa thế nào, địa chủ…). Mình về đọc bốn tác giả Marx, Engels, Lénine, Staline và Nghị quyết Quốc tế cộng sản, nghĩa là không phải đọc bài của thầy mà là đọc trực tiếp trong kinh điển.


 


Sau 2,3 ngày đọc ở nhà, ông thầy trở lại, vẫn không giảng mà cho học trò tha hồ hỏi. Cách vài ngày, ông thầy lại đến, học trò đã đọc rồi. Ông chỉ định người này, người kia nói vấn đề này vấn đề kia; ví du: cắt nghĩa nông dân nghe xem v.v… Học trò thảo luận, tranh cãi hết buổi; ông thầy ghi lại, không nói gì vội. Đến buổi thứ ba, ông không bảo học trò nói nữa, mà ông giảng bài, nghĩa là căn cứ sách mình đọc, nhất là căn cứ những thắc mắc sai đúng trong thảo luận kỳ trước. Vừa giảng vừa khen chê các ý kiến học trò đã phát biểu và kết luận bài đó luôn. Tóm lại, bài giảng là cuối cùng, không phải là đầu tiên. Đây là một phương pháp lạ, là một đặc điểm tôi học hồi đó.


 


Tôi là một sinh viên ở Pháp về và ở Nam Bộ đến, thích đi nhà hàng, thích uống rượu Tây. Tôi và vài anh em như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập… dịch mấy bài học (có những đoạn của Marx, Engels, Lénine). Anh Hà Huy Tập dịch từ tiếngNga, tôi dịch tiếng Pháp ra quốc ngữ. Ví dụ: vấn đề nông dân có 100 trang, người biết tiếng Pháp thì đọc trực tiếp, không biết thì đọc bản dịch của tôi (quay ronéo, do nhà trường trả thù lao dịch).


 


Mỗi bài học, tôi đọc cái tối đa và dịch cái tối thiểu, nên trong năm học có mấy chục bài, tôi đều thuộc lòng; đọc kinh điển, lại dịch ra, có lớp mục thứ tự…, nên sau này khi vào tù không có gì trong tay cả, thế mà bài giảng của tôi có đầu có đuôi như là trên một lớp học. Sàn ciment nhà tù làm bảng, mấy cục gạch vụn làm phấn. Tôi giảng hết sức có đầu đuôi, bài 1, bài 2, điểm 1, điểm 2…, cứ y như khi tôi học ở trường Moscou. Do vậy, tôi “tự phụ” là thầy giáo mác-xít giỏi nhất.


 


Một đặc điểm khác của tôi: trong tù chỉ giảng, không có sách. Nhưng ở Khám Lớn, ở Côn Lôn tôi đều viết lại những bài giảng, mỗi bài là một quyển 20-25 trang. Nhờ lươn lẹo với mã-tà nên kiếm được bút chì, giấy để viết ra thành sách. Giấy trắng viết bằng nước cơm rồi bôi teinture d’iode lên [thuốc rượu i-ốt, thuốc tím], cho anh em đọc. Như vậy là anh em trong khám vừa được nghe vừa được đọc. Tôi khoét tường, lấy vài tấm gạch ra, bỏ sách vào đó, lấp trát lại như một cái tủ ngầm. Khám Lớn có mấy cái như vậy, Côn Lôn cũng có mấy cái như vậy. Vài người khác cũng viết, như anh Bùi Công Trừng; nhưng tôi là người viết nhiều nhất, vì nhớ nhiều nhất.


 


Có hai lần ở Khám Lớn, lần viết nhiều nhất là 13 quyển; kỳ sau nữa ở Côn Lôn cũng 7-8 quyển. Khi Cách mạng thành công, tôi vào khám thì chúng đã lấy mất. May thay Trần Giang đã giữ được 5-7 quyển của tôi (do Tây lấy được). Ngay ở Văn phòng Trung ương Đảng cũng còn 2 quyển của tôi.


 


Tụi tôi giảng bài, tôi ở từng trên, các chị em ở từng dưới. Chúng tôi đánh morse xuống tầng dưới, chị em lại đánh morse sang từng khác, do vậy, các từng đều có bài giảng (có hàng mấy trăm tù nhân chính trị). Sau này, mấy lần gặp nhau ở TP. Hồ Chí Minh, có anh nói vui: “Hồi bị bắt, tôi có biết gì về chủ nghĩa Mác-Lê đâu; vô khám Côn Lôn thằng Giàu nó dạy tôi đó”. Khám Lớn: 2-3 lớp. Côn Lôn: 1 lớp; dạy tất cả tù chính trị, chỉ trừ mấy anh ở Moscou về, họ hỗ trợ thêm cho bài giảng của tôi.


 


Ở Tà Lài, tù nhân đông quá, nhiều đảng phái, không bí mật được, chỉ giảng công khai, tựa như một cuộc họp của quần chúng. Một thành tựu của tôi mà tôi khá tự hào là: khi ở tù, tôi đã đào tạo rất nhiều cán bộ. Giữa hai lần tù, khi ở ngoài, tôi vẫn đào tạo cán bộ, nhưng ở trong tù là nhiều nhất. Tổng cộng ba lần là 7 năm ở tù.


 


Những đoạn của Marx, Emgels, Lénine, Staline tôi nhớ vanh vách, cũng là nhờ cách dạy của ông thầy ở Moscou như đã nói ở trên. Và nói chung các ông thầy ở Moscou đều dạy theo cách đó cả. Ví dụ: các vấn đề về cách mạng vô sản, vấn đề nông dân, vấn đề Đảng, vấn đề công nhân…, các ông thầy phân biệt hai hạng học trò (để cho bài đọc tối đa hay tối thiểu). Tôi dịch từ tiếng Pháp ra tiếngViệt, cứ 1 trang được 2 rúp, anh đánh máy được 1 rúp, cộng là 3 rúp, ra nhậu thịt cừu nướng và rượu, làm được liên tục hai năm như vậy.


 


Ngay ở Moscou, tôi đã viết. Ở Tuyên huấn trung ương còn mấy cuốn sách của tôi: “Những nguyên lý tổ chức của Đảng cộng sản”, “Nghệ An đỏ”, “Cách mạng tư sản dân quyền”. Cả ba cuốn đều in bằng tiếng Việt.


 


Làm thầy giáo về chính trị thì có cái khó, vì người học là người tứ xứ, trình độ khác nhau, từ anh tú tài đến anh nấu bếp ở tù đều là học trò cả; vì vậy dạy rất khó, “thầy giáo đỏ” phải chia từng trình độ mà dạy. Tôi rút được kinh nghiệm là: giảng làm sao để tất cả các trình độ đều hiểu được, từ người lao động đến người biết chữ hoặc người có trình độ cao. Nói khác: những vấn đề lý luận, triết học, lịch sử là những vấn đề khó, người giảng phải có cách nói, cách giảng thế nào cho mọi người đều hiểu được. Làm sao cho người có học không chê thấp, mà người có trình độ thấp không chê là quá cao. Làm sao cũng đường lối đó mà mọi lớp trình độ khác nhau đều hiểu được.


 


Sau này làm nghề giáo chính thức của Nhà nước dân chủ cộng hòa, tôi thấy kinh nghiệm giảng dạy trong tù được vận dụng rất hay. Không có vấn đề nào, dù là triết học, nếu có cách giảng thì người dân thường vẫn có thể hiểu được. Nghĩa là không phải phàm tục hóa những tư tưởng sâu xa, mà vấn đề là cách giảng để người bình dân hiểu được, mà còn hiểu sâu sắc. Đó là thu hoạch sâu sắc nhất về giảng dạy của tôi có được ở trong tù Khám Lớn, Côn Lôn hay Tà Lài.


 


Có lẽ không nên kéo dài thêm chuyện dạy học của tôi ở trong tù, trong trại. Tôi muốn nói đến một lớp học đặc biệt – cũng hơi phổ biến nhưng đặc biệt – vì sau nhiều năm giảng dạy trong tù, phần lớn là giảng cho anh em lao động, công nông, thì năm 1944-1945, sau khi vượt ngục ở Tà Lài, tôi có mở ở Sài Gòn hai loại lớp, khá quan trọng trong thời cuộc Cách mạng tháng Tám:


 


Đảng Cộng sản nhận định lực lượng chính của cách mạng là giai cấp công nhân. Có lẽ tôi là một trong những anh chú trọng giáo dục đào tạo cán bộ công nhân, ít nhất cũng là ở Sài Gòn. Năm 1944-1945, tôi có mở liên tiếp những lớp học của công nhân, của những cán bộ công đoàn. Do vậy, lực lượng của công nhân, công đoàn ở Sài Gòn đông, nên gặp thời cuộc chính trị thuận lợi thì phong trào công nhân Sài Gòn lên rất cao; chúng tôi có đủ cán bộ để lãnh đạo phong trào công nhân đó.


 


Nhưng đồng thời với những lớp học công nhân các năm 1944-1945, chúng tôi ở Sài Gòn đã chú ý mở những lớp học đàng hoàng cho những sinh viên ở Hà Nội và trí thức ở thành phố Sài Gòn. Chú Quang còn nhớ không, hồi 1942-1943 ở Hà Nội có Tổng hội sinh viên, họ muốn làm chính trị, tổ chức những cuộc vận động rất mạnh, tiếp đó là phong trào “xếp bút nghiên” không đi học nữa, trở về Sài Gòn tham gia bạo động hoặc ra chiến khu Việt Bắc hoạt động. Tổng hội sinh viên do Dương Đức Hiền làm chủ tịch, không có chính trị, dễ bị bọn thân Pháp, thân Nhật lôi kéo…


 


Nếu lớp công đoàn là “sơ cấp” thì đây là lớp “cao cấp”, xem như là lớp học chính trị ở cấp đại học (nếu so với các lớp học trong tù). Cuối năm 1944 đầu năm 1945, từ các lớp học này mà tôi có những kinh nghiệm để sau này làm giáo sư trường đại học có kết quả. Đây vốn là những sinh viên luật khoa, kỹ sư, bác sĩ ở Hà Nội, ở Sài Gòn. Cứ mỗi tuần lễ tôi giảng một ngày chủ nhật. Những người này lại về cơ sở, về lục tỉnh giảng lại cho những bạn của mình. Như vậy, tôi đã làm hai lớp song song: một lớp sơ cấp của công nhân, một lớp cao cấp của trí thức sinh viên, đào tạo được một lớp đông đảo tham gia đắc lực vào Cách mạng tháng Tám.


 


Giảng cho công nhân thì theo chương trình của Đảng Cộng sản, còn cho trí thức sinh viên thì theo chương trình của Đại học Staline (có kinh tế chính trị học, triết học, lịch sử phát triển cách mạng thế giới, nghĩa là trình độcao hơn. Có thể nói những bài giảng triết học lúc này cũng giống như những bài giảng cho mấy chú ở Dự bị đại học Thanh Hóa và Đại học Hà Nội sau 1954. Đối với người trí thức, tôi có một cách để phát huy esprit critique [tư duy phê phán] của họ, cho họ mạnh dạn phát biểu ý kiến về chủ nghĩa Marx-Lénine, chứ không phải theo lối dogmatique [giáo điều], áp đặt họ.


 


Tôi có kinh nghiệm: giảng cho họ một phần, dành một phần thời gian để trả lời cho họ. Họ có thể hỏi bất cứ điều gì trong phạm vi bài, và tôi trả lời hết; họ có thể đồng ý hay không đồng ý thì hỏi thêm. Do vậy, lớp học sâu sắc, hay, và những trí thức – dù là con địa chủ, tư sản – đều thấy chủ nghĩa Mác-Lénine là chủ nghĩa hợp lý.


 


Sau này tôi làm thầy giáo ở Đại học Hà Nội được, một phần là do tôi giảng ở Côn Lôn, một phần là do lớp ở Sài Gòn hồi 1944-1945 (có Huỳnh Văn Tiểng, Huỳnh Tấn Phát và nhiều người nữa). Có thể nói chắc: hai loại lớp đó (của cán bộ cao cấp ở tù Côn Lôn hồi 1935-1936 và cán bộ học sinh trí thức ở Sài Gòn hồi 1944-1945) là hai lớp chuẩn bị cho tôi đi vào làm thầy giáo ở đại học sau này. Sở dĩ tôi dạy ở đại học không dở là nhờ hai loại lớp này (một ở trong tù, một ở ngoài tự do) Cho nên, về sau, ngoài kinh nghiệm thực tế, tôi có kinh nghiệm đi sát với tư tưởng của anh em. Và tôi nhận thấy những vấn đề gì khó khăn nhất, khó hiểu nhất, tôi cũng giải thích được một cách dễ hiểu nhất.


 


Khi Cách mạng tháng Tám thành công, tôi hoạt động tranh đấu. Đến khi tôi rời Sài Gòn đi qua Cao Miên vận động, tôi cũng tụ họp anh em Cambodgiens ở trường Sisowat ra chiến khu mở một lớp đại khái như ở Sài Gòn, dạy bằng tiếng Tây. Người Cao miên học giỏi, khá.


 


Năm 1949, tôi không làm trên chiến trường Cao miên nữa, tôi về chiến khu Việt Bắc làm giám đốc Nha Thông tin. Thời gian này, tôi có làm giáo sư triết học cho trường Pháp lý của Đỗ Xuân Sảng. Tuy thời gian không bao lâu nhưng tôi cũng đủ thời gian để giảng xong triết học duy vật lịch sử và duy vật biện chứng. Từ cours giảng này ở Vĩnh Yên (trường của Đỗ Xuân Sảng) mà tôi viết thành hai cuốn “Duy vật biện chứng” và “Duy vật lịch sử” ở Thanh Hóa.


 


Chiến sự lan rộng. Năm 1951, tôi được anh Trường Chinh yêu cầu chuyển sang quân đội để làm trong Tổng cục chính trị (địch vận). Tôi trả lời anh Trường Chinh: địch vận rất hay, tôi có hiểu biết tâm lý người Pháp, hiểu biết chút ítvề người Ả-rập, Algérie, Tunisie, Maroc…, nhưng tôi nhận thấy không thích hợp với tôi, vì chỉ là công tác cổ động thôi, không có đi sâu nghiên cứu, khoa học. Và tôi xin cho tôi qua bên giáo dục.


 


Lúc đó có trường Khoa học cơ bản bên Quảng Tây; trong nước hoàn toàn không có trường cao đẳng nào. Lúc này bên Bộ giáo dục (ông Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khánh Toàn) có ý kiến lập ra trường Dự bị đại học ở vùng giải phóng rộng lớn Thanh Nghệ Tĩnh, lấy Thanh Hóa làm trung tâm, cũng phần nào chuẩn bị thành lập trường đại học sau đó; thêm nữa cũng là để có một chỗ để sử dụng những tài năng của một số trí thức không ra chiến trường được, cũng không tham gia sản xuất được, mà chỉ dạy cấp trung học thì phí. Dự bị đại học đã ra đời như vậy.


 


Vậy là cho đến cuối năm 1951, tôi mới thực sự là một enseignant [nhà giáo]. Tuy đã làm thầy giáo từ những năm 30, nhưng chủ yếu là làm chính trị, là dạy ở trong tù. Bây giờ mới là thực sự làm thầy giáo. Có thể coi đây là sự đánh dấu chuyển hướng lần thứ ba của tôi:


 


- Lần 1: không đi học nữa, đi làm chính trị, bị bắt, bị tù (vụ Yên Bái ở Paris).


 


- Lần 2: (cũng là lần căn bản), thôi làm thầy giáo trung học, trở thành người cách mạng chuyên nghiệp.


 


- Lần 3: từ người làm chính trị chuyển sang làm thầy giáo thực sự, làm giáo sư đại học.


 


Xưa nay, những người làm chính trị chuyển sang làm nhà giáo thì chưa ai thành công (ở cấp đại học và trên đại học). Đối với tôi, có thể coi đây là một bước nhảy trên không (không phải bước nhảy dưới đất), nghĩa là chưa biết kết quả ra làm sao. Hồi ở trường Staline, tôi ráng sức học tập, cho nên lần chuyển hướng này tôi biết là rất khó, nhưng tin là có thể làm được (còn chuyển từ làm khoa học sang làm chính trị là chuyện bình thường). Tôi cũng đã dự liệu là bước chuyển này có thể không réussi [không kết quả]. Nhưng tôi tự tin mình hồi nhỏ học giỏi, khi vào tù mấy lần lại giảng dạy nhiều. Tôi tin rằng kinh nghiệm có thể giúp tôi chuyển sang làm khoa học, dạy đại học kết quả, có thể làm được.


Thế là theo chỉ thị của Bộ giáo dục, tôi vào Thanh Hóa, tập hợp những anh em trí thức hồi 1949-1950 (ở không, không biết làm gì), vì lúc này những trí thức này không phải muốn ra làm là được làm (con cái nhà ai? nghĩa là còn vấn đề lý lịch…). Việc đầu tiên coi như thành công là tôi đã tập hợp được một số trí thức hầu như thất nghiệp (ông Tố, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Đức Chính, Đào Duy Anh, v.v…). có sự ủng hộ của ông Đặng Thai Mai (đang ở Thanh Chương), được khoảng nửa chục anh em như vậy. Nhưng Dư bị đại học chỉ học 12 tháng rồi lên đại học.


 


Nhưng chiến tranh kéo dài. Xong dư bị đại học rồi thì học trò đi đâu? Chưa có trường đại học. Bộ Giáo dục cho chuyển trường Dự bị đại học thành trường Sư phạm cao cấp, đào tạo thầy giáo cho khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tụi tôi lại xin chuyển thành Đại học sư phạm, dạy cho tới Genève, vừa hết lớp học thì vừa hết chiến tranh.


 


Tôi nhớ: hồi đó ông Đào Duy Anh muốn lên lớp phải cuốc bộ từ Nông Cống đến Thiệu Hoá (Chợ Đu) mười mấy cây số. Mỗi học trò một cái ghế nhỏ, học ban đêm, mỗi trò một cái đèn dầu phòng máy bay làm bằng lọ péniciline. Nói chung là tối om: học trò khó trông thấy mặt thầy, mà thầy giảng thì cứ thao thao bất tuyệt; những buổi học rất thú vị. Phần nhiều học trò là anh em giáo viên có tú tài cũ nên có trình độ. Dù sao, Dự bị đại học cũng là cái mầm của Đại học sau này... Rồi sau trường Khoa học cơ bản ở Quế Lâm về, lập ra trường Sư phạm cao cấp.


 


*


                Sau Genève, về Hà Nội lập trường Đại học, tôi làm bí thư Đảng ủy trường, do vậy tôi cũng dạy chính trị. Nhưng ngoài môn Triết học tôi phải phụ trách, tôi còn dạy môn Sử. Về cổ sử thì cụ Đào Duy Anh làm được rồi, tiếp đó về Sử thế giới có Phạm Huy Thông, Văn thì có Đặng Thai Mai v.v…


 


Lâu nay tôi dạy triết học, chính trị, nhưng thiếu cái cơ bản là Lịch sử hiện đại Việt Nam và Lịch sử hiện đại thế giới, là hai môn chưa có professeur. Tôi dạy chủ yếu là chủ nghĩa Marx, nhưng thiếu hai thứ này. Lịch sử thế giới cận đại thì dễ; vì đã học ở lớp tú tài, ở Moscou cũng đã học lịch sử cân đại và cách mạng thế giới, chỉ cần lấy sách ra soạn theo tinh thần cách mạng, không có khó khăn. Cách mạng Pháp, cách mạng Nga thì tôi thuộc quá rồi, không có gì phải lo.


Nhưng lo nhất là cách mạng cận đại Việt Nam thì xưa nay chưa có sách nào (Tây không có, ta cũng không có), mà không thể nhờ ông Đào Duy Anh làm được. Chỉ còn một mình tôi.


 


Mấy chú không biết được khó khăn của tôi hồi này. Mỗi tuần tôi chỉ giảng có một buổi, vì trong tuần lễ đó tôi phải để ra 5 ngày để nghiên cứu, để sang ngày thứ 6 giảng lại cho học trò. Từ chỗ không biết gì đáng kể, không biết gì cho có đầu có đuôi, tôi phải dành 5 ngày đi thư viện hoặc mượn sách về đọc để chuẩn bị giảng một buổi. Mấy cuốn “Chống xâm lăng” của tôi ra đời hồi đó là trong bối cảnh như vậy. Còn lịch sử cách mạng hiện đại thì tôi sống rồi, nên giảng có bề dễ hơn. Có lẽ các chú hồi đó không hiểu điều này: học suốt tuần để giảng một buổi cuối tuần, và tôi đã làm như vậy liên tục suốt một năm.


 


Tới đây, tôi muốn nói thêm một điều, mà tôi cho là việc làm đúng và tốt. Lúc ấy mình dạy, đào tạo hai năm, nhưng đặt vấn đề là mình phải lấy lại một số sinh viên giỏi, có khả năng trở thành thầy giáo để làm trợ lý cho mình và trở thành thầy giáo đại học. Ở đây có vấn đề đấu tranh để giữ lại ai. Bấy giờ, điều người ta chú ý trước tiên là thuộc thành phần nào, rồi mới đến học giỏi hay học dở. Tôi lại là bí thư Đảng ủy, nếu tôi cứ theo như vậy thì khó có những giảng viên giỏi sau này. Cũng may lúc đó, một số như Phạm Huy Thông, Đào Duy Anh… đồng ý với tôi rằng cái chính là tìm hiểu xem tư tưởng của người được giữ lại có phải là tư tưởng yêu nước không? Và đã phải tranh luận rất khó khăn… Nhưng rồi anh em cũng rất raisonnable [có lý], đã đồng ý, và sau này thấy như vậy là hay.


 *



Chú à, đời con người ta khó tránh sóng gió, không nhiều thì ít. Có vài vấn đề, tôi tự xét tôi đúng với chủ nghĩa Marx-Lénine, tôi không sai, không có gì người ta có thể “đánh” (phê bình, góp ý) tôi được. Cho nên tôi thấy những sóng gió đối với tôi kỳ thật là không thỏa đáng; không lẽ gì chân lý thua phi lý, có thua cũng chỉ tạm thời thôi. Không ai có thể bịa ra lịch sử, xuyên tạc lịch sử. Tôi tin như thế. Vérité [sự thật] cuối cùng cũng biểu lộ rõ mà thôi.


Có thể nói là tôi tin, rất tin vào khả năng, năng lực của tôi, khả năng chịu đựng và khả năng làm thành công việc mình được giao phó, dẫu nó trắc trở như thế nào. Ví như: từ việc thông tin tuyên truyền mà qua làm dự bị đại học, sư phạm cao cấp, đại học là những việc không liên quan gần gũi gì với nhau. Một chuyển hướng như vậy, nếu là người khác thì có thể thất bại. Làm chính trị mà chuyển sang khoa học, có khi vô hình trung tự mình lên án mình. Còn tôi, tôi tin vào ý chí và khả năng của tôi. Tôi giảng bài có bài bản, viết ra hẳn hoi – hay dở, trúng sai là việc khác – như các chú thấy đó.


Thứ ba: tôi tin vào cái sáng suốt của người đời.. Do vậy, những sóng gió chỉ là phơn phớt trên mặt thôi. Còn người đời bao giờ cũng đánh giá đúng. Nếu mình đúng thì không ai bảo mình sai, nghĩa là tôi tin vào lòng người, sự phán đoán và tấm lòng của con người. Nếu bản thân – bằng pratique [thực tiễn] tỏ ra không năng lực, không ý chí (hay nói cho đúng chữ, tuy không nên nói ra: nếu không có tài, không có chí thì sóng gió vùi giập chẳng trách ai được). Phải có chí, có lòng tin, bồi dưỡng mãi năng lực của mình thì người ta sẽ đánh giá mình bằng hoạt động, bằng những công trình, bằng nhân cách của mình. Chú Quang có nghĩ rằng: đời con người ta cũng ví như con thuyền ngoài biển, ráng mà sống như vậy thì có sóng gió chắc cũng khó chìm.


Chú thấy đó, tôi xưa nay cũng có những điều dở, nhưng về phương diện cố gắng làm việc thì tôi làm việc d’une facon continue [liên tục], không gián đoạn: ở tù thì huấn luyện, ở ngoài thì tổ chức đấu tranh; ít nhất người ta cũng thấy điều đó. Về tư cách, nói chung tôi cũng có sai sót nào đó, nhưng tôi cố giữ được tư cách, nhân cách của mình. Ở đời có hai chuyện: sự nghiệp và nhân cách là đáng kể hơn cả. Nhân cách, nếu đúng là nhân cách, có thể ví như là một thứ vàng ròng, mà đã là “ròng” thì dù có một phân hay một lượng cũng là vàng ròng. Nói nhiều không ăn thua, làm được nhiều việc mới ăn thua. Còn như, bằng cách nào đó làm cho người khác tuyên dương mình, đó không phải là đất đứng vững được. Mà là làm thế nào qua những cuộc bể dâu, mình tỏ ra xứng đáng với vai trò của mình không ai kêu ca lắm; có được như vậy là được rồi.


Có lẽ tôi đã nói một, hai lần với chú rằng: giảng dạy trong tù cũng là giảng dạy. Nhưng cái người ta chú ý có lẽ là người ta xem coi mình làm có đúng cái mình nói, mình dạy hay không? Nếu đúng thì học trò theo, anh em theo, người ta tin tưởng; nếu không đúng thì vị tất đã xứng đáng là thầy giáo. Việc làm lớn nhất của người thầy giáo là làm gương.


Nghề giáo hay ở chỗ truyền lại cho mọi người những cái gì hay mà mình học được trong sách vở thánh hiền, những nhà lỗi lạc xưa nay. Mình làm cho con người yêu mến con người hơn. Vả chăng, khi mình  giảng dạy cho người khác cũng là một cách mình làm thầy giáo cho chính mình, lợi cho thiên hạ mà trực tiếp là lợi cho mình. Hàng ngày mình nghĩ và nói như thế, dù nhiều dù ít tự nhiên mình cũng phải làm như thế. Nói với người ta mãi như vậy thì rồi rút cục mình cũng sống như vậy; nếu không thì hóa ra mình là người giả dối. Dù có lặp lại những tư tưởng hay của người khác mà bản thân mình không thực hiện hay hướng theo đó thì không thể là người thầy giáo thực sự được.


Tôi làm nghề giáo, bắt đầu việc giảng chính trị, giảng về cách mạng, cũng tức là giảng về những điều qúy nhất của con người ta, nhất là dưới chế độ thuộc địa. Mình thấy làm việc này là kế tục sự nghiệp ông cha, có thể nói là mình góp phần làm cho dân tộc tiến bộ lên, xứng đáng với lịch sử hơn, bản thân mình xứng đáng với đồng bào mình hơn.


Cái hay nhất của nghề giáo là lựa chọn – enseigner, c’est choisir – lượm lặt những cái gì hay nhất về tinh thần để nói cho người khác. Thầy giáo có thể coi như một quyển sách, nhưng là quyển sách biết gạt bỏ những cái gì xấu, dở, dối trá để giũ lại cái gì đúng, hay, sự thật.


Thầy giáo tựa như một cuốn almanach cổ kim đông tây. Nếu người Công giáo luôn có cuốn “Évangile” bỏ trong túi, thì thầy giáo tuy không có sách trong mình, nhưng trong mình lại đầy những cái hay ở đời, résumer lại [tóm lược], rồi hàng ngày lặp đi lặp lại, tựa như khắc ghi lên đá, càng ngày càng sâu thêm, xét cho cùng là chính nó làm ra mình, tạo ra nhân cách của mình.


Ưu điểm của thầy giáo là đã dạy người ta thì không thể dạy điều dở mà phải dạy điều hay, điều ngay thẳng; nên bản thân thầy giáo, dù muốn dù không, phải là một cái “túi khôn” thì mới truyền được cái khôn cho người, mà trước hết lại là có lợi cho bản thân thầy giáo., cho bản thân mình. Thầy giáo không phải là người giữ vàng cất trong kho, mà là đem vàng gieo ra cho mọi người, càng rộng càng hay. Với ý nghĩa đó, thầy giáo là người généreux [hào hiệp] về tư tưởng và hành vi tốt. Cho nên ngày xưa người ta trọng ông thầy nhiều khi hơn cả cha mình, đó là điều có lý.. Sau này người ta học nhiều thầy quá, mà ông thầy gắn bó với học trò không bao nhiêu, do vậy ảnh hưởng của ông thầy đối với học trò không được như xưa. Dù sao, ông thầy vẫn là người tập hợp những điều hay trong cuộc đời, mà điều đáng qúy nhất trong cuộc đời chính là những điều hay.


Bây giờ tôi nói về nghề dạy sử của tôi. Đây cũng là par hasard [tình cờ] thôi; vả chăng làm chính trị cũng chính là làm sử. Tôi nghĩ: ở trên đời không có sách nào, đạo lý nào có tác dụng xây dựng con người bằng sử hết. Sử là cách xây dựng hơn hết. Triết lý có thể xây dựng con người, nhưng nói chung là trừu tượng. Kinh kệ có nhiều cái hay, nhưng lại là việc xa vời, mông lung. Tôi thấy duy có môn sử là môn gắn liền với con người hơn hết, trong đó chính tà, phải quấy, tốt xấu…, các loại người được ghi lại, dựng lên một cách điển hình. Cho nên Sử là sự biểu diễn để mình lựa chọn những điều hay dở, tốt xấu, nên chăng…


Theo tôi, giáo dục tư tưởng cho nhân dân ở bất kỳ thời nào, nhất là hiện nay, thì học lịch sử nói chung, lịch sử cách mạng và kháng chiến nói riêng là cách giáo dục tư tưởng sâu xa nhất, cụ thể nhất. Không có quyển “Morale” [Đạo lý] nào hơn lịch sử, trước hết là lịch sử cách mạng và kháng chiến của mình. Các thứ tốt xấu, mưu trí cao, mưu trí hẹp, mưu trí thiện, mưu trí ác… đều hiển hiện trong lịch sử cả. Cho nên cái nghề sử – không phải mình làm nghề đó mà khen nó – là môn giáo dục uốn nắn, làm tốt cho con người ta hơn bất kỳ môn học nào. Đương nhiên còn tùy cách người ta viết sử, dạy sử như thế nào, nhưng sử là cái mà tính giáo dục, tính “trồng người” nó chắc chắn, sâu sắc nhất, mà lại không chán, rất varié [biến hóa].


Con người là rất varié. Con người trong lịch sử lại càng rất khác nhau. Mà học tập qua lịch sử lại dễ dàng, dễ nhớ. Có thể qua lịch sử mà học được biết bao nhiêu chuyện: người làm quan, người làm dân, người làm chính trị đếu học được trong lịch sử cả. Có thể giỏivề sử mà không phải thánh hiền, nhưng không có thánh hiền nào dốt về sử. Học sử có tầm quan trọng như thế cho nên người viết sử, dạy sử phải ý thức về trách nhiệm của mình; vì sự thật  lịch sử và sự thật viết trong sử nhiều khi không giống nhau. Cho nên nhiệm vụ những thầy giáo sử là không chỉ đề cao, mà có lẽ trước hết là phê phán. Nhiệm vụ thầy giáo và thầy giáo sử nói riêng là làm cho cuộc sống mỗi người – tuy cũng đều chỉ sống bấy nhiêu thôi – nhưng sống cuộc sống đông đặc hơn người không biết sử. Cũng là bấy nhiêu của cải (một đời người), nhưng người biết sử là người giàu có hơn. Người am hiểu lịch sử, với ý nghĩa đó, là người “đầy đủ” hơn.


*


                Tôi vốn là một người học trò siêng năng và giỏi thôi, chứ không có ý nghĩ là mình làm một nhà nghiên cứu.; không bao giờ có ý nghĩ đó. Chỉ có ý nghĩ làm một nhà viết báo giỏi, viết như ông Nguyễn An Ninh, làm một nhà diễn thuyết giỏi như ông MONIN, chứ khôngcó ý nghĩ gì làm nhà nghiên cứu cả.


Nhưng đi vào Trường Phương Đông, đi làm cách mạng thì nó đụng phải ngay một vấn đề là bây giờ mình đã dày công học chủ nghĩa Marx rồi, đã dày công học kinh nghiệm lịch sử thế giới rồi, đặc biệt là kinh nghiệm của cách mạng cận đại, hiện đại thế giới, thì nó còn một vấn đề là mình phải biết xứ mình thì mới làm cách mạng được.


Cho nên, trong khi tôi học (hôm trước, tôi đã kể với chú cách học của tôi rồi, nay tôi nói thêm), tôi đứng trước một tình hình khác với một số anh em: tôi phải làm một cái luận án tốt nghiệp của Trường Đại học phương Đông. Không phải ai cũng làm, ai muốn làm thì làm, ai không làm thì thôi. Muốn làm thì người ta chấm, không muốn làm thì hết kỳ học cũng phải về hoạt động thôi; hoạt động hay không hoạt động thì hết khóa cũng về thôi. Nhưng tôi thì tôi làm luận án. Trong thời gian học tập, tôi sưu tầm tài liệu để giải quyết và trình bày một vấn đề rất lớn của cách mạng Đông Dương, tức là vấn đề nông dân và điền địa (La question agraire en Indochine). Đó là sujet [đề tài] luận án của tôi, cũng là luận án tốt nghiệp.


Tôi làm bằng tiếng Pháp, bởi vì ở bển, nếu làm bằng tiếng Việt thì cũng phải đọc bằng tiếng Pháp. Nói riêng với chú chơi thôi: người ở Văn phòng Quốc tế cộng sản đánh máy luận án của tôi là một chị sau này rất nổi tiếng (chị WERMESH, người Pháp flamand, vùng Flandre, vợ của THOREZ). Bấy giờ chị còn là thư ký. Bà ấy chê: mày có nhiều ý hay, nhưng viết văn dở quá. Thật ra văn Pháp để làm chính trị thôi, hay sao được. Tôi nghĩ kỳ này mấy chú đi qua bên Moscou mà tìm lại bản đánh máy của tôi thì cũng hay. Có thể xem đó là tác phẩm khoa học đầu tiên của tôi, không bao nhiêu trang đâu, tôi nhớ đâu non 200 trang đánh máy.


Bấy giờ nghiên cứu về cách mạng Việt Nam, tôi có đề tài thứ hai, lấy tên là “Nghệ An đỏ”, kể lịch sử và rút kinh nghiệm mấy bài học của khởi nghĩa xô-viết Nghệ an. Cũng có thể coi đây là công trìnhnghiên cứu khoa học thứ hai của tôi. Có thể coi là loại “bắt đầu” nghiên cứu khoa học. Cũng ở Moscou, tôi còn viết quyển thứ ba, không phải nghiên cứu cách mạng Việt Nam, mà rút từ trong lý luận và hoạt động của Lênine, của đảng cộng sản Liên Xô mà trình bày những cách tổ chức, hoạt động của một đảng cộng sản là như thế nào. Nói cho đúng ra, quyển này không phải là sáng tạo gì hết mà là lấy trong hai, ba quyển của người cộng sản Nga, những người lãnh đạo Nga, lãnh đạo Quốc tế cộng sản màviết nó ra thôi, xem như là trình bày lại ý kiến của người ta thôi. Quyển này tên là “Les principes d’organisation du Bolchévisme” [Những nguyên lý tổ chức của chủ nghĩa bôn-sê-vích]. Cuốn này và “Nghệ An đỏ” có viết bằng chữ quốc ngữ, còn “La question agraire…” thì bằng tiếng Pháp. Các sách này bây giờ còn ở trong Tư liệu TW Đảng, tôi đã thấy rồi; hồi đó tôi ký tên là HỒ NAM. Có thể coi đó là những bước chập chững đầu tiên của tôi, giải quyết những vấn đề cũng khá khó khăn, nhưng đại khái theo trình độ lúc bấy giờ thì anh em cho là được.


Bước đầu nghiên cứu khoa học của tôi là ở chỗ đó. Cho nên về sau này vừa học vừa nghiên cứu, vừa hoạt động, vừa viết sách, vừa học vừa viết, vừa dạy vừa viết, vừa hoạt động cụ thể vừa nghiên cứu khoa học; những thứ đó cứ như đi đôi trong đời của tôi, hình thành từ những năm 1930 cho đến Cách mạng thành công. Bây giờ ngó lại thì đó là một đặc sắc trong đời hoạt động chính trị mấy mươi năm của tôi, cho tới hôm nay vẫn còn như thế, chú thấy được không? Nhớ hồi làm việc ở Viện Sử của anh Trần Huy Liệu, tôi thường nói vui với anh em: cái nghiệp của người nghiên cứu chân chính như con trâu kéo cày, kéo cho đến khi sức tàn lực kiệt mới chịu gục ngã trên luống cày. Nhưng khỏi lo ruộng cày dở dang, con cháu nó sẽ kéo cày  tiếp, kéo hay hơn là cái chắc. Chú ngạc nhiên há? (Dạ không ạ!) Còn chú thì…, sức mấy mà kéo cày hơn tôi được! (Thầy cười vui, còn tôi… im re).


Từ khi tôi về nước, từ năm 1933 đến năm 1945, tôi không nhớ là được bao nhiêu sách, mà thường là sách nhỏ, sách bỏ túi (độ chừng 50 cuốn), chứ không phải là sách nghiên cứu, nói cho đúng ra thì không có điều kiện để mà nghiên cứu. Bây giờ trong lưu trữ của Tây cũng còn một số quyển, trong lưu trữ của ta thì còn ít hơn. Một số sách này cũng có thể gọi là nghiên cứu, nhưng đang cạn thôi. Gọi là nghiên cứu, vì trước đó không có sách nào nói cả. Sách của Marx, Lénine là nói chung chung chứ không nói tới cách mạng Đông Dương. Viết một quyển về cách mạng ĐôngDương cũng là nghiên cứu, nhưng chỉ sơ sài thôi.


Đi đâu, ở đâu tôi cũng viết, ở khám nào tôi cũng viết, thậm chí lúc tôi đi ra ngoại quốc như lúc tôi ở Xiêm, ở Cao Miên, tôi cũng có một số sách, có lẽ bên mình cũng có mang về mà bên Xiêm cũng có thể còn. Tôi còn viết một quyển gọi là “Lịch sử Việt Nam”, văn xuôi, viết theo dạng thuộc lòng chứ không phải nghiên cứu khoa học, lấy lịch sử Việt Nam để tuyên truyền cho cách mạng, độ 50 trang.


Lại còn một số đề tài nữa, không thuộc loại nghiên cứu, như vấn đề “Dân tộc thiểu số ở Đông Dương”. Cuốn “Việt Nam trên đường cách mạng” ký tên Xuyên Vân Nhạn (không có nghĩa lý gì hết trọi, chỉ là con nhạn bay trong mây). Quyển sách này viết trong thời kỳ Nhật Bổn nó đương thắng, Đức nó đương thắng (ở Thái Bình Dương, ở Nga), nội dung có ý chứng minh rằng phe phát-xít sẽ thất bại và Nhật Bổn sẽ suy yếu, chúngsẽ thua và cách mạng Việt Nam sẽ thành công. Mục đích cuốn sách cốt làm sao để người ta ngó thấy đi với Nhật Bổn là một nguy cơ, còn hơn là với Pháp nữa, vì Nhật Bổn không những là đế quốc mà còn đông dân nữa; Nhật ở chỗ sớm đi tối về gần mình, nó mà lấy được mình thì khó bề mà giải phóng; có đi thì đi theo đồng minh, vì đồng minh nhất định thắng. Đó là thời trước Cách mạng tháng Tám.


Cái ý nó như vậy thôi. Nhưng vì sách lược ngoài đó có hơi khác, trong ngoài không có liên lạc với nhau, nên nó “trật búa, trật liềm” với nhau. Vì vậy mà có bài công kích Xuyên Vân Nhạn.


*


                Bây giờ nói tới thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám. Những quyển như “Duy vật luận” chẳng hạn, hay cuốn “Biện chứng pháp” là kết quả hồi tôi giảng ở trường Pháp lý Vĩnh Yên. Các cuốn này về sau cũng có in.


                Khi đất nước tự do độc lập rồi, thì tôi quan tâm đến lịch sử giai cấp công nhân. Tôi làm công việc tuyên truyền giáo dục thì vấn đề rắc rối nhất khi tuyên truyền trong giới trí thức là vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Chính vì để giải quyết cái khó khăn đó cho nên tôi mới làm ra cái quyển “Giai cấp công nhân…”.


                Sự hình thành giai cấp công nhân và sự phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình. Với cuốn này, có thể xem như cuốn nghiên cứu khoa học bắt đầu. Những sách trước kia (Duy vật luận, Biện chứng pháp…) chỉ là kể lại cái mình đã học thôi, không có gì là nghiên cứu. Bộ “Lịch sử giai cấp công nhân” mới thực sự là nghiên cứu. Trước kia chỉ là những livres de poche [sách bỏ túi], thì bây giờ tôi lại sa vào cái nạn là viết dài, viết dài quá, không biết có ai đọc không. Sách to quá lại ba tập, cả ngàn mấy trang!


                Dù sao đi nữa, đó là thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám; kết quả nghiên cứu đi sâu như vậy giúp tôi làm một giáo sư về Lịch sử Việt Nam và Lịch sử hiện đại Việt Nam. Có lẽ bộ “Giai cấp công nhân” (sau này hình như in làm 4 quyển) đủ tiêu biểu cho sự cố gắng của tôi trong việc nghiên cứu khoa học.


                Sau này, trong lúc làm giáo sư ở đại học, tôi thấy rằng: để giảng dạy lịch sử cách mạng Việt Nam cho nó sâu sắc thì không thể nào không nghĩ đến lịch sử tư tưởng, không nghiên cứu lịch sử tư tưởng. Dạy đại học thì vấn đề rất lớn là phải đi sâu. Đi sâu dạy lịch sử cận đại, hiện đại cho nó chín chắn để cái formation của sinh viên chắc chắn thì phải đi vào lịch sử tư tưởng Việt Nam; nó cũng thiết thực khi tham khảo, giải quyết vấn đề lãnh đạo cách mạng Việt Nam.


                Ở các lớp huấn luyện, nhất là các lớp cho trí thức, thường người ta đặt câu hỏi: làm sao ở nước Việt Nam, giai cấp công nhân nhỏ hẹp như thế mà lại lãnh đạo được cách mạng Việt Nam, lại là điều kiện để cho cách mạng thành công. Vậy thì nghiên cứu không phải để nghiên cứu, mà là đứng trước yêu cầu phải giải đáp một vấn đề lớn của lịch sử, mà giải đáp sâu chừng nào tốt chừng nấy. Đó là lý do tôi  có quyển “Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam”. Nhưng có thể nói quyển sách tôi để nhiều công là quyển “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”.


                Vấn đề đặt ra là: tại làm sao ông cha ta tiền bối, những nhà chí sĩ cần vương anh hùng như thế mà đánh Pháp không thành công? Vì sao họ là những người có học thức, có uy tín lớn lao như là các cụ Phan mà lại làm không thành công? Những người có can đảm phi thường như là Nguyễn Thái Học, Ký Con… vì sao làm cách mạng không thành công, mà Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng thành công? Có phải là một sự may mắn không? Có phải là tình cờ không? Hay là do một điều kiện nào mà mình làm được trong lúc người ta làm không được? Có phải tự nhiên trong tình thế thuận lợi, trái cây nó chín rồi, anh cộng sản giở cái nón ra mà hứng nó một cách dễ dàng không?


                Phải giải quyết những vấn đề đó để cho người ta tin tưởng vào Đảng cộng sản, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mà nói sự lãnh đạo dó bằng một affirmation [khẳng định] chung chung thì rõ ràng là không đủ cho người ta tin tưởng. Phải có sự nghiên cứu. Vì thế mà tôi viết Lịch sử tư tưởng Việt Nam thành ra 3 vấn đề.


                Nếu đứng về một phương diện nào đó, viết một bộ “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” thì ít nhất phải từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX; viết vậy đương nhiên phải bỏ qua nhiều vấn đề lắm. Nhưng cái chính ở đây là chứng minh làm sao mà tư tưởng phong kiến không làm được, tư tưởng tư sản làm cũng không được, mà tư tưởng Marx-Lénine lại làm được. Cho nên mới sinh ra một quyển sách với 3 đoạn:


                - Ý thức hệ phong kiến và sự thất bại của nó.


                - Ý thức hệ tư sản và sự bất lực của nó.


                - Sự thắng lợi của chủ nghĩa Marx-Lénine, tư tưởng Hồ Chí Minh.


                Đó chẳng qua là démontrer [chứng minh] rằng: thực tế lịch sử - mà ai cũng biết - là lý do tại làm sao những người kia, những phe kia không làm cách mạng được, mà đảng cộng sản lại làm cách mạng thành công.


                Có thể xem cái bộ “Lịch sử tư tưởng…” này là một trong vài ba công trình nghiên cứu tốn công nhất và có nhiều hoài vọng nhất trong cái đời của tôi. Nói chung, các cuốn sách đó đều được viết ở trong thời kỳ trước 1975. Nhưng phụ thuộc cho vấn đề Lịch sử tư tưởng đó, tôi còn có một quyển sách, nó là kết tinh của sự suy nghĩ cá nhân, không biết sâu cạn thế nào, nhưng tôi cho rằng đó là kết tinh của sự suy nghĩ lâu dài trong cái đời chiến đấu của tôi.


                Cuốn sách nhỏ thôi, nhưng tôi xem là một trong những cuốn sách ruột của tôi; tên sách là “Những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”. Tôi chỉ tiếc rằng quyển sách đó tuy đã in hai lần, nhưng nó không được dư luận bàn tán lắm. Nếu mà được dư luận bàn tán thì có lẽ tôi sẽ có lợi hơn, tôi sẽ thích hơn, Nhưng tôi cho rằng suy nghĩ của tôi có lẽ đã tập trung lại nhiều nhất ở trong cuốn sách nhỏ này.


                Mình  entre parenthèse [mở ngoặc đơn] để nói với chú nghe chơi nhá: có lẽ đến tôi thì vấn đề “tư tưởng chủ yếu của người Việt Nam là gì” mới có giải đáp rõ ràng, dứt khoát. Tư tưởng chủ yếu của người Việt Nam là tư tưởng yêu nước. Dứt khoát là như vậy. Chú Quang có thể đọc bất cứ ở đâu xem đã từng có câu trả lời như thế trước cuộc hội nghị họp ở Thư viện Khoa học ở đường Tràng Tiền cuối năm 1959 hay đầu năm 1960 (tôi không nhớ nữa), coi xem trước hội nghị đó có khi nào người ta giải đáp cái câu hỏi “tư tưởng chủ yếu của người Việt Nam là gì ?” hay không? Và có phải khi mình giải đáp bằng tư tưởng chủ yếu, tư tưởng quán triệt cổ kim của dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước; có phải từ lúc giải đáp đó được đưa ra và sau này mọi người đều công nhận?


                Không phải là tư tưởng “nhân nghĩa” như nhiều người nghĩ. Lúc đó Viện Sử học cũng đề ra là tư tưởng “nhân nghĩa”. Nếu là tư tưởng “nhân nghĩa” là mình lọt vào tư tưởng của ông Tàu rồi! Nếu lọt vào mà hay thì cũng không hại gì. Nhưng mà nó có phải như thế không? Cho nên tôi nói rằng cuốn sách đó của tôi có thể có thiếu sót, nhưng đặt vấn đề và giải đáp vấn đề thì tôi đã để nhiều tâm hồn tôi trong đó, hơn tất cả những cuốn sách lớn nào của tôi.


*


Tôi chắc chú Quang sẽ không được vừa lòng lắm với câu hỏi mà Quang đặt ra cho tôi: tôi có đươc gặp Cụ Hồ không?, tôi biết đến cái tên “Nguyễn Ai Quốc” từ bao giờ? Chuyện dài dài…, chú muốn nghe thì tôi nhắc lại vậy.


Nhận xét chung của tôi cuối đời là trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, tôi không có duyên lắm với Đồng chí Nguyễn Ai Quốc (NAQ). Thực ra thì tôi biết đồng chí NAQ từ lâu rồi, như mọi người thôi. Tôi nhớ hồi đầu năm 1927, tôi đã đọc một bài trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” (BACĐTDP) rồi, nhưng NAQ thì tôi không được biết, và tôi cũng không hiểu NAQ nói cái gì, thâm ý của NAQ là gì, công việc giữa NAQ và Nguyễn An Ninh (NAN) là thế nào, NAQ khác với Phan Bội Châu như thế nào, nghĩa là bấy giờ tôi chưa biết được. Tôi chỉ biết đó là những người yêu nước mà thôi.


Nhà bên vợ tôi có được cái hân hạnh tiếp đãi cụ Nguyễn Sinh Sắc từ năm 1926-1927 , khi cụ rời Sài Gòn đi lục tỉnh kiếm sống trong cái nghề làm thuốc, nhưng tôi vẫn không biết ông NAQ là ai, chỉ biết là một người yêu nước chống Tây thôi. Mãi đến khi tôi đi qua Pháp năm 1928, tôi mới đọc hết quyển sách BACĐTDP.


Ngược đời là: vì tôi cảm tình với đảng cộng sản Pháp nên tôi mới tìm hiểu và hiểu được BACĐTDP. Theo cái lý, thì mình là người Việt Nam thì mình phải hiểu BACĐTDP và NAQ, mình mới đi tới chủ nghĩa Marx-Lénine, mới đi tới đảng cộng sản Pháp. Nhưng trái lại, tôi thì đi vào đảng cộng sản Pháp, đọc sách báo cộng sản, và do nơi đó mà tôi đọc BACĐTDP và hiểu được sách này… Có lẽ đây là điều không có lợi cho tôi lắm, là vì lúc bấy giờ bên Pháp đảng cộng sản theo đường lối Quốc tế cộng sản (QTCS), một đường lối cứng rắn, không chỉ cứng rắn đối với đế quốc mà cứng rắn ngay cả với những lực lượng có thể đồng minh với đảng cộng sản, như đảng xã hội chẳng hạn. Vì vậy, bấy giờ những người cộng sản Việt Nam chưa hiểu NAQ lắm.


NAQ là đường lối liên hiệp các lực lượng dân tộc đặng mà chống đế quốc chủ nghĩa, nhưng mà ở Việt Nam thì theo đường lối của QTCS, chỉ liên hiệp có điều kiện với quốc gia cách mạng mà thôi. Cho nên bấy giờ chúng tôi ở Pháp vừa ủng hộ Yên Bái, vừa chống lại chủ nghĩa quốc gia của những người khởi nghĩa Yên Bái, chúng tôi gọi là quốc gia hẹp hòi; nghĩa là không đúng tinh thần của quyển BACĐTDP.


Khi học ở Moscou, tôi vẫn theo đường lối của QTCS, lúc bấy giờ là đường lối cứng rắn tả, cho nên tôi cũng như các đồng chí khác, đều là không hiểu NAQ, kể cả những người phụ trách Đông phương của QTCS lúc bấy giờ. Cho nên khi ở Moscou, khi nghe được ý kiến của NAQ về việc thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam, thì tất cả chúng tôi, kể cả những người phụ trách Đông phương của QTCS, cho đó là một đường lối quốc gia, xu hướng hữu tiểu tư sản, không hiểu được ý nghĩa của vấn đề dân tộc, tất cả chứ không phải một ai.


Lúc bấy giờ có những nhà lý luận cao ở Moscou như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và tất cả, có tôi nữa, đều không hiểu, cho nên không phải riêng Hà Huy Tập sai  trong việc phê bình NAQ. Hà Huy Tập phê bình là theo đường lối của QTCS và cũng là đồng ý với nhau, nghĩa là không phải chỉ là lỗi của Hà Huy Tập. Lỗi của Hà Huy Tập, lỗi của QTCS, lỗi của tất cả, không riêng một ai. Cho nên bây giờ tôi rất ngượng khi nghe người ta phê bình Hà Huy Tập. Phê bình Hà Huy Tập lúc ấy cũng là phê bình tôi thôi.


Có thể phải nói rằng: nhờ Đại hội lần thứ 5 của QTCS (lần VII) với sự xuất hiện của DIMITROV – trải qua sự thất bại ở xứ này xứ nọ, nhất là nước Đức, trong cuộc chống phát xít – mà trong trào lưu chống phát xít có sự liên hiệp với các đảng dân chủ... Lúc ấy, người ta mới hiểu rằng những người cộng sản đúng với chủ nghĩa Marx nhất là những người cộng sản biết sử dụng truyền thống dân tộc của mỗi dân tộc để chống lại bọn phản động. Đó mới là cái chống hay nhất. Nếu cộng sản mà làm ra vẻ cách mạng triệt để nhất, không nghĩ rằng mình là tiếp tục truyền thống của ông cha, của dân tộc, thì những người cộng sản đó bị cắt đứt với quảng đại quần chúng.


Nhưng theo tôi, thì cái chuyển hướng ấy đã có từ hồi NAQ xuất hiện trên trường quốc tế năm 1922-1923, khi NAQ ở Pháp và khi NAQ viết ở trong tạp chí INPRÉCOR (Correspondance Internationale) rồi.


Tôi nhận được cái tư tưởng đó của NAQ không phải bằng cách trực tiếp với NAQ, bởi vì năm 1933 khi ở tù HồngKông ra rồi đi sang Liên Xô, NAQ ở đó lâu năm, thì tôi đã về Việt Nam và ở tù Khám Lớn và Côn Lôn rồi; nghĩa là không có duyên được gặp NAQ. Cho nên phải nói rằng tôi chịu ảnh hưởng ở NAQ thì kể ra cũng ít chứ không nhiều, vì không được trực tiếp với Ông Cụ, chỉ nghe người ta nói lại thôi..


Khi Ông Cụ đi về Trung Hoa cuối thời Mặt trận bình dân của ta, thì khi ấy tôi đang ở trong Khám Lớn, tôi có được đọc một bài báo nói về đường lối của một đồng chí gọi là LINE ở bên Trung Quốc phê bình  ĐCSĐD làm “mặt trận dân chủ” là có xu hướng “hữu”, mà phải làm “Mặt trận dân tộc dân chủ” mới được.


Tôi ở trong Khám Lớn, vốn là một người khuynh tả, nên tôi rất tán thành ý kiến của LINE (sau này mới biết LINE là NAQ). Tôi không phản đối Mặt trận bình dân, nhưng tôi không tán thành “mặt trận dân chủ” mà tán thành “Mặt trận dân tộc dân chủ” như LINE chủ trương,


Mãi cho đến năm 1945, tôi vẫn chưa biết gì về NAQ cả. Thậm chí chủ trương lớn: lập Mặt trận Việt Minh, đánh Pháp đuổi Nhật, thì trong này chúng tôi cũng chưa biết, cũng chưa biết NAQ đã về nước rồi.


Tháng 7-1945, chúng tôi phái một người đi ra bắt liên lạc ngoài Bắc, đem chương trình Việt Minh về; chừng đó tôi mới biết Việt Minh. Và mãi sau khi anh đó đi về, được giấy mời Hội nghị Tân Trào, thì các anh Ung Văn Khiêm và Hà Huy Giáp đại diện chúng tôi trong này đi ra Bắc. Chiều mồng 2 tháng 9-1945, anh Ung Văn Khiêm ở ngoài Bắc về gặp tôi, tôi hỏi: Thế nào? Hồ Chí Minh là ai, mày? Phải NAQ không? Khiêm cười, nói: “Ổng!”. Tôi mới mừng là NAQ còn sống và đang lãnh đạo cách mạng; chứ trước kia tôi nghĩ chắc ông cụ không còn nữa hoặc đang ở đâu đó không biết, chưa về Việt Nam…


Năm 1948, tôi đang hoạt động ở Cao Miên thì được Trung ương gọi về (sau khi chính phủ tả ở Bangkok bị đảo chính và chính phủ thân Mỹ lên cầm quyền). Tôi được chỉ định làm tổng giám đốc Nha Thông tin (thuộc Bộ Nội vụ do Phan Kế Toại làm giám đốc). Thời gian này là dịp tôi được gần Cụ Hồ nhất; vì trong các phiên họp của Hội đồng, nhiều khi tôi được dự nghe để làm thông tin. Các sự kiện xẩy ra trong nước và thế giới, tôi phải hỏi Cụ. Hỏi không phải ở Chủ tịch phủ, mà ngay ở cái chòi Ông Cụ ở. Hồi này cũng có nhiều người Nam Bộ ở gần Cụ Hồ (Diệp Minh Châu, Phạm Ngọc Thạch…); tôi thì ở xa hơn…


Tóm lại, thời làm tổng giám đốc Nha Thông tin là thời tôi được gần nhất với Hồ Chủ tịch; Ông Cụ chỉ thị những tin tức cần phát ra, thái độ đối với trong nước, thế giới… Ông Hồ ở bên kia núi, tôi ở bên này, qua lại không khó khăn lắm nhưng không thường gặp, vì vấn đề giữ bí mật.


Đầu năm 1951 (sau Đại hội Đảng), theo nguyện vọng của tôi, tôi được chuyển sang  ngành giáo dục. Cho đến khi về Hà Nội (1954), mình cũng không có nhiều dịp được gặp Cụ; gặp trong những réceptions thì có.


Cuối cùng, tôi muốn nói hai chuyện; một chuyện có tính chất gia đình, một chuyện có tính chất công việc:


Có một bữa, sau Genève, hai vợ chồng tôi được mời đi câu lạc bộ Ba Đình. Ông Cụ gặp, tôi giới thiệu vợ tôi. Ông hỏi rất tự nhiên: “Cháu đâu?”. Bà nhà tôi trả lời: “Con nó chết rồi ạ”. Ông Cụ lấy làm tiếc. Nhân câu chuyện, tôi nói: Cụ Nguyễn Sinh Sắc rời Sài Gòn đi lục tỉnh, nhà đầu tiên ông cụ ghé là nhà ông già bà này. Gia đình được hân hạnh nấu cơm cho Cụ Sắc và đưa Cụ xuống sâu hơn nữa về miền Tây. Cụ Hồ nói: “Khi nào hòa bình lập lại, tôi sẽ vào Nam thăm đồng bào, và sẽ lần theo bước chân Ông Sắc để cám ơn đồng bào và gia đình đã có công bảo vệ ông cụ Sắc”. Hồi này “bà Giàu” mới 15, 16 tuổi.


Tôi không có điều kiện được gần Ông Cụ cho lắm, chỉ trong công tác vậy thôi. Nhưng mà chắc Ông Hồ cũng biết việc tôi làm, đời của tôi, sự lên xuống của con người tôi và cả bản chất của tôi nữa. Cho nên một hôm Vũ Kỳ nói với tôi: “Ông Cụ đau rồi, rất yếu rồi; và có hỏi Vũ Kỳ: “Chú Giàu bây giờ làm gì?”. Vũ Kỳ nói: “Bây giờ anh ấy làm giáo sư ở đại học”.


Ít lâu sau Cụ mất, thì có một lần tôi được lệnh của Ban tổ chức Lễ tang lên đứng hầu bên giường Cụ (quan tài Cụ đang để ở nhà họp Quốc hội); một số anh em được thay phiên nhau.


Từ đó về sau, tôi chú trọng nghiên cứu Hồ Chủ tịch; vì khi bên Pháp rồi về Việt Nam, rồi qua Miên, không có dịp nào, cũng khó có tài liệu nghiên cứu về Ông Hồ. Từ 1949-1950 tôi mới có dịp và cho đến nay tôi vẫn tiếp tục. Tài liệu bây giờ dễ hơn. Nghe nói “Hồ Chí Minh toàn tập” 16-20 quyển, sẽ có nhiều tài liệu hơn. Tôi nghĩ: nghiên cứu về Hồ Chí Minh không phải chỉ nghiên cứu những gì Ông Hồ viết, mà anh em gần gũi nghe nhiều lần nhập tâm, rồi việc làm của Ông Cụ, cách ứng phó của Cụ trước thời cuộc… Đó cũng là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh khác với tư tưởng khác, phải tìm không chỉ trong sách vở, mà cả trong lời nói, hành động, ứng xử – cả trong sự nói mà không nói, viết mà không viết – thì mới nắm được tư tưởng toàn diện của Cụ. Như vậy là khó khăn lắm.


Từ khi tôi hưu trí về trong Sài Gòn này, tôi làm những việc như là “Địa chí Thành phố Hồ Chí Minh”, có đến cuốn thứ tư; và tôi bắt đầu nghiên cứu về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tôi rất hoan nghênh chủ trương của Viện Mác-Lê là không chỉ kêu gọi trong TP.Hồ Chí Minh hợp tác, mà là đặt cho TP.Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu toàn bộ Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với ngoài Bắc, để tìm ra kết quả tốt đẹp nhất.


                Về phần tôi, có lẽ gần một năm nay rồi, tôi đã viết cái phần của tôi, chưa in, chắc còn chờ những phần khác. Riêng phần của tôi, trước khi tôi bệnh, tôi có ý định viết quyển sách về “Đạo đức học, Đạo đức Hồ Chí Minh, Đạo đức Việt Nam”. Tôi muốn viết quyển sách đó lắm, nhưng mà không biết bây giờ, với cái sức khỏe của tôi, có làm nổi hay không. Nhưng cũng cứ vẫn đặt ra, để các anh em khác nghiên cứu, bởi vì vấn đề thực ra là rất lớn.


                Bây giờ chúng ta giống như là một chiếc thuyền giữa biển khơi có sóng gió lớn, tất cả các ngôi sao ở trên trời đều bị mờ, thì chỉ còn ngôi sao Hồ Chí Minh, cái địa bàn (la bàn) Hồ Chí Minh vững chắc cho chúng ta thôi. Nếu mà mình không nghiên cứu cái tư tưởng, cái đạo đức Hồ Chí Minh cho sâu sắc và ứng dụng nó cho sắc sảo, cho trung thành thì khó đạt đến thắng lợi lắm, nhất là trong thực tế hiện nay. Cho nên ta đã đi từ Hồ Chí Minh thì ta phải tiếp tục trở lại và đi sâu hơn nữa vào tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, không có cái nào khác. Ta về ta tắm ao ta thôi.. Nhưng mà câu sau “Dầu trong dầu đục…” thì không đúng; ngẫm lại thì thấy “ao nhà” vẫn là nước trong hơn hết.


                Tôi nghĩ rằng Cách mạng tháng Mười, sự nghiệp của Lénine rất lớn, nhưng rút cục lại thì như vậy, muốn gây dựng lại không phải là chuyện dễ dàng. Nói rằng Cách mạng tháng Mười đóng góp cho cách mạng thế giới lớn lao thì đúng rồi; nhưng sau Cách mạng tháng Mười có một cuộc cách mạng cũng đóng góp lớn lao hết sức cho nhân loại; trong thế kỷ XX này, nói thì như là tự phụ, nhưng mà sự thật thì chỉ có Cách mạng Việt Nam. Cách mạng tháng Mười mở ra cho cách mạng thế giới, nhưng mà Cách mạng Việt Nam mở ra cho sự giải phóng các dân tộc trên thế giới. Đây là một việc rất lớn, lớn hết sức.


Mà nói đến Cách mạng Việt Nam là nói đến chiến lược, chiến thuật, nói đến tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên nếu mà mình bỏ thì giờ ra mà nghiên cứu chuyện này thì rất là qúy. Tôi cũng mong rằng năm nay khỏi bệnh, cho tôi trở lại bình thường để tiếp tục nghiên cứu, làm một quyển sách chừng vài ba trăm trang thôi, cũng là làm cuốn sách cuối đời để mà cống hiến cho đồng bào; tôi sẽ chấm dứt hoạt động nghiên cứu bằng kỳ vọng thiết thực này, để rồi anh em chúng mình đóng góp vào, để có một cái gì cho hiện tại và tương lai của dân tộc. Dầu thế nào đi nữa tôi vẫn ráng sức làm, tuy rằng làm rất khó khăn, không biết có đủ thì giờ không?


*


Tóm tắt lại, tôi muốn nói với Quang là: tôi mà trở thành ông giáo sư, thành thầy của các chú, người thầy mà các chú không chê lắm, đó là nhờ tôi hoạt động cách mạng, làm một người cách mạng chuyên môn, chuyên nghiệp. Sở dĩ trong cách mạng chuyên nghiệp, tuy sự nghiệp tôi không lớn lao gì, nhưng tôi làm được một số chuyện đáng kể, đó cũng là nhờ nghiên cứu khoa học, cũng nhờ cố gắng giúp đỡ anh em ở trong tù, ở ngoài tù, học tập khoa học nói chung và học tập chủ nghĩa Marx-Lénine, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng.


Tóm lại, cuộc đời của tôi là cuộc đời chính trị, cuộc đời khoa học. Hai cái đó cuộn vào nhau, cái này làm cơ sở cho cái kia, như là hai đầu một cái lò xo vậy. Những chuyện “lẻ tẻ”, nếu chú muốn nghe, thì còn dài dài. Sách Tàu đâu đó có câu “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Chú ghi lại cho con cháu chú đọc cũng phải cho “tinh”; đó là công chuyện của chú.


Nguồn: Giáo sư Trần Văn Giàu – Nghe Thầy kể chuyện. Tác giả : GS Sử học Nguyễn Phan Quang. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2011. Chân thành cảm ơn GS Nguyễn Phan Quang đã gửi www.trieuxuan.info


____


(1) Những chữ Pháp là do GS.Trần Văn Giàu nói thêm trong khi kể chuyện.





 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »