tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
07.01.2013
Nguyễn Phan Quang
Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ Văn (2)


IV. KỲ ĐỒNG – THỦ LĨNH THỰC SỰ CỦA PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP


KỲ ĐỒNG VỀ NƯỚC


Kỳ Đồng vừa về đến Bắc Kỳ (đầu tháng 11-1896), thực dân Pháp liền bàn tính việc bổ dụng Kỳ Đồng. Có ý kiến muốn giao Kỳ Đồng cho Nam triều bổ dụng nhưng bị bác bỏ ngay. Bản Mật báo của Phòng Nhì nhắc lại việc này như sau: “Giá như cứ giữ Kỳ Đồng ở bên Pháp, gửi anh ta về Paris làm chân trợ giáo dạy tiếng An Nam thì lại tốt hơn. Nhưng bây giờ anh đã trở về Bắc Kỳ, thì cũng vẫn nên xem xét có thể sử dụng anh ta ở đây như thế nào. Ngài Brière (Công sứ Nam Định) yêu cầu chuyển Kỳ Đồng đến chỗ ngài. Có thể ngài Công sứ chưa hiểu đươc sự đổi thay ở con người Kỳ Đồng, hoặc cũng có thể ngài đã có cách xử trí như thế nào đó mà tôi không rõ. Nhưng để cho Kỳ Đồng có mặt ở Huế thì rất đáng ngại, sẽ gây cho chúng ta không ít phiền phức. Thái độ và tật nghiện rượu của anh sẽ có tác dụng xấu đối với quan lại, gợi cho họ những ý nghĩ không hay ho gì về cách giáo dục của chúng ta đối với Kỳ Đồng”.


Theo tư liệu của Nguyễn Thế Anh (BEFEO, T.LXV, Paris 1978 - Bài viết đã dẫn), “đã có lúc các quan chức cao cấp của chính quyền thực dân Pháp dự tính cho Kỳ Đồng vào Huế bên cạnh vua Thành Thái, nhưng triều đình Huế lấy cớ Kỳ Đồng xuất thân gia đình nghèo hèn, đã khước từ ngay lập tức dự định này”.


            Nhiều ý kiến khác muốn cho Kỳ Đồng làm viên chức thuộc ngạch Pháp, như thư ký văn phòng, thông ngôn hoặc tham gia phụ trách một trường học: “Chính phủ Pháp đã nuôi Kỳ Đồng ăn học, có quyền đòi hỏi anh ta đem kiến thức của mình phụng sự Chính phủ. Có thể sử dụng anh trong một bàn giấy hoặc trong ngành giáo dục. Không nên cho anh ta phụ trách một trường học, vì như vậy là không thận trọng (…). Rất có thể Kỳ Đồng sẽ tu tỉnh lại, bỏ được thói quen lười biếng và tìm thấy ham thích trong công việc”. (Mật báo của Phòng Nhì).


Thực dân Pháp đề xuất tất cả dự định trên với Kỳ Đồng, nhưng Kỳ Đồng đã khéo từ chối, lấy cớ những công việc đó không xứng đáng với mình.


Trong thư gửi Phó Toàn quyền (đã dẫn), Kỳ Đồng viết: “Nếu như tôi không nhận làm thư ký hay thông ngôn thì cũng chẳng phải tôi kiêu kỳ hay tự phụ, chẳng qua là nếu tôi nhận những công việc đó, tôi sẽ không được dân chúng An Nam yêu mến nữa và cũng sẽ trở thành con người tầm thường trước mắt người Pháp. Vậy thì, để cho các quan An Nam khỏi lo ngại, tôi mong Ngài xin quan Toàn quyền sắp đặt cho tôi một công việc nào đó, cốt sao đừng làm tổn hại thanh danh của một người đã từng đươc đức Hoàng đế quá cố [ý nói vua Tự Đức] ban thưởng”


Vẫn bức thư trên, “Chính phủ cần làm việc gì, tôi sẽ làm việc đó. Chính phủ muốn có ngươi để di dân và khai khẩn những vùng đất hoang chăng? Chỉ cần Chính phủ cấp cho tôi dăm chục lính khố đỏ với những trang bị cần thiết cho một cuộc hành quân, và thế là người ta sẽ không còn nghe bàn tán về nạn giặc cướp trên đất Bắc Kỳ này nữa! Xin Ngài hãy tin ở tôi. Lời nói của tôi không vượt quá khả năng tôi đâu, thưa Ngài! Tham vọng của tôi là làm điều tốt lành cho dân chúng An Nam và phụng sự người Pháp, để khi trông thấy tôi thì cả hai dân tộc cùng nói: Tin yêu chàng trai này, chúng ta không mất mát gì cả; đây là một chàng trai chân thực, không biết vô ơn, anh ta sinh ra trên đời không phải là hoàn toàn vô ích”.


Ý định “đi lập đồn điền khai hoang” được Kỳ Đồng nhắc lại cụ thể hơn trong bức thư gửi toàn quyền DOUMER: “Tôi chỉ muốn trở thành người có ích cho nước Pháp và cho đất nước tôi. Tôi sẽ làm được điều đó nếu tôi được phép đưa vài ngàn người lên những vùng ngoại vi đồng bằng, như điều tôi đã thỉnh cầu Ngài. Khi đó, tôi sẽ là người đầu tiên thực hiện một kế hoạch – cũng là kế hoạch của Chính phủ – nghĩa là phân tán bớt khối cư dân đông đúc ở vùng đồng bằng, nhằm:


1/ Tăng dân ở thượng du, bình định và sinh lợi vùng này.


2/ Không làm giảm sút mức sản xuất, chỉ giảm dân số đồng bằng, từ đó tăng trữ lượng hàng xuất khẩu.


            Đây là cách chắc chắn nhất làm cho xứ Bắc Kỳ thịnh vượng” (Kho lưu trữ Aix… - Ký hiệu đã dẫn).


Chúng ta còn nhớ: từ tháng 9-1888, chính quyền thực dân Pháp ban hành một nghị định cho phép thực dân đi mở đồn điền ở trung du và miền núi với những điều kiện khá dễ dãi. Chỉ cần trong vòng 5 năm việc khai phá phải bảo đảm thu hoạch chắc chắn; chính quyền thu thuế bắt đầu từ năm thứ ba. Năm 1896, việc mở đồn điền được bổ sung thêm: trong vòng 2 tháng, nếu không có đơn kháng cáo về quyền sở hữu cũ thì người xin mở đồn điền được phép triển khai công việc của mình. Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ký ngày 17-8-1896 bổ sung mấy điểm chính như sau:


+ Điền chủ nộp đơn lên phủ Toàn quyền xin tuyển mộ nhân công. Công sứ chủ tỉnh có trách nhiệm lập sổ tuyển mộ nhân công cho điền chủ.


+ Phu đồn điền phải nộp đơn cho Công sứ, ghi rõ họ, tên, tuổi, là dân nội tịch hay ngoại tịch


+ Nhân công đồn điền có thể lập thành một hay nhiều làng, có lý trưởng đứng đầu. Nguyên tắc lập làng dựa theo luật pháp Nam triều. Chủ đồn điền có trách nhiệm thu thuế của nhân công, nộp cho Công sứ.


+ Chủ đồn điền trực thuộc nhà cầm quyền Pháp, không được tự tiện trực tiếp liên hệ với chính quyền bản xứ (ý nói: Nam triều).


+ Các đồn điền nằm trong khu vực quân sự thì viên sĩ quan chỉ huy tiểu quân khu có chức năng như Công sứ ở các tỉnh dân sự.


Chắc hẳn Kỳ Đồng đã nắm được tình hình này, nhất là các điều khoản liên quan đến việc mộ nhân công lập đồn điền, nên trong bức thư gửi Toàn quyền Doumer, Kỳ Đồng viết tiếp: “Tôi đã chọn vùng Yên Thế làm mục tiêu cho hoạt động này của tôi, vì tôi rất quen biết bác sĩ Gillard. Bác sĩ vừa tới Hà Nội và tôi được biết ông ta có làm đơn xin lập một đồn điền quan trọng ở Yên Thế. Tôi sẽ hợp tác với bác sĩ để khai thác vùng đất này (…). Tôi tin tưởng rằng Ngài sẽ chấp thuận lời thỉnh cầu của tôi và không thèm đếm xỉa những lời dị nghị cho rằng hoạt động này sẽ là điểm khởi đầu cho những vụ rối loạn trong nước. Tôi tin chắc Ngài sẽ biết sử dụng một thiện chí”.


Thực dân Pháp đã chấp thuận việc Kỳ Đồng hợp tác với bác sĩ Gillard mộ dân lên khẩn điền ở Yên Thế. Còn cơ quan mật thám thì đã được lệnh theo dõi mọi hoạt động của Kỳ Đồng ngay khi ông vừa đặt chân trở lại Bắc Kỳ.


Khoảng cuối tháng 11-1896, Kỳ Đồng được gọi lên Hà Nội trình diện, gặp Toàn quyền Doumer. Sau nửa tháng ở Hà Nội, Kỳ Đồng tự ý trở về Thái Bình không xin phép nhà đương cục, và Công sứ Thái Bình đã gọi Kỳ Đồng lên chất vấn.


Mật báo của Phòng Nhì cung cấp nhiều chi tiết về thời gian Kỳ Đồng ở Hà Nội: “Cẩm lên Hà Nội ngày 26-11-1896. Anh trình diện ngài Giám đốc Nha dân sự và ngài Kinh lược. Các vị này có ấn tượng rất xấu về anh. Ở Hà Nội khoảng 15 ngày, do tính thất thường, anh lại trở về Thái Bình mà không xin phép ai cả. Ngài Luce [có lẽ là một quan chức của Phòng Nhì] được tin báo, liền điện cho ngài Công sứ: “Yêu cầu cho tìm Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng, hỏi tại sao rời Hà Nội không xin phép?”.


Điện của Toà sứ Thái Bình phúc đáp: “Đã cho đòi đương sự. Anh ta trả lời đại khái rằng không có thói quen chờ lệnh công sứ hay toàn quyền; vả lại chuyến đi Hà Nội bị bệnh, lại phải kịp về quê làm giỗ cha; dù thế nào thì anh cũng phải ở lại quê nhà cho đến Tết”. Lại theo một điện tín nhận ngày 23-12-1896: “Kỳ Đồng đã về đến Thái Bình ngày hôm qua, tôi khiển trách anh về những bức thư xấc láo anh gửi tôi và cảnh cáo anh không được tái phạm. Anh xin ở lại nhà cho đến Tết. Anh khai: phải vội rời Hà Nội vì hết tiền tiêu và mẹ bị bệnh”. Hà Nội lại điện cho Thái Bình: “Nhân danh ngài Phó Toàn quyền, cho phép anh ta ở nhà cho đến khi có lệnh mới”.


Ở một đoạn khác của Mật báo: “Cẩm đến gặp ngài Kinh lược trong lúc say bí tỉ. Anh ta không chỉ thiếu lịch sự mà còn tỏ ra đần độn, quên hết mọi lễ nghi sơ đẳng. Anh nói với ngài Kinh lược: “Người ta muốn giao cho tôi công việc gì thì phải giao ngay lập tức”. Anh trú tại một căn nhà gần Nhà thờ và tiếp khách liên miên. Khách khứa đều là người bản xứ, người thì mang tặng tiền bạc, người tặng quà, trà uống… Anh nói với một vài người rằng: nhà chức trách cấp cho anh mỗi tháng 50 đồng để làm việc hoặc chẳng làm việc gì hết (…). Theo một thư lại ở Sở Thanh tra thì Nguyễn Văn Cẩm đã quên hết chữ Nho (!). Tuy được tiếp thu học vấn Tây phương, cách nói năng của anh cũng tầm thường… Ở Hà Nội, ngay cả bọn đàn bà cũng biết Kỳ Đồng đã trở về nước. Chỉ có lũ vô học mới coi anh ta là một kẻ siêu phàm”.


Vừa về lại Thái Bình, Kỳ Đồng mở trường dạy chữ Nho và tiếng Pháp, nhưng ngay sau đó Công sứ Thái Bình ra lệnh đóng cửa.


Thời gian này, Kỳ Đồng soạn một tài liệu chữ Nôm theo thể văn vần, vừa để học trò làm quen với một số từ ngữ Pháp thông dụng, vừa kín đáo khơi gợi tinh thần yêu nước chống Pháp. Rất tiếc, chúng tôi không tìm thấy bản gốc trong Kho lưu trữ ở Aix. Chỉ còn lại bản dịch ra tiếng Pháp của mật thám. Tài liệu được soạn dưới dạng “vấn đáp” nhẹ nhàng, đại để:


- Ông có thể cho tôi biết ngôn ngữ và văn minh nước Pháp được không?


- Một bên thì có quan tư “commandant”, quan ba “capitaine”, quan hai “lieutenant”, một bên thì có công sứ “résident”, tham tá “commis”, ông cẩm “commissaire”, thanh tra “inspecteur”, các đội lính ‘gardes-principaux” (…). Về vũ khí thì bay-don-nét “baionnette) và cát-tút (cartouche) là hai thứ quan trọng trong khẩu súng.


- Ông có thể kể thêm cho chúng tôi nghe được không?


- Sơ-mi-nê (cheminée), ma-sin (machine), xi-ren (sirène là những bộ phận của con tàu (…).


- Ông giới thiệu những từ thông dụng xem sao?


- Ăn thì tiếng Tây là măng-giê (manger), nằm là cu-sê (coucher)… Có câu ca rằng:


“Chớ tham đồng bạc con cò


Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa”.


Như vậy thì đâu phải thanh niên nam nữ thiện cảm với Tây!(…)”.


Ở một đoạn khác, tài liệu nhắc lại câu chuyện “rước cờ” vào Nam Định của “cậu bé kỳ lạ” năm xưa:


“Trải mấy ngàn năm nay, giờ đây lại xuất hiện một “tí nhau” thông hiểu thiên văn địa lý, có phép lạ làm cho người Pháp không nhìn thấy mình, “a-lê một lần, “luc-xì” không được (aller une fois, ne pas pouvoir look see).


“Vậy thì vì sao trong vụ rước cờ Nam Định, cậu ta lại bị người Pháp bắt giữ?


Có thể là ông Trời không bằng lòng cậu ta, nghĩa là “no-pa-công-tăng” (ne pas content). Giá như ông Trời cho sống lại Thần Tản Viên hay Thánh Gióng, hay Không Lộ, hay Bà Liễu Hạnh, biết đâu họ lại chẳng “búa-xuy” (poursuivre) người Pháp ra khỏi đất này hàng vạn dặm!” (Bản dịch ghi ngày 15-10-1897 – Kho lưu trữ Aix… - GG-6201).


Một sự việc đáng chú ý là: Kỳ Đồng tổ chức ngày giỗ cha rất trọng thể. Nhân dịp này, thân hào sĩ phu ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định đã kéo về làng Ngọc Đình. Thực ra, ngày giỗ cha chỉ là một cớ hợp pháp để Kỳ Đồng gặp gỡ những nhà yêu nước trong vùng.


Kỳ Đồng dành nhiều thời gian đi thăm hỏi bạn bè và danh sĩ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng. Mỗi lần trở về Ngọc Đình, dân chúng lại kéo đến thăm hỏi chật nhà. Đương nhiên mọi việc không thể lọt qua mắt mật thám, và mọi tin tức đã được Phó Toàn quyền tổng hợp lại, báo cáo về Bộ Thuộc địa.


Báo cáo viết: “Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng trở lại Thái Bình (1-1897) đã làm giỗ cha, giết 7 con bò (hay trâu). Dịp này, những người có uy tín ở Thái Bình, Nam Định đều đến dự, mang theo đủ thứ lễ vật… Tháng 2, anh ta mở trường dạy chữ Nho và chữ Pháp nhưng đã phải đóng cửa theo lệnh của Tòa sứ và Tòa sứ đã gọi anh lên. Sau mấy ngày ở tỉnh lỵ Thái Bình, anh trở về quê (Ngọc Đình), rồi lại tiếp tục đi khắp các làng xã trong tỉnh Nam Định, có 3 đầy tớ mang tráp, điếu đi theo. Người ta mang đến cho anh vô số quà biếu. Chưa có gì đáng nghi ngờ về hành động và cử chỉ của anh, tuy cũng khá kỳ quặc. Tôi nghĩ rằng ngài Công sứ Thái Bình đã cho theo dõi anh” (Kho lưu trữ Aix… - F.7 – 34515).


Trong bức thư gửi Toàn quyền Đông Dương (31-3-1897), Kỳ Đồng phàn nàn: “Từ ngày về quê, tôi vẫn được đồng bào đến thăm hỏi nhiều lần, đến nỗi Chính phủ phải cho người theo dõi tôi, coi tôi như một kẻ nguy hiểm, thậm chí ngăn cản không cho tôi đi mua sắm, không cho tôi lưu trú ở Nam Định… Người ta dò thám tôi, trong khi tôi lại là người An Nam “Pháp” nhất(!)”.


Các cụ già địa phương kể rằng: nhân dân làng Ngọc Quế, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình) đã chọn một cô gái 18 tuổi nết na xinh đẹp nhất làng tên là cô Trai để gả cho Kỳ Đồng làm vợ. Lễ cưới cô Trai về làng Ngọc Đình được tổ chức như một đám rước thần. Mật báo của Phòng Nhì cũng ghi: “Cẩm cưới vợ vào dịp Tết. Cô vợ ở làng Ngọc Huê (?), gần làng Ngọc Đình của Cẩm, xuất thân một gia đình khá giả. Mọi chi phí cho lễ cưới đều do bạn bè Cẩm cáng đáng”. Chi tiết này cũng được nhắc đến trong bức thư Phó Toàn quyền gửi một người bạn: “Tháng 1-1897 Kỳ Đồng cưới vợ, quê ở làng Ngọc Quan (?) gần làng anh”.


Ngày 5-5-1897, Công sứ Thái Bình báo lên phủ Toàn quyền: “Ngài Công sứ Hải Dương vừa tin cho tôi biết Kỳ Đồng đi chơi trong huyện Vĩnh Bảo với dăm chục người đi theo. Tôi đã nhắc anh ta từ nay phải chấm dứt những cuộc đi lại như vậy và không được sang các tỉnh lân cận nếu không được tôi cho phép”.


Đáp lại lời cảnh cáo trên, trong bức thư gửi Công sứ Thái Bình, Kỳ Đồng viết: “Tôi vừa nhận được lệnhcủa Ngài cho biết rằng mỗi khi tôi muốn đi đâu dều phải lên tỉnh xin phép, rằng trong dịp sang Hải Dương tôi đã đem theo khoảng 50, 60 người, và như vậy là trái với luật lệ của chính phủ. Tôi xin Ngài thứ lỗi cho chuyện đã qua, nhưng tôi không thể im lặng trước lệnh đó…, nó chứng tỏ người ta có phần nào e ngại về con người tôi. Tôi đã ăn học ở Pháp trong 10 năm và suốt thời gian ấy tôi từng nhiều lần đi từ thành phố này sang thành phố khác mà chẳng cần đến quấy rầy quan tỉnh để xin phép. Chỉ có khi nào đi ra nước ngoài – người ta nói với tôi như vậy – thì mới cần có giấy quá cảnh mà thôi. Nếu như luật pháp ở Bắc Kỳ không đươc soạn thảo giống như luật ở nước Pháp thì mong Ngài rộng lòng bỏ qua cho sự dốt nát của tôi, vì tôi đã rời quê hương từ tấm bé. Còn nói rằng tôi có đem theo một số người quá đông, thì đó là người ta trình lên Ngài một cách quá đáng. Lẽ ra người ta phải trình với Ngài rằng đó là số bạn hữu đi theo tôi, và số này chỉ khoảng mươi lăm người thôi, nếu cộng cả số đầy tớ của tôi thì cũng chỉ đến hai chục. Lạy Chúa! Hồi con ở Pháp đã nhiều lần tôi du ngoạn với bạn hữu cùng trường còn đông hơn nhiều mà chẳng ai nói gì cả. Tuy nhiên, tôi vẫn xin Ngài thứ lỗi về việc này vì xứ An Nam không phải là nước Pháp. Than ôi, tôi luyến tiếc nước Pháp biết bao, một đất nước hiền hòa, tự do và hiếu khách!”.


Vẫn bức thư trên, Kỳ Đồng giải thích tại sao đám đông cứ đi theo mình hoặc kéo đến nhà thăm hỏi suốt ngày:


“Thưa Ngài Công sứ, tôi biết là một số quan lại rất lo ngại khi thấy tôi đi đến đâu người ta cứ theo tôi hàng đoàn. Đó chẳng qua chỉ là những kẻ tò mò cứ muốn hỏi chuyện nước Pháp, đất nước họ không bao giờ đặt chân tới và muốn được biết tường tận. Làm sao tôi có thể ngăn cản hàng trăm hàng ngàn người đi theo tôi như vậy? Tôi có quyền gì? Và ở nước nào mà chẳng có những kẻ tò mò! Ngay ở Algérie, khi mới đến, tôi đã thấy cả một đám đông vây bọc lấy tôi, chỉ cốt được nhìn chú bé An Nam vừa lên bờ…”


Hẳn rằng thực dân Pháp – nhất là cơ quan mật thám – không khờ khạo đến nỗi không phát hiện những lý lẽ hóm hỉnh và đôi khi khiên cưỡng trong những bức thư Kỳ Đồng gửi Toàn quyền, Công sứ. Nhưng cho đến tháng 4-1897, chính quyền thực dân vẫn chưa có lý do để bắt giữ Kỳ Đồng. Thêm nữa, thực dân Pháp vẫn chưa hết ảo tưởng rằng Kỳ Đồng sớm muộn sẽ nhận một công việc gì đó trong chính quyền thuộc địa, hay ít ra cũng không có tư tưởng chống Pháp nữa. Chẳng qua vì những sĩ phu yêu nước muốn lợi dụng vai trò Kỳ Đồng để tập hợp lực lượng như 10 năm trước.


Cho đến cuối tháng 4-1897, mật thám vẫn kết luận về Kỳ Đồng như sau: “Bản thân Nguyễn Văn Cẩm thì không tỏ ra có gì nguy hiểm. Có lẽ đây là một dạng người suy nhược thần kinh (!), lại bị những tác động của ngoại cảnh, nhất là của môi trường anh ta đang sống. Người ta làm cho anh tưởng rằng mình là một siêu nhân (…). Vốn không quen lao động, Cẩm chỉ thích sống thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và thỏa tính tự phụ. Các trí thức quan lại không tin anh, thậm chí còn khinh vì anh thiếu đứng đắn, vì tính nết và suy nghĩ trẻ con. Không có gì đáng lo ngại rằng Cẩm đã có những ảnh hưởng nào đó đối với họ. Nhưng đám dân chúng thì gán cho Cẩm một quyền uy siêu phàm, và rất có thể ở một thời điểm nào đó Cẩm sẽ lôi kéo họ vào một cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Lại do bất mãn vì không được người ta biệt đãi như anh ta ngộ nhận, khi có điều kiện, Cẩm có thể lợi dụng đám dân chúng như một lực lượng không tự giác”.


Và mật thám bắt đầu cảnh giác hơn: “Dân An Nam ở thôn quê vốn là lũ vô học, rất dễ bị lừa phỉnh. Những tin đồn phi lý nhất có lúc lan truyền dễ dàng không lường nổi và có hiệu lực như một sự thật… Bởi vậy nhiều vị Công sứ cũng đã dè chừng một sự cố bất ngờ có thể xẩy ra một ngày nào đó do tiếng tăm và uy thế của Kỳ Đồng” (Mật báo đã dẫn).


Toàn quyền Doumer trong báo cáo gửi Bộ Thuộc địa cũng viết: “Khi Kỳ Đồng trở về Bắc Kỳ, những giai thoại thần thánh hóa anh ta lại lan truyền và được dân chúng tin là thật. Kẻ thù của chúng ta liền lợi dụng: chúng nói rằng Kỳ Đồng nhận sứ mạng đuổi người Pháp ra khỏi đất Bắc Kỳ, khôi phục con cháu các vua xưa và mang lại phồn vinh hạnh phúc cho dân…”


Nhằm đề phòng các sĩ phu và lực lượng yêu nước “lợi dụng” Kỳ Đồng, trong kỳ thi hương tại Nam Định năm đó (1897), thực dân Pháp huy động hai pháo thuyền “Le Jacquin” và “L’Avalanche” đến Nam Định, nói là để đón chào Toàn quyền Doumer, thực ra để thị uy ngăn chặn mọi bất trắc.


Về sau Toàn quyền Doumer nhắc lại cuộc thị uy nói trên trong một cuốn sách của mình: “Các thí sinh kéo về Nam Định mấy ngày trước kỳ thi, mỗi người mang theo một đầy tớ và nhiều gia thuộc (…). Kỳ thi năm 1897 diễn ra vào thời điểm gay go sau khi những âm mưu nổi loạn của quần chúng cuồng tín do một “cậu bé kỳ lạ” tức Kỳ Đồng khởi xướng vừa nhanh chóng bị dập tắt(…). Nhiều người Pháp và một số quan chức tỏ ra lo lắng thực sự. Họ cho rằng ba, bốn ngàn con người họp lại ở đó kết hợp với dân chúng trong thành phố sẽ trở thành một lực lượng nổi loạn rất nguy hiểm (…).


Tôi nghĩ rằng chẳng có gì đáng phải lo lắng, chẳng có gì nghiêm trọng. Khi tôi đến Nam Định khai mạc kỳ thi…, những loạt đại bác 90 của các pháo thuyền chào mừng và đại bác ở các thuyền máy hộ tống tôi đáp lại như có ý cảnh cáo bọn hiếu động. Mọi sự đề phòng, theo tôi, quả là không cần thiết: mọi việc đã diễn ra tốt đẹp, và có lẽ vẫn tốt đẹp chẳng cần phải đề phòng. Nhưng ai mà biết trước được. Cứ phải cảnh cáo hơn là phải đàn áp, cứ thị uy kịp thời để khỏi phải dùng đến bạo lực” (Paul Doumer – L’Indochine francaise – Paris 1905).


Tóm lại, trên cơ sở những tư liệu hiện có, chúng ta thấy cho đến giữa năm 1897 thực dân Pháp vẫn chưa hết hy vọng sử dụng Kỳ Đồng theo ý muốn của họ. Vấn đề phải đối phó trước mắt là không để cho “các phần tử chống đối” lợi dụng uy tín Kỳ Đồng. Nếu Kỳ Đồng vẫn cứ “lười biếng”, “rượu chè”, không chịu nhận công việc của chính phủ bảo hộ giao cho thì lúc đó sẽ áp dụng biện pháp cứng rắn vẫn chưa muộn. Ý nghĩ này cũng được phản ánh trong Mật báo của Chéon: “Dù sao chăng nữa, nếu Kỳ Đồng từ chối hoặc nhận việc mà làm ăn không ra trò thì chính phủ sẽ có lý do để áp dụng những biện pháp quản thúc hoặc cưỡng chế. Còn cứ như hiện nay thì chưa có cơ sở pháp lý để áp dụng những biện pháp trên”.


Trong tình hình như vậy, thực dân Pháp cho rằng biện pháp thích hợp trước mắt là tạm thời cách ly Kỳ Đồng với phong trào yêu nước ở đồng bằng, nhất là các sĩ phu. Và chính quyền thực dân đã đồng ý cho Kỳ Đồng hợp tác với bác sĩ Gillard mộ phu lên Yên Thế.


Thực ra Kỳ Đồng từ Alger trở về đã khác với Kỳ Đồng 10 năm trước. Ngày trước người ta cõng rước Kỳ Đồng đi giới thiệu với các danh sĩ và dân chúng trong vùng. Bây giờ trái lại, Kỳ Đồng chủ động đi bắt mối với họ hoặc tạo cơ hội hợp pháp (như tổ chức ngày giỗ cha) để họ tìm đến với mình, bí mật nhen nhóm lại phong trào ở đồng bằng và tìm cách gây dựng cơ sở ở trung du với danh nghĩa đi mở đồn điền.


Như vậy, ngay sau khi về nước, Kỳ Đồng đã nhanh chóng trở thành một thủ lĩnh thực sự của phong trào yêu nước, cũng là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Kỳ Đồng, trái ngược với ý đồ của thực dân Pháp, thậm chí hơi bất ngờ đối với họ. Một tác giả thực dân là Paul Chark viết: “Năm 1887, Kỳ Đồng được gửi sang học ở Alger, sống ở đó 9 năm, luôn có quan hệ với Hàm Nghi…, và anh ta đã học được lòng căm thù người Pháp bằng chính học phí do chúng ta cung cấp” (1).


KỲ ĐỒNG – “ÔNG CHỦ ĐỒN ĐIỀN”


Một phong trào đi khai hoang không bình thường


Trên chuyến tàu từ Alger về Việt Nam, Kỳ Đồng quen biết bác sĩ Gillard, và hai người bàn kế hoạch cộng tác mở đồn điền ở miền ngược. Cho đến nay, về mối quan hệ giữa Kỳ Đồng và Gillard cũng như về lai lịch cụ thể của nhân vật bác sĩ này còn là những vấn đề cần tìm hiểu cụ thể hơn (Xin xem Phụ lục: Bác sĩ Gillard).


Theo những tài liệu chúng tôi hiện có, khi về đến Hà Nội Gillard làm đơn xin mở đồn điền, đơn nói rõ là cộng tác với Kỳ Đồng. Ít lâu sau, đơn của Gillard được chấp thuận và Kỳ Đồng được phép cùng Gillard khai khẩn đồn điền ở Chợ Kỳ (tổng Hương Vỹ, Yên Thế), ngay trên địa bàn hoạt động của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Trên thực tế, Kỳ Đồng là người trực tiếp trông nom, đôn đốc việc khai khẩn, trong khi Gillard ở Hà Nội chuyên lo các thủ tục, giấy tờ cho những người miền xuôi lên Chợ Kỳ phá hoang.


Việc tuyển chọn người đi mở đồn điền được Lỳ Đồng tiến hành từ tháng 4-1897, khi còn ở Thái Bình. Trong thư của Văn phòng Phó Toàn quyền gửi Thống đốc Bắc Kỳ (15-7-1897) có đoạn: “Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng đi chơi liên miên từ đầu năm, đã về nhà hồi tháng 3 âm lịch. Anh tiếp tục đón khách, phần đông là những thanh niên khoảng 20-25 tuổi. Anh ta quan sát mặt mũi họ theo thuật xem tướng mặt, nếu vừa ý thì hỏi tên tuổi, quê quán từng người, cho mỗi ngươi 2, 3 đồng rồi bảo họ về quê. Có khoảng 50 người được tiếp nhận như vậy. Ngài Công sứ Thái Binh được báo về việc này, tra hỏi Kỳ Đồng nhưng anh ta đã chối. Vả chăng, những người được tiếp nhận không có chứng từ gì cả nên rất khó kiểm xét. Nguyễn Văn Cẩm nghèo, lấy đâu ra những món tiền đó? Người ta gọi anh ta là “Ngài”, là “Quan lớn” (Kho lưu trữ Aix… - F7-34515).


Theo yêu cầu của Kỳ Đồng, ngày 21-7-1897, bác sĩ Gillard viết thư cho Thống sứ Bắc Kỳ: “Nhằm giúp tôi được dễ dàng trong việc tăng dân cư vùng Yên Thế, nhất là những vùng đất tôi đã làm đơn xin lập đồn điền, tôi tha thiết xin Ngài tạo thuận lợi cho việc chiêu mộ người An Nam do Kỳ Đồng tiến hành (…) Để công việc đạt hiệu quả, tôi xin Ngài Thống sứ:


1/ Thông báo cho các ngài Công sứ các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình và Hải Dương biết: Kỳ Đồng đã được phép mộ dân An Nam đi khẩn điền ở Yên Thế. Thông báo cho dân An Nam ở 4 tỉnh rằng: ai muốn theo Kỳ Đồng đi khẩn điền ở Yên Thế có thể đến gặp ông ta tại nhà để thỏa thuận.


2/ Có những biện pháp thích đáng nhất nhằm bảo đảm hành trình cho những người An Nam đi lên Yên Thế, một khi ngày giờ và lộ trình đã được xác định”.


Đến khoảng tháng 8, đầu tháng 9-1897, việc tuyển mộ người lên Yên Thế do Kỳ Đồng tổ chức nhanh chóng biến thành một phong trào di dân từ các tỉnh đồng bằng lên trung du. Hàng ngàn nông dân và những chiến sĩ cũ của phong trào Cần Vương mang theo lương thực, gia súc và dụng cụ lao động, tình nguyện đi khai phá đồn điền. Có những gia đình “bán cả gia cư, điền địa để đi theo Kỳ Đồng” (2).


Đương nhiên một phong trào đi khai hoang không bình thường như vậy đã bị mật thám theo dõi. Và Toàn quyền Doumer báo về Bộ Thuộc địa: “Kỳ Đồng cử thám tử đi khắp các tỉnh đồng bằng kêu gọi dân chúng với danh nghĩa đi khai khẩn vùng đất phì nhiêu ở Yên Thế. Phong trào di dân diễn ra nhanh chóng và đôi lúc có vẻ khác thường. Tôi đã ra lệnh theo dõi cuộc di trú này trong các tỉnh và tại Yên Thế. Tôi cũng đã chỉ thị cho đạo binh thứ nhất phải dựa vào các đồn binh để thường xuyên theo dõi số người đang tụ tập này. Đúng là họ không có vũ khí, nhưng số đông lại có thể gây nguy hiểm”.


Thi hành mệnh lệnh Toàn quyền, nhiều báo cáo từ các địa phương liên tiếp gửi về phủ Thống sứ và cơ quan mật thám Bắc Kỳ với những chi tiết và số liệu cụ thể:


Công điện số 115 của Công sứ Hưng Yên (10-8-1897) cho biết: “Kỳ Đồng hiện ở các huyện Duyên Hà và Hưng Nhân đã tuyển mộ được khá đông cu-li cho đồn điền Yên Thế. 500 người đã đi bằng đường thủy từ ba hôm trước và hôm nay lại có thêm 50 người nữa đã đến Hưng Yên (…). Kỳ Đồng yêu câu họ:


1/ Cam đoan đi khai hoang, nhưng phải đi một mình. Phải tạm quên vợ con, gia đình. Mỗi năm vợ con được lên thăm vài ngày. Phải sẵn sàng đi theo Kỳ Đồng cho đến chết.


2/ Phải mang theo nhu yếu phẩm trong những tháng đầu tiên đến đồn điền.


            Các điệp viên cải trang của chúng ta trà trộn trong bọn chúng cho biết: 250 người ra đi chiều hôm qua đều mang theo mỗi người từ 10 đến 20 đồng. Phần lớn những cu-li này là nho sĩ, lính tập, lính khố đỏ giải ngũ và đều khỏe mạnh”.


            Trong khi hàng trăm cu-li lũ lượt kéo lên Yên Thế, lại có từng nhóm thám tử của Kỳ Đồng từ đồn điền trở về xuôi. Khi bị các đồn binh giữ lại xét hỏi, họ khai là “phải bỏ về vì thiếu tiền” (!).


            Ngày 23-8-1897, viên chỉ huy đồn lính ở Bắc Ninh báo về cấp trên: “Ba người An Nam tên là Do Truong Quan 34 tuổi, Nguyen Ba Than 28 tuổi và Trinh Hoan Binh 35 tuổi ở làng Binh Co (?), huyện Siêu Loại tỉnh Bắc Ninh bị Kỳ Đồng dụ dỗ nay đang quay trở về làng, không thể ở lại với Kỳ Đồng nữa vì không có tiền. Qua viên thông ngôn, tôi được biết: khi còn ở quê nhà, mấy tên này nghe nói Kỳ Đồng mộ cu-li bèn lên thẳng Hà Nội gặp Kỳ Đồng, mang theo mỗi người 12 đồng và nộp ngay cho Kỳ Đồng khi vừa đến nơi. Chúng chỉ nghe người ta bàn tán với nhau là đi khai khẩn một đồn điền, nhưng không rõ đồn điền ở đâu. Khi đến Yên Thế, Kỳ Đồng cấp cho mỗi người mỗi ngày 2 bát gạo và 2 xu. Sau 3 ngày, chúng bắt đầu khẩn đất và dựng nhà tranh. Nay hết tiền, chúng buộc phải bỏ về…”.


            Những người khác lại khai là họ cần trở về xuôi để mua sắm vài thứ lặt vặt rồi lại trở lên Yên Thế. Ví dụ: Bui Van Tac quê ở Hưng Yên, khai với viên chỉ huy đồn Đáp Cầu rằng: “Tôi lên Yên Thế với Kỳ Đồng lập làng, nay đã lập xong 3 làng, ít hôm nữa sẽ có đủ nhà ở cho mọi người. Tôi đi Hà Nội mua thuốc lào, khoảng 10 hôm nữa tôi lại trở lên Yên Thế…” (Báo cáo đề ngày 23-8-1897).


            Theo báo cáo của Sở Cảnh sát Hà Nội (13-9-1897), Kỳ Đồng đã lên Hà Nội tổ chức hành trình cho khoảng 650 cu-li được tuyển mộ từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và đều đã tập trung ở Hà Nội.


Vẫn báo cáo trên: “Sáng ngày 13, sau khi rời Tòa Thống sứ, Kỳ Đồng đến nhà Gillard ăn cơm, ngủ trưa và ở lại đó suốt đêm… Khoảng 450 cu-li đã qua sông sang phía tả ngạn. Phần lớn cu-li hiện đang ở Hà nội, tại nhà trọ của Kỳ Đồng. Người chú và người em của Kỳ Đồng cũng ở đấy. Hình như Kỳ Đồng bắt mỗi người đóng góp 15 đồng để lên đồn điền. Người chú và người em phụ trách việc ghi tên tuổi những người đã nộp tiền vào một cuốn sổ. Số tiền này coi như tiền ký qũy của các cu-li.


Về sau, theo như Lá đơn ký tên 61 người (đại diện cho những cu-li lên Chợ Kỳ khẩn haong) yêu cầu chính phủ thực dân hoàn lại cho họ số tiền bị tịch thu khi bắt Kỳ Đồng, thì tổng cộng số tiền đóng góp, ký qũy của các cu-li là ngót 14.000 đồng và 4 nén bạc. Số tiền bác sĩ Gillard ứng trước cho đồn điền chỉ có 3.700 đồng (Kho lưu trữ Aix… - 6201) (Xin xem thêm Phụ lục I).


“Nhiều người tò mò đến thăm Kỳ Đồng nhưng họ bị đuổi khéo và được trả lời rằng Kỳ Đồng đang đến phủ Toàn quyền. Tại nhà bác sĩ Gillard người ta đang làm 1.000 chiếc bánh (có lẽ là cơm nắm) cho cu-li. Ngày 14, hồi 8 giờ sáng, 200 cu-li cũng đã qua sông sang phía tả ngạn. Hồi 9 giờ 15, Kỳ Đồng qua sông trên một chiếc thuyền, có 4 người bản xứ đi theo. Sang đến bờ sông, Kỳ Đồng lên một chiếc xe kéo, cùng đi có người chú Kỳ Đồng, một người bạn và một đầy tớ…” (Kho lưu trữ Aix… - F7-34515).


Báo cáo của đồn binh Đáp Cầu ngày 17-9-1897 ghi: “Có 180 người An Nam từ các tỉnh Thanh Hóa, Thái Bình và Hải Dương mang theo mỗi người từ 10 đồng đến 30 đồng, hôm nay đã sang đò để lên đồn điền của bác sĩ Gillard. Như vậy, đã có ngót 700 người từ các vùng nói trên lần lượt kéo lên Yên Thế từ ngày 13-9”.


Ngày hôm sau (18-9-4897), Thống sứ Bắc Kỳ lại nhận được một điện khẩn của viên chỉ huy đồn Kép: “ Từ năm ngày nay, tôi đã nhận được 400 giấy phép của người An Nam, sáng nay lại thêm 50 giấy nữa. Bọn họ đi đến khu vực giữa Nhã Nam và Bố Hạ đến với một người nào đó tên là Kỳ Đồng. Cuộc di trú đang tiếp diễn”.


Như vậy, cho đến khoảng giữa tháng 9-1897, những người theo Kỳ Đồng đi khẩn hoang ở Yên Thế đã lên tới con số hàng ngàn.


Sau khi Kỳ Đồng và các đồng chí của ông bị bắt, Bản án về “vụ Kỳ Đồng” ghi rằng: “Từ tháng 9 năm nay, một số đông dân chúng vùng đồng bằng được Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng gọi lên khu vực Chợ Kỳ và vùng lân cận trong tổng Hương Vỹ, huyện Yên Thế (thuộc đạo binh cùng tên) với số lượng từ 7.000 đến 8.000 người và đã được Nguyễn Văn Cẩm cùng các tòng phạm trưng mộ theo lối mộ lính” (3).


Khoảng đầu năm 1898, trong Biên bản ghi lại cuộc đối chất giữa viên chỉ huy đạo binh Yên Thế Péroz với bác sĩ Gillard tại Hà Nội, Péroz khẳng định rằng số cu-li ở Chợ Kỳ đã lên đến gần 1 vạn người”.


Một điều đáng chú ý là: bên cạnh lực lượng cu-li từ các tỉnh miền xuôi lên, Kỳ Đồng còn liên hệ với các thổ mục miền núi và thu hút một số cu-li người các dân tộc thiểu số vào việc khai khẩn đồn điền. Theo báo cáo của Philippeau (chỉ huy lực lượng sen đầm Đông Dương): “dân cư quanh khu vực đồn điền Chợ Kỳ đều biết tiếng Kỳ Đồng. Hẳn rằng dân thiểu số ở đây đã bắt liên lạc và sẵn sàng phục tùng Kỳ Đồng, vì anh ta chấp thuận mở một con đường vào sâu trong vùng rừng núi”. Trong Biên bản đối chất với bác sĩ Gillard (đã dẫn), Péroz cũng cho biết: “Nhà cửa trong đồn điền Chợ Kỳ cũng như những con đường nối liền các các đồn trong đồn điền đều do những cu-li tuyển mộ tại chỗ đảm nhiệm”.


Thêm một nguyên nhân thúc đẩy cuộc di dân, theo các điêp viên, là “vừa qua trong dân chúng lan truyền tin đồn Nhà nước sắp tăng thuế”. Nguồn tin từ ngoại thành Hà Nội: “Từ khi nghe tin chính phủ muốn đánh thêm những thứ thuế khác và tăng gấp đôi các sắc thuế hiện hành, dân rất hoang mang”. Nguồn tin từ Hà Đông: “Hôm trước tôi ngủ trọ tại một quán đối diện lỵ sở Thanh Oai, nghe mấy lý trưởng, chánh tổng ở Hà Nội về bảo rằng họ vừa đi nhận “thước tây” (mètre francais) để đo ruộng. Họ còn bảo: tại nội thành Hà Nội, thuế đã tăng; còn ở thôn quê thì chưa biết cái gì sẽ xẩy ra trong năm tới”. Tin của điệp viên từ phủ Hoài Đức và Đan Phượng: “Khi ngủ trọ tại một quán ở Chợ Giầy, nghe mấy lái buôn thuốc lào nói rằng: Kỳ Đồng đã được người Tây mời vào Sài Gòn để quyết định một việc gì đó; nhân dịp này Kỳ Đồng sẽ yêu cầu giảm thuế cho dân An Nam”.


Lại còn lưu truyền tin đồn rằng: “Kỳ Đồng đi khẩn ruộng, nhưng hễ chỗ nào Kỳ Đồng đặt chân tới thì lúa chín tự mọc lên. Nhiều người An Nam đã tin và đi theo anh ta”. Hoặc: “Các cu-li của Kỳ Đồng nói rằng Kỳ Đồng có một người bạn, mỗi lần lặn xuống sông lại vớt lên một, hai quan tiền để Kỳ Đồng tiêu pha trong ngày (vẫn các mật báo của điệp viên).


            Có một chi tiết lý thú: những cu-li đi lên Yên Thế đều đeo phù hiệu “tam tài” (màu cờ nước Pháp) trên mũ nón. Trong bức thư gửi Toàn quyền, viên Thống sứ Bắc Kỳ có nói đến việc này: “Thật là chướng mắt khi người ta thấy bác sĩ Gillard cho đính những phù hiệu ba sắc trên mũ nón bọn cu-li của Kỳ Đồng”.


Mật thám đặc biệt chú ý thành phần, lai lịch những người được Kỳ Đồng tuyển mộ lên Yên Thế, vì trong số hàng ngàn cu-li có rất nhiều người không phải là “dân quê” nghèo khổ. Ngay từ đầu tháng 8-1897, mật thám đã phát hiện “trong những cu-li này có một số lớn nho sĩ, trí thức, lính tập và lính khố đỏ” (Công điện của Công sứ Hưng Yên – đã dẫn).


Những báo cáo tiếp tục xác nhận thêm: “Tất cả những người An Nam này đều ăn mặc chỉnh tề và không phải là những cu-li thông thường (Công điện từ đồn Kép); hoặc: “Các cu-li này đều do Kỳ Đồng tuyển mộ ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, gồm những cựu chánh tổng, lý trưởng, nho sĩ và các tộc trưởng (Báo cáo của Sở Cảnh sát Hà Nội).


Trả lời yêu cầu của Thống đốc Bắc Kỳ về lai lịch 18 người được Kỳ Đồng tuyển mộ tại Ninh Bình, viên công sứ Coytier đã lập danh sách 8 người đáng lưu ý, vì đều thuộc tầng lớp trên của xã hội hoặc co nhiều tài sản. Bảng danh sách ghi:


+ Đỗ Gia Hội ở làng Phú Hậu, là một nho sĩ nghèo.


+ Phạm Nhĩ ở làng Bồng Hải, có khoảng 10 mẫu ruộng.


+Phạm Văn Liêu ở làng Nhuận Ốc, cựu chánh tổng.


+ Phạm VănPhùng, con trai của Liêu.


+ Phạm Khắc Hiệt ở làng Phụng Công, là một cựu thư lại ở dinh tuần phủ.


+ Phạm Tự Hiếu ở làng Bồng Hải, là một ấm sinh; mẹ của y giàu có (1 nhà ngói, 60 mẫu ruộng) mà vẫn không có cách nào giữ con trai ở lại với mình.v.v…


            Và Công sứ Coytier kết luận: “Những người này theo như lai lịch của họ, thì hình như không phải họ được chuẩn bị để đi làm ruộng” (Kho lưu trữ Aix… - 6201).


            Bản án xét xử “vụ Kỳ Đồng” (đã dẫn) nêu danh sách 22 can phạm chính, trong đó có 3 chánh tổng, 3 lý trưởng, 5 nho sĩ, 6 điền chủ, 3 giáo học, 1 thầy lang.


Trong cuốn hồi ký của mình, viên chỉ huy đạo binh Yên Thế (Péroz) mô tả đoàn cu-li của Kỳ Đồng: “Họ đều mặc áo quần có vẻ sang trọng, nhiều người có lọng che, có đầy tớ mang theo ống điếu, cơi trầu và hành lý nhẹ xếp trong các hòm sơn (…). Nhìn bề ngoài, cứ như những người đi trẩy hội chùa hay đi lễ bái ở đền miếu nào đó. Viên quản đạo Nhã Nam đã nhận mặt được một số nhân sĩ quê ở Nam Định trong đoàn người này (…). Tóm lại, họ là những người có gia tư, điền sản, những kỳ hào, thân sĩ” (Sách đã dẫn).


Péroz còn phát hiện rằng: “ trong số hàng ngàn cu-li của Kỳ Đồng có 30-40 “phu trạm đặc biệt” và hàng chục người khác chuyên việc soạn thảo văn thư.


Tổng hợp tình hình trên, Toàn quyền Doumer báo về Bộ Thuộc địa: “Trong số 2500 đến 3000 người tập hợp xung quanh Kỳ Đồng ở Yên Thế có nhiều quan lại cũ và nho sĩ hơn là nông dân, nghĩa là những người chưa hề mó tay đến đồng ruộng”. Doumer còn cho biết thêm: “Theo kết quả điều tra, có nhiều thơ ca và lời hiệu triệu đã được phổ biến, nói về một vị thần sẽ giải phóng xứ Bắc Kỳ, và người dân An Nam nào muốn tham gia chính quyền của vị thần đó thì ngay bây giờ hãy tập hợp bên ông ta”.


Trên thực tế, thời gian ở Thái Bình cũng như sau đó lên Yên Thế, Kỳ Đồng đã sáng tác nhiều thơ ca và được phổ biến nhanh chóng. Ngày 18-4-1897, mật thám phát hiện hai bài thơ (một bài chữ Hán, một bài chữ Nôm) và khẳng định rằng: “Hai bài thơ này là của Kỳ Đồng sáng tác, được sao chép phổ biến ở Hưng Yên và cả ở Thái Bình. Bài thứ nhất biểu lộ ý đồ thầm kín của Kỳ Đồng muốn làm một việc phi thường. Bài thứ hai bộc lộ rõ rệt những ý đô nguy hiểm hơn (Xin xem Phần Hai – Thơ văn Kỳ Đồng).


Đội quân khai hoang đông đảo, hăm hở với những thành phần tham gia khá đặc biệt rõ ràng không phải là hiện tượng bình thường. Nhưng thực dân Pháp chưa viện được lý do gì để ngăn cản, vì những người lên Chợ Kỳ đều mang theo giấy thông hành hợp pháp do bác sĩ Gillard cung cấp. Cũng có thể nghĩ rằng chính quyền thực dân chưa muốn “xử trí non” vụ Kỳ Đồng khi xét chưa thuận lợi và cần thiết.


2.Đồn điền Chợ Kỳ hay căn cứ nghĩa quân?


Những tư liệu dẫn ở phần trên đủ chứng minh rằng chủ trương của Kỳ Đồng là xây dựng khu vực Chợ Kỳ thành một “căn cứ trá hình”, cố gắng che mắt thực dân bằng cái vỏ “đồn điền” hợp pháp, vừa làm nơi tích trữ lương thực, liên lạc với các địa phương, chỉ đạo phong trào ở đồng bằng, vừa bí mật liên kết với lực lượng của Hoàng Hoa Thám đang hoạt động ngay trên địa bàn này, mà chúng tôi sẽ nói thêm ở một mục sau.


Kỳ Đồng đã khéo léo xây dựng căn cứ Chợ Kỳ theo kiểu những “làng pháo đài”, tuy nhìn bề ngoài vẫn như những làng xóm bình thường. Hầm hào phòng thủ lùi sâu trong thôn xóm. Tổ chức và sinh hoạt lao động trong đồn điền rất chặt chẽ: nghĩa quân bí mật canh gác, kiểm tra người lạ mặt, tập dượt cứu hỏa, quy định mật hiệu báo động v.v…


Ngày 23-8-4897, một nghĩa quân bị đồn binh Đáp Cầu giữ lại tra hỏi, khai rằng: “Tôi đến Yên Thế với Kỳ Đồng để lập làng, khẩn ruộng kiếm sống…”. Hẳn rằng lính đồn không dễ dàng tin vào một lời khai như vậy, nhưng có lẽ cho đến cuối tháng 8-1897, thực dân Pháp vẫn chưa hiểu thật chính xác ý đồ của Kỳ Đồng ở Chợ Kỳ.


Trong thư gửi Thống sứ Bắc Kỳ, viên chỉ huy sen đầm Philippeau vẫn nghĩ rằng số cu-li do Kỳ Đồng mộ lên Yên Thế chẳng bao lâu sẽ tan rã vì thiếu lương ăn. Philippeau viết: “Có thể dự đoán rằng khi nguồn tài sản của Kỳ Đồng (gồm số tiền đóng góp từ 12 đến 15 đồng mỗi đầu người) vơi cạn dần, thì đám người kéo lên Chợ Kỳ dù đã có nhà ở cũng không thể tự nuôi sống, buộc phải tan rã. Nếu bác sĩ Gillard không tiếp viện cho chúng thì có thể nói chắc rằng chúng sẽ trở về quê hết” (Kho lưu trữ Aix… - F7-24515).


Nhưng sau đó vài hôm, các tin mật báo từ Nhã Nam gửi về lại phản ánh một tình hình khác hẳn: “Hiện nay (đầu tháng 9) Kỳ Đồng đã đặt 5 đồn từ Suối Cấy đến phía ngoài Đồn Đền, cụ thể là Đồn Trung (tức Suối Cấy), đồn Nhất, Đồn Nhì, Đồn Ba, Đồn Tư (xin xem bản đồ). Đồn Trung được coi như đại bản doanh của Kỳ Đồng. Vẫn báo cáo trên, lực lượng ở Đồn Trung có 200 ngươi, chia làm 4 đơn vị. Kỳ Đồng cử một người cầm đầu 4 đơn vị này, có 4 phó tướng và 10 thư ký. Các đồn còn lại, mỗi đồn khoảng 100 người do một chánh quản chỉ huy cùng với một phó quản, hai viên đội nhất, hai viên đội nhì và hai thư ký”.


Hơn nửa tháng sau, điệp viên từ Bố Hạ lại cho biết: “Từ mấy hôm nay, nhiều cu-li đã đến Suối Cấy, mỗi ngày khoảng 50, 60 người. Đây là những cu-li mới. Như vậy, hiện nay ở Suối Cấy và các đồn khác có khoảng 1800 cu-li. Tại Suối Cấy, Kỳ Đồng đã cho xây thêm 5 ngôi nhà mới có gác (có lẽ là nhà sàn), mỗi nhà 5 gian” (Ký hiệu lưu trữ: F7-34515).


Kết hợp ký ức của nhân dân địa phương: Kỳ Đồng đã dựng 6 đồn ở Chợ Kỳ với các tên gọi đồn Nhất, đôn Nhì, đồn Ba, đồn Tư, đồn Hồng (?) và đồn Sáu (tư liệu điền dã của Nguyễn Tiến Đoàn).


Nhằm bảo đảm sinh hoạt và bố phòng trong đồn, Kỳ Đồng ban hành bản Nội quy gồm 5 điều, toàn văn như sau:


“Hiện nay trong các đồn đều có nước độc, hổ dữ và giặc cướp. Vậy các người cần hết sức đề phòng. Ai vi phạm các điều sau đều bị khấu trừ lương:


Điều 1: Uống nước lã hoặc nước đun không sôi; khấu trừ 3 ngày lương.


Điều 2: Ngủ ban ngày: khấu trừ 4 ngày lương.


Điều 3: Đi lại không xin phép: khấu trừ 5 ngày lương.


Điều 4: Ban đêm đi một mình trong đồn điền không có lý do: khấu trừ 10 ngày lương.


Điều 5: Vào rừng đốn cây, khi gặp người cũng đang đốn cây thì phải có thái độ kính trọng, ai gây khó khăn cho họ sẽ bị xử phạt nghiêm khắc (?).


Trong một bản thông báo khác, Kỳ Đồng quy định: “những người đã được phiên chế trong các đồn muốn xin phép nghỉ phải viết đơn, được chánh quản và trưởng đồn chứng thực trước khi chuyển cho Kỳ Đồng và sẽ được chấp thuận, nhưng phải tự túc tiền đi đường”.


Lại thêm một chi tiết lý thú: “Kỳ Đồng yêu cầu nghĩa quân phải tập thể dục buổi sáng, coi như nhiệm vụ bắt buộc. Mô tả nghĩa quân tập “xà đơn” (barre fixe), điệp viên ở Bố Hạ ghi: “Trong đồn Suối Cấy, Kỳ Đồng cho dựng một cái cổng (!) cao 2m50 và ra lệnh cho tất cả lính của ông ta phải tập dượt làm quen, như đánh đu hoặc nhảy qua phía trên, để cho mạch máu được lưu thông, khi có việc sẽ nhanh nhẹn…”. Ngoài ra, Kỳ Đồng còn tuyển một đội văn nghệ, “chiều nào cũng biểu diễn cho đến tối để giải trí” (Kho lưu trữ ở Aix… - F7-24515).


Chi tiết sau đây có lẽ quan trọng hơn: ngay tại đồn điền, nghĩa quân có một bộ phận chuyên rèn vũ khí thô sơ. Điệp viên ở Nhã Nam cũng đã phát hiện: “Bọn thợ rèn tiếp tục rèn vũ khí sắc nhọn”.


Về sau, trong Bản án lập tại đạo binh Yên Thế (đã dẫn), thực dân Pháp khẳng định thực chất của “đồn điền” Chợ Kỳ như sau: “Xét thấy ngay từ đầu một tổ chức quân sự đã được thiết lập gồm mấy ngàn người (…) mà Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng đã lôi kéo họ lên xứ Chợ Kỳ… Bảy cái đồn do đồng đảng của Nguyễn Văn Cẩm xây dựng có tính chất quân sự rõ rệt. 9 bị can (có tên trong bản án này) chỉ huy các đồn hoặc đảm nhiệm các chức vị quan trọng đều được Nguyễn Văn Cẩm phong chức và đã tự nguyện nhận quân hàm”.


Thời gian đầu, lương thực và các nhu yếu phẩm của mấy ngàn nghĩa quân ở Chợ Kỳ đều phải mang từ miền xuôi lên. Vẫn báo cáo của điệp viên ở Nhã Nam (2-9-1897): “hai chiếc thuyền chở đầy gạo và 6 két dầu hỏa từ Lục Nam đã đến đây cùng 2 thuyền khác chở muối, chiếu và bát đũa từ Hà Nội lên”.


Đồng thời với việc xây cất nhà cửa, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-1897, nghĩa quân ở Chợ Kỳ đã bắt tay vào việc khai khẩn. Tin tức của điệp viên cho biết trong hai ngày 31-8 và 1-9 “chúng đã đốt hơn 100 mẫu cỏ hoang ở khu vực đối diện Suối Cấy”. Hàng ngày Kỳ Đồng trực tiếp tham gia đôn đốc việc khai khẩn và nói với nghĩa quân: “Đây là rừng, tất cả đất đai thuộc về chúng ta, các anh em phải làm việc hết sức mình. Chúng ta sẽ còn tiếp tục lập những đồn điền mới bắt đầu từ khu vực này” (F7-34515).


Qua bài thơ “Niềm vui vỡ đồn điền”, Kỳ Đồng muốn nhắc nhở nghĩa quân về mục tiêu ý nghĩa công việc họ đang theo đuổi: “lấy nông nghiệp tạo thành quân nghiệp”.


Vậy thì mục đích của Kỳ Đồng ở Chợ Kỳ không chỉ là việc phá nương làm ruộng. Ông đã lợi dụng việc khẩn hoang để tuyên truyền tinh thần chống Pháp, như trong bài thơ “Kiền khôn phú tái…” với những câu phảng phất tính chất “sấm truyền”:


“Đoài phương triệu ứng giáng sinh


Cửu trùng ướng thụy long thành ngũ vân…”


(Phương đoài ứng triệu giáng sinh


Chín tầng rồng hiện trời xanh tuyệt trần)


Có thể kể rất nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm mang nội dung đại loại như các câu trên được nhanh chóng truyền đi khắp nơi. Bản thân Kỳ Đồng hiểu rằng mật thám đang theo dõi ông rất chặt chẽ, chực hãm hạiông để phá vỡ phong trào. Tâm sự này được gửi gấm trong vài thơ “Thiên lý du du…” (Xin xem Phần Hai – Thơ Kỳ Đồng).


Từ đồn điền Chợ Kỳ, Kỳ Đồng bí mật chỉ đạo chuẩn bị cuộc nổi dậy vũ trang ở các tỉnh đồng bằng. Ông nhiều lần đi về các cơ sở ở miền xuôi, nhất là cơ sở ở Hải Dương do Mạc Đĩnh Phúc trực tiếp phụ trách. Mỗi lần đi về, Kỳ Đồng đều cải trang kín đáo và được bố trí ở trong hầm dưới gầm giường, có liên lạc, viễn tiêu canh phòng ở phía ngoài.


Trên thực tế, một bộ tham mưu của phong trào đã được hình thành: Kỳ Đồng được tôn làm “quốc sư”, Mạc Đĩnh Phúc làm thủ lĩnh, Nguyễn Bá Ôn làm chủ súy (4) v.v… Những bản hiệu triệu ký tên Kỳ Đồng và Mạc Đĩnh Phúc được bí mật bỏ vào các hòm sắc trong đình, trong đền thờ Thành hoàng với nội dung kêu gọi nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp và lật đổ cái gọi là Nam triều. Tướng lĩnh của phong trào ở các địa phương đều nhận bằng sắc, chức tước của bộ tham mưu này. Một số tài liệu, bằng sắc đã bị tịch thu ở đồn điền Chợ Kỳ trong vụ bắt Kỳ Đồng đêm 22-9-1897.


Trong thư gửi Toàn quyền ngày 15-10-1897 (đã dẫn), Thống đốc Bắc Kỳ gửi kèm theo một số tài liệu, trong đó có “những tấm bằng mang danh nghĩa Kỳ Đồng”. Bức thư viết: “Chỉ có Nhà nước mới được quyền sử dụng hình thức “bằng cấp” như vậy. Nghiêm trọng hơn là đám dân chúng đã đọc hết những tấm bằng đó, và họ bình luận rất bất lợi cho ảnh hưởng của chúng ta”. Về sau, tác giả Daufès cũng ghi nhận rằng Kỳ Đồng và Mạc Đĩnh Phúc đã cấp hơn 3000 bằng sắc, chức tước cho nghĩa quân (Sách đã dẫn). Trên giấy tờ và bằng sắc, các thủ lĩnh nêu mục tiêu “Bình Tây diệt Nguyễn”, còn trong dân gian thì tiếp tục lan truyền những câu thơ của Kỳ Đồng:


“Tây thiên chỉ nhật tảo thanh


Long nhương thủ khởi cốc thành vũ phi…”


(Hẹn có ngày quét sạch giặcTây


Như rồng vươn mình, như chim hồng cất cánh…)


2. Kỳ Đồng và Hoàng Hoa Thám


Thời gian xây dựng đồn điền Chợ Kỳ, Kỳ Đồng đã liên lạc với Hoàng Hoa Thám. Không phải ngẫu nhiên mà địa điểm chọn mở đồn điền của Kỳ Đồng lại chính là vùng Yên Thế. Tác giả Paul Chark đã nhận xét có lý: “Kỳ Đồng lên Yên Thế với danh nghĩa mở đồn điền… Thực ra tiếng tăm của Đề Thám đã cuốn hút anh đến vùng này. Còn phải tìm ở đâu một trung tâm nổi loạn tốt hơn là ngay giữa đám kẻ cướp” (Sách đã dẫn).


Về phía Hoàng Hoa Thám, việc Kỳ Đồng lên Chợ Kỳ mở đồn điền đã hỗ trợ rất nhiều cho cuộc khởi nghĩa của ông. Vẫn ý kiến của P.Chark: “Ngày 22-7- 1897 Đề Thám chạy về Lạng Sơn, bị đội lính của trung úy Morel phục kích và bị thương ở tay phải, lực lượng chỉ còn vài chục tay súng. Liên tiếp bị truy đuổi, Đề Thám dường như kiệt sức. Giữa lúc đó, một tia hy vọng lóe lên: Kỳ Đồng đã đến Yên Thế”. Nguồn tư liệu điền dã cho biết Kỳ Đồng đã ba lần giúp lương thực và tiền bạc cho Hoàng Hoa Thám: một lần giúp 3 nong gạo và 2 thùng bạc trắng, một lần giúp 3 tạ muối, một lần giúp trâu bò, heo gà cho nghĩa quân ăn Tết.


Điều đáng chú ý là trong phong trào di dân lên Yên Thế khoảng giữa năm 1897, bên cạnh hàng ngàn người đến Chợ Kỳ lại có không ít người đến với Hoàng Hoa Thám. Hình như họ đã đồng nhất hai thủ lĩnh làm một, và theo họ thì Chợ Kỳ hay Phồn Xương (bản doanh của Hoàng Hoa Thám) cũng đều là căn cứ chống Pháp. Danh sách những người từ xã Quần Phương Trung (Nam Định) được gửi lên Yên Thế là một trong những chứng cứ phản ánh thực tế này:


+ Trần Huy Luyện, thư ký trong quân doanh Đề Thám.


+ Trân Xuân Đán, thư ký trong quân doanh Đề Thám, ở lầu Dương Liễu.


+ Lê Nguyên Tự, phụ trách kho lương của Kỳ Đồng.


+ Ông Luân và hai người khác (không rõ tên) làm đồn điền cho Kỳ Đồng v.v…


Trước khi ra đi, những người được cử lên Yên Thế đều làm lễ tuyên thệ (Tư liệu của cụ Trần Xuân Hảo ở xã Quần Anh)…


Trong cuốn hồi lý của Péroz có đoạn: “Đề Thám và Kỳ Đồng thường hội kiến bí mật. Đề Thám còn cho quân của y thâm nhập các xóm làng mới lập trong đồn điền Chợ Kỳ…”. Chi tiết này gợi liên tưởng về ngụ ý kín đáo trong điều thứ 5 của bản Nội quy đồn điền (đã dẫn): “Vào rừng đốn cây, khi gặp người cũng đang đốn cây thì phải có thái độ kính trọng, ai gây khó khăn cho họ sẽ bị xử phạt nghiêm khắc”.


Rõ ràng việc Kỳ Đồng xuất hiện ở Yên Thế với đồn điền Chợ Kỳ đã góp phần củng cố lực lượng của Hoàng Hoa Thám, động viên ý chí chống Pháp của nhân dân các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Kỳ: “Nhất ông Kỳ, nhì ông Thám, thứ ba bá hộ Quần Anh (5)”.


Những tư liệu chúng tôi phát hiện tại Kho lưu trữ Aix-en-Provence càng xác nhận sự thật về mối quan hệ giữa Kỳ Đồng và Hoàng Hoa Thám, đồng thời cung cấp những chi tiết mới cần được tìm hiểu thêm. Có lẽ muộn nhất là đến cuối tháng 8-1897, thực dân Pháp đã có những chứng cớ chắc chắn về mối quan hệ này. Bức thư của quan hai Philippeau đề ngày 30-8-1897 gửi Thống sứ Bắc Kỳ đã nói đến việc “Kỳ Đồng bắt liên lạc với Hoàng Hoa Thám qua thư từ cách đây năm, sáu hôm (…), và trái với điều người ta dự đoán, chính Đề Thám sẽ tự mình đến với Kỳ Đồng”.


Khi lấy khẩu cung Kỳ Đồng, sau mấy câu hỏi về lai lịch, thực dân Pháp tập trung vào việc tra hỏi Kỳ Đồng đã liên lạc với Hoàng Hoa Thám như thế nào? Trước sau, Kỳ Đồng trả lời khá nhất quán, muốn cho đối phương phải hiểu như sau:


- Kỳ Đồng chưa hề trực tiếp gặp Đề Thám ở Chợ Kỳ và cũng không rõ Đề Thám ở đâu. Việc liên lạc chỉ tiến hành thông qua các điệp viên của Đề Thám mà thôi.


- Kỳ Đồng đã nhận mấy bức thư của Đề Thám và đã ba lần cung cấp gạo và tiền cho Đề Thám (qua những người liên lạc của Đề Thám), nhưng không hề cung cấp vũ khí.


- Ý định của Kỳ Đồng là tìm cách thuyết phục Đề Thám “quy thuận” mình, cũng tức là quy thuận nước Pháp (!), và đó chính là một lý do quan trọng khiến Kỳ Đồng chọn Chợ Kỳ để hợp tác với bác sĩ Gillard mở đồn điền.


Chắc chắn rằng thực dân Pháp không thể tin những lơi khai như trên của Kỳ Đồng và đã vặn hỏi: “Tại sao Kỳ Đồng không khai báo những sự việc này với ngài sĩ quan đạo binh Yên Thế (ý nói: Péroz), mà cũng không trao đổi gì với Leguern (đại diện của bác sĩ Gillard) vẫn thường có mặt ở Chợ Kỳ?” (6). Kỳ Đồng có lẽ hơi lúng túng trước câu hỏi này, và khai rằng:


- Đã hỏi Péroz có cần giải những điệp viên của Đề Thám đến cho ông không? Péroz trả lời là cần giải chúng đến nhưng Kỳ Đồng không thực hiện được, vì khi sai người đi tìm chúng trong rừng thì không tìm thấy.


- Kỳ Đồng không có ý lợi dụng lúc Leguern vắng mặt ở đồn điền để liên hệ với người của Đề Thám cử đến. Sở dĩ Kỳ Đồng không khai báo mọi chi tiết này vớo quan Tây vì ngại rằng một khi tin tức lan truyền, Kỳ Đồng sẽ khó thực hiện việc bắt Đề Thám “quy thuận” mình. Leguern cũng khuyên Kỳ Đồng như vậy, lại còn bảo với Kỳ Đồng rằng anh ta chỉ vắng mặt ở đồn điền 8 ngày thôi v.v…


            Ngay sau khi bị bắt, trong bức thư gửi bác sĩ Gillard, Kỳ Đồng nhắc lại sự việc này và tỏ ra “ân hận” về sự khinh suất của mình, do trót nghe lời khuyên của Leguern (!). Khẩu cung Kỳ Đồng ghi thêm vài chi tiết: một lần, có người tự giới thiệu là lý trưởng làng Van Can (?) đến gặp Kỳ Đồng; sau khi khách ra về, Kỳ Đồng mới biết đó là Đốc Bình, một tùy tướng của Đề Thám. Đốc Bình hỏi: Đề Thám đã đến gặp Kỳ Đồng chưa? Kỳ Đồng trả lời: nếu Đề Thám chịu đến quy thuận tôi, tôi sẽ thết ông ta một bữa cơm thịnh soạn. Một lần khác, vào buổi tối, một người mặc quần áo lính với tư cách lính đồn Bố Hạ, mang thư của Đề Thám đến, nói rằng ông ta rất qúy trọng Kỳ Đồng, sẽ đến với Kỳ Đồng. Kỳ Đồng bèn viết thư trả lời rằng: nếu Đề Thám đến trình diện Kỳ Đồng với tư cách “người nhà quê” bình thường thì Kỳ Đồng sẽ chấp thuận sự quy thuận của ông ta. Sau đó, Đốc Bình cùng 19, 20 tay súng lại đến Sông Sỏi mang theo thư Đề Thám hứa sẽ đến trình diện Kỳ Đồng trong vòng 10 ngày tới, với tư cách “nhà quê”. Trước sau, Kỳ Đồng nhận được hai bức thư của Đề Thám và đã đốt đi.


            Trong Khẩu cung, Kỳ Đồng cũng thừa nhận đã 3 lần cấp gạo cho người của Đề Thám, thậm chí còn nói rõ từng trường cụ thể: lần thứ nhất giao cho liên lạc của Đề Thám, lần thứ hai giao cho mấy người em rể của Đề Thám, lần thứ ba họ lại đến nhận gạo vào ngày 13-9.


            Khi được hỏi có bao giờ Kỳ Đồng ngủ qua đêm ở ngoài đồn điền không, Kỳ Đồng trả lời: đêm nào Kỳ Đồng cũng ngủ trong đồn điền Chợ Kỳ. Có những lần Kỳ Đồng đến thăm vị trí A (?) và các làng khác nhưng đến tối lại trở về, mà lý do đơn giản là “nếu không ngủ trong đồn điền mà lại ngủ nơi khác thì làm sao có thể tiếp những người của Đề Thám cử đến (!)”.


            Những lời khai của Kỳ Đồng vừa có vẻ nghiêm chỉnh lại vừa khiên cưỡng; và có lẽ thực dân Pháp cũng không khai thác đươc điều gì xét ra bất lợi cho Đề Thám cũng như cho bản thân Kỳ Đồng. Nhưng vấn đề là Kỳ Đồng đã bị bắt mang đi khỏi Bắc Kỳ, nghĩa quân trong đồn điền phân tán thành nhiều mảng, và Đề Thám đã mất đi một chỗ dựa hết sức quan trọng giữa lúc thực dân Pháp đang truy đuổi ráo riết các tướng lĩnh và nghĩa quân của ông.


            Sau khi Kỳ Đồng bị bắt, một bộ phận lớn những người ở đồn điền Chợ Kỳ kéo nhau trở về các tỉnh đồng bằng theo nhiều tốp nhỏ và bằng nhiều ngả. Qua nguồn tin của mạng lưới mật thám thì cuộc rút về xuôi này “không phải là một sự tan rã tự phát mà xem ra có tổ chức và có mục đích”.


           Theo báo cáo của điệp viên được cài lại trong đồn điền Chợ Kỳ thì đến cuối tháng 10-1897, “trong đồn điền còn lại khoảng 300 người” dưới sự chỉ huy của Lý Nho (?) “một viên đội lính cơ cũ”. Bản báo cáo cung cấp những số liệu cụ thể:


“Ở làng Nhất (tức đồn Nhất ) còn 50 người do Đức Thiêm chỉ huy.


“ Ở làng Nhì còn 20 người, hàng ngày vẫn đến Chợ Kỳ làm ruộng.


“ Ở làng Ba còn 60 người, có 2 phụ nữ.


“ Ở làng Tư còn 40 người, 10 con trâu; vẫn tiếp tục cày ruộng.


“ Ở Đồn Đền còn 20 người, 3 con trâu, có một bà già. Họ đang tiếp tục cuốc vườn.


“ Ở Kim Sơn còn 20 người, 3 con trâu, cũng đến Chợ Kỳ làm ruộng”.


            Có thể số người còn lại ở đồn điền Chợ Kỳ vẫn tiếp tục liên lạc với Đề Thám. Nhưng sang đầu tháng 11-1897, khi mật thám phát hiện “những hầm trốn ẩn của Đề Thám ở gần làng (trong đồn điền)” thì hầu hết số người còn lại ở Chợ Kỳ “đã di chuyển một cách vội vàng (…); có 6, 7 lần di chuyển như vậy trong một ngày” (Kho lưu trữ ở Aix… - GG-6201).


            Báo cáo ngày 4-1-1897 của viên chỉ huy đồn Bố Hạ cho biết: “Ngày hôm nay đã có một đám “nhà quê” rời Chợ Kỳ về đồng bằng, một số đi qua Bố Hạ, phần lớn đi qua Lang Nua (?). Chiều nay còn ngót 60 người ở Chợ Kỳ. Dân trong đồn điền nói dứt khoát rằng: chúng sẽ về đồng bằng nếu trong vòng mươi lăm ngày tới Kỳ Đồng không trở lại đây” (Ký hiệu lưu trữ đã dẫn).


---------------


(1) Paul CHARK – Hoang Hoa Tham pirate – Hanoi 1909-1910, Paris, Septembre 1933.


(2) Tư liệu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình.


(3) Toàn văn Bản án được đăng trên báo L’Avenir du Tonkin, số ra đầu tháng 12-1897.


(4) Nguyễn Bá Ôn: Theo Thái Bình thông chí của Phạm Văn Thụ, ở mục “Giảo tăng cuồnng thuật” (thuật dối của nhà sư) có đoạn:“xã Nguyệt Lâm, huyện Vũ Tiên có tên Nguyễn Bá Ôn tự xưng kà Thiên thần giáng sinh, địa vị ngồi trên các vị thành hoàng. Các nơi, hễ đến đâu là ma qủy dịch lệ đều khiếp phục, nhân dân đều tranh nhau đem cờ trống đến rước… Y giả dạng làm ra vẻ bí mật qủy thần, đến đình làng nào thì giả cách nói chuyện với Thành hoàng ở đấy. Tháng 9 năm Thành Thái thứ 9 [1897], y đến chùa Đông Trung, huyện Trực Định, đàn ông đàn bà xin theo phù ấn… Năm ấy, nhà sư Lãnh Đông, huyện Trực Định mở hội ba ngày, nhân đêm 25 tối trời, Bá Ôn triệu tập dân các xã, dùng bùa thuốc bằng bột xanh xoa lên ngực và sau lưng mọi người và cấp cho mỗi người một thẻ tre có viết chữ “Mạc thiên binh” đeo ở trước ngực. Y dặn rằng: đeo bùa này thì súng đạn không thể giết được, mỗi người chỉ cần một gậy tre dài 5 thước, còn có thiên binh giúp sức. Rồi nhân ban đêm, về lấy tỉnh thành”.


Đến tháng 10 năm Thành Thái thứ 9, tỉnh Hải Dương bắt được giặc Mạc Đĩnh Phúc, xét trong hồ sơ của giặc có tên Nguyễn Bá Ôn, công sứ David sức nã bắt rồi đem chém đầu” (Bản dịch của Sở VVTT Thái Bình).


            Trong bức điện của Công sứ Thái Bình gửi Hà Nội (5-1-1898) có đoạn: “Tên Nguyễn Bá Ôn không chịu đầu thú; vậy yêu cầu đưa về Hải Dương để đối chiếu với danh sách họ Mạc và các đồng đảng của hắn… Tên này nổi tiếng về pháp thuật và tôi lo ngại ảnh hưởng sẽ lan rộng, vì hình như bọn binh lính rất sợ phù phép của y” (Cục lưu trữ Phủ Thủ tướng, Ký hiệu: F.7-21115 – Luận văn đã dẫn).


(5) Bá hộ Quần Anh tức Trần Hữu Giảng ở huyện Hải Hậu (Nam Định), trong nhóm văn thân ở xã Quần Anh. Năm 1897, ông bắt liên lạc với Kỳ Đồng ở Yên Thế, đồng thời cử người lên tăng cường lực lượng của Hoàng Hoa Thám.


(6) Đối chiếu các tài liệu của mật thám thì ít nhất đã có 3 người Pháp (kể cả Gillard và Leguern) đã đến Chợ Kỳ với tư cách những người cộng tác của Kỳ Đồng.


(còn tiếp)


Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn. Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.



www.trieuxuan.info



 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »