V. KỲ ĐỒNG LƯU ĐÀY BIỆT XỨ
VỤ ÁN KỲ ĐỒNG
Ngày 21-9-1897, một ngày trước khi Kỳ Đồng bị bắt, mật thám phát hiện: “Vào 1 giờ trưa, người của Kỳ Đồng đang khẩn trương dỡ những kiện hàng dài bó chiếu nhưng vẫn để lộ ra những nòng súng xếp chéo”. Với phát hiện này, hình như thực dân Pháp thấy đã tạm đủ bằng chứng về “căn cứ trá hình” Chợ Kỳ cũng như sự liên hệ giữa Kỳ Đồng với Hoàng Hoa Thám và xét thấy đã đến lúc chấm dứt vai kịch “ông chủ đồn điền” của Kỳ Đồng.
Về sau, trong Biên bản ghi cuộc đối chất với bác sĩ Gillard, Péroz cho rằng: “Đúng là trong đồn điền không tích trữ súng ống, có thể là như vậy, vì thuyền bè ngược sông Sỏi đều bị các đồn binh kiểm soát nghiêm ngặt. Thế nhưng chỉ cần vài ba thuyền nhỏ chở vũ khí lọt qua được các đồn kiểm soát tiến về sông Sỏi, thì chỉ trong một đêm mọi người trong đồn điền (trong đó có nhiều lính tập, lính cơ giải ngũ) sẽ được vũ trang đầy đủ và chiếm ngay đồn Bố Hạ một cách dễ dàng” (Kho lưu trữ ơ Aix.. – F.68-56390).
Trên thực tế, Péroz đã phần nào nắm được tình hình trong đồn điền qua mấy lần đến thăm, mặc dầu Kỳ Đồng khéo léo đánh lạc hướng quan sát của Péroz: “Anh ta đưa tôi xem bản đồ: đây là những xóm làng, những bến thuyền trên sông Sỏi, những tuyến đường, kia là vùng thu hoạch hoa quả, những loại cây trồng, những nơi khai thác lâm sản có thể tiến hành ngay. Kỳ Đồng không để lộ một nhầm lẫn, sơ hở nào trong khi thuyết trình”. Và Kỳ Đồng cũng thường đến chỉ huy sở của Péroz, “mặc Âu phục, đi giày bốt, y như một nhà thực dân” (Hồi ký của Péroz, đã dẫn).
Thi hành lệnh của Toàn quyền Doumer, viên chỉ huy đạo binh Yên Thế bí mật bố trí bắt Kỳ Đồng ngay trong căn cứ Chợ Kỳ vào đêm 22-9-1897. Nghĩa quân chưa kịp thiêu hủy hết những tang chứng cần thiết, nên Péroz đã thu được nhiều tài liệu, tiền bạc, vũ khí, kể cả một “bản danh sách nhân sự trong bộ máy chính quyền tương lai của Kỳ Đồng gồm bộ trưởng, tướng soái, quan lại… và một bản tuyên cáo về một cuộc nổi dậy đồng loạt”.
Trong báo cáo gửi Bộ trưởng Thuộc địa (25-11-1897), Toàn quyền Doumer viết: “Tôi ra lệnh bắt Kỳ Đồng ngay tại chỗ và chở đi Sài Gòn trên một chiếc tàu đang chuẩn bị nhổ neo, lại bắt giữ tất cả lý trưởng các làng trong khu vực đồn điền. Việc bắt giữ đột ngột này được viên chỉ huy đạo binh Yên Thế tiến hành chính xác tuyệt vời. Kỳ Đồng bị bắt vào ban đêm, được đưa lên một chiếc thuyền máy chờ sẵn ở Phủ Lạng Thương để chở ra Hải Phòng. Sáng hôm sau, lý trưởng các làng đều bị giam giữ ở đồn binh Nhã Nam. Số tiền hơn 20.000 đồng do Kỳ Đồng thu góp đã bị tịch thu”.
Péroz tường thuật khá chi tiết vụ bắt Kỳ Đồng: “Hầu như ngày nào cũng vậy, tôi đều báo cáo cho chính quyền địa phương biết rõ hoạt động của những nhà khẩn điền giả hiệu của tôi. Tôi vạch rõ những chi tiết của một tổ chức đang hình thành. Sau mỗi lần như vậy, tôi lại kết luận phải cho phép tôi đập vỡ quả trứng ngay trong tổ của nó (…). Hồi 1 giờ trưa, người của Kỳ Đồng tíu tít dỡ những kiện hàng bó chiếu (…)”.
Péroz liền báo về Hà Nội và 10 giờ đêm hôm sau y triệu tập sĩ quan ra huấn thị rồi đem một trung đội bộ binh đến đồn điền Chợ Kỳ. Péroz cưỡi con ngựa bắt được của Đề Thám, lại mang theo một con ngựa đóng sẵn yên cương cùng 4 kỵ binh vào gặp Kỳ Đồng, lấy cớ “vừa nhận được điện khẩn của ngài Thống sứ”.
Đêm đó trời mưa xối xả, “Kỳ Đồng đi qua chiếc cầu tre bắc qua hào, một tay nâng tà áo trắng, một tay vuốt ve bờm con ngựa của tôi. Đối diện với tôi chỉ có một mình Kỳ Đồng, hai tên đầy tớ mang đèn đi theo đứng tránh mưa ở hiên nhà”.
Péroz nói: “Kỳ Đồng! Ta phải đến Nhã Nam ngay lập tức! Không được lên tiếng, nếu không sẽ chết ngay!”. Kỳ Đồng trả lời: “Thiếu tá! Tôi e ngài đã bị cuốn hút vào một việc làm bẩn thỉu”. Nghe Kỳ Đồng trả lời, “tôi không ngạc nhiên, vì đây lại là một bằng chứng cho thấy cái anh chàng An Nam này am hiểu kỳ lạ về nền cai trị của người Pháp…” (Hồi ký đã dẫn).
Từ Phủ Lạng Thương ra Hải Phòng, Kỳ Đồng được giải đi trên chiếc tàu “Querné” vào sáng 24-9-1897. Trong báo cáo gửi Thống sứ Bắc Kỳ (27-9), viên thuyền trưởng Buisson tường thuật cuộc áp giải Kỳ Đồng ra Hải Phòng: “Chúng tôi đến Phủ Lạng Thương sáng thứ sáu 14-9 vào lúc 5 giờ 45 phút. Ngay sau khi cập bến, tôi nhận được điện tín của Ngài. Viên chỉ huy đội áp giải với 3 sen đầm đã đến bàn giao tù nhân. Hồi 6 giờ 45 phút, tù nhân lên tàu. Tôi lập tức mở máy cho tàu chạy về Hải Phòng. Hồi 9 giờ qua Phả Lại, 12 giờ 45 phút đến Hải Phòng và được tin tàu “Tamise” đã đi ra bến Hòn Gai. Tôi lại lập tức cho tàu ra khơi và bố trí việc kiểm soát phía ngoài”.
Bản tường trình viết tiếp: “Thời gian trên tàu, tù nhân không giữ được im lặng nữa. Anh ta chẳng còn biết trò chuyện với ai, ngoài mấy lính sen đầm và tôi. Tôi bố trí anh ngồi giữa phòng khách để tiện cho lính gác theo dõi. Theo lệnh Ngài, tôi đã cho anh ăn uống. Khi được hỏi có muốn ăn theo lối Âu không, anh ta trả lời viên chỉ huy đội áp giải rằng anh không dám yêu cầu nhưng rất thích. Và anh đã ăn uống như chúng tôi, cám ơn rất lịch sự về sự quan tâm của tôi” (Kho lưu trữ ở Aix… - GG-6201).
Từ Hải Phòng, Hòn Gai, Kỳ Đồng bị đưa ngay vào Sài Gòn. Thống sứ Bắc Kỳ đề nghị Toàn quyền: “Từ lâu tôi đã nghi ngờ Kỳ Đồng, vì vậy ngay sau khi anh ta bị bắt, tôi đã giao nhiệm vụ canh giữ anh cho lính Pháp và nghiêm cấm mọi tiếp xúc của anh với người bản xứ. Tôi yêu cầu Ngài ra lệnh cho Sài Gòn bí mật giam anh ta trong ngục”.
Bị lưu giữ ở Sài Gòn khoảng 3 tháng, đầu năm 1898 Kỳ Đồng bị đem đi đày biệt xứ. Sau một thời gian ở Nouvelle Calédonie, theo lệnh Bộ trưởng Thuộc địa, Kỳ Đồng lại bị đưa ra Tahiti thuộc quần đảo Polynésie rồi lại chuyển sang quần đảo Marquises (vẫn thuộc Polynésie) khoảng 10 năm. Cuối cùng, năm 1911, Kỳ Đồng lại được chuyển về Tahiti cho đến chết.
Ngày 24-1-1898, Toàn quyền Doumer ký quyết dịnh “đưa Kỳ Đồng đến một nơi thật cách biệt với Đông Dương để y không còn khả năng trù tính bất kỳ một âm mưu nào khác”.
Một tài liệu khác: lúc đầu Toàn quyền Đông Dương quyết định đày Kỳ Đồng sang Guyane thuộc Pháp, sau đó lại theo quyết định của Bộ trưởng bộ Thuộc địa, chuyển Kỳ Đồng ra Tahiti.
Công văn của Bộ trưởng Thuộc địa (26-6-1899) gửi Toàn quyền Đông Dương: “Người An Nam tên Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng trước đây tạm phát lưu ở Nouvelle Calédonie, nay đã được chuyển đến Tahiti. Anh đi trên tàu “Aviso” của nhà chức trách, rời Nouméa ngay 5-5 vừa qua để đến Papeete” (Kho lưu trữ ở Aix… - GG-47521).
Như vậy, sau khi bắt Kỳ Đồng, thực dân Pháp vội vàng chở ông vào Sài Gòn mà không đưa ra tòa án xét xử, nhằm bưng bít dư luận đề phòng phản ứng của dân chúng. Sự đề phòng này là có cơ sở, vì khi nghe tin Kỳ Đồng bị bắt và đem đi một cách bí mât, vội vã, trong dân gian các tỉnh Bắc Kỳ lan truyền nhanh chóng nhiều “chuyện lạ” về Kỳ Đồng, thể hiện sự ngưỡng mộ người thủ lĩnh “bất tử” cũng như sự bất bình của dân chúng trước kiểu bắt người lén lút của “chính phủ bảo hộ”, chẳng khác nào một vụ bắt cóc.
Trong khoảng tháng 10-1897, điệp viên các vùng phụ cận Hà Nội liên tiếp báo về những tin đồn làm xôn xao dư luận.
Ngày 15-10, điệp viên ở Thanh Oai và Chương Mỹ cho biết: “Dân An Nam ở nhiều làng nói rằng người Pháp sẽ mang Kỳ Đồng về Hà Nội cho công chúng xem mặt. Ai muốn đi thăm Kỳ Đồng, khi đến cửa ô phải nhận một tấm thẻ. Gặp cảnh binh kiểm soát mà không có thẻ sẽ bị bắt giữ và hạ ngục 3 tháng. Lại có tin đồn rằng: ngày 28 âm lịch tháng này (23-10-1897) sẽ có một cuộc thi tài giữa Kỳ Đồng và người Tây. Nếu người này ném một hòn đá xuống nước mà hòn đá vẫn cứ nổi lềnh bềnh thì người kia (ý nói Kỳ Đồng) tài hơn: ném một chiếc bong bóng xuống nước, bong bóng lập tức chìm nghỉm”.
Cùng ngày, điệp viên ở Vân Đình báo rằng: “Ban đêm tôi ngủ trong quán trọ nghe đồn có cô vợ một người bếp lính tập kể rằng Kỳ Đồng bị Tây bắt nhưng đã được trả về Bắc Kỳ. Về đến nơi, Kỳ Đồng dùng phép thuật làm cho tất cả lính tráng đứng đờ người như tượng gỗ trong khi quan Công sứ đi duyệt binh. Quan sứ bắt Kỳ Đồng nhốt vào cũi sắt nhưng Kỳ Đồng đã biến mất, sau đó bỗng xuất hiện trước đội pháo binh. Một người lính trông thấy, lên đạn nhắm Kỳ Đồng bóp cò nhưng Kỳ Đồng không chết. Ngay sau đó người ta phát hiện một nửa số súng trong kho cũng đã biến mất. Người Tây lại bắt giữ Kỳ Đồng một lần nữa, đem chôn xuống đất nhưng khi đào lên thì Kỳ Đồng vẫn sống nhăn! Lại nghe đồn rằng: hồi Kỳ Đồng đi mở đồn điền, có một quan ba đi theo đến bờ sông trưng dụng một thuyền máy cho Kỳ Đồng qua sông, nhưng Kỳ Đồng khước từ thuyền máy và qua sông trên một chiếc đĩa!”.
Tin báo của điệp viên ở Chợ Canh: “Người ta kháo nhau rằng các công sở ở Hà Nội đều phải đóng cửa cho đến mồng một âm lịch tháng sau, vì Kỳ Đồng đã dùng phép thuật tắt hết đèn lửa suốt ngày đêm để tỏ cho Tây biết tài lạ của mình (Kho lưu trữ ở Aix…- GG-6201).
Những tin đồn tương tự cũng được điệp viên nhiều nơi khác báo về trung tâm mật thám trong thời gian này.
Ngày 15-10-1897, điệp viên Dang Dinh Ba từ huyện Thanh Trì cho biết: “Ngày 12-10, khi đi qua phía trên làng Tứ Kỳ có mấy người An Nam bảo rằng đêm 15 âm lịch tháng này xuất hiện một cầu vồng ở phía đông, đó là điềm báo người Tây sẽ rút hết về nước”.
Điệp viên Dinh từ phủ Hoài Đức báo về: “Người ta đồn rằng ngày 17 tháng này Kỳ Đồng đã bắc một chiếc cầu bằng giấy ngang qua sông Hồng để về Hà Nội dự một bữa tiệc. Nhưng người ta lại thầm thì: đã có lệnh cấm không được nói đến Kỳ Đồng, không được loan truyền những tin thất thiệt”.
Ngày 24-10-1897, điệp viên Nguyen Van Hoi từ Phú Xuyên báo rằng: ở Quán Cháo làng Ha Vy người ta đồn: tại một ngôi chùa trong làng có vị thuốc của Kỳ Đồng (gọi là “thuốc tiên”) và bảo nhau phải giữ bí mật vì quan phủ đã có lệnh cấm loan truyền tin này”.
Trong bức thư mật Công sứ Hải Dương (Robineau) gửi Thống sứ Bắc Kỳ cũng nhắc đến việc “một số người tin rằng Kỳ Đồng có phép tái sinh, nhưng số đông thì tin rằng Kỳ Đồng đã vượt ngục trở về đây và chính phủ bảo hộ chẳng có cách nào chặt được đầu anh ta, vì hễ chặt đầu thì trên vai anh lại mọc ngay một đầu khác” (Kho lưu trữ ở Aix… - GG-6069).
TRANH DÂN GIAN VỀ KỲ ĐỒNG
(ĐẦU THẾ KỶ XX)
Kỳ Đồng bị hạ ngục, nói năng ngạo nghễ, quan tỉnh đường nghị án, đem Kỳ Đồng ra góc thành mà bắn. Khi phát pháo, cậu bé có phép thuật làm cho ban ngày trở nên tối mịt khiến chẳng thấy đâu mà bắn.
TRANH DÂN GIAN VỀ KỲ ĐỒNG
(ĐẦU THẾ KỶ XX)
Kỳ Đồng phạm tội phản nghịch; quan đầu tỉnh Nam Định cùng với quan Công sứ Pháp họp nhau nghị án, bèn đem chôn sống, song cậu vẫn sống lại.
Kỳ Đồng phạm tội phản nghịch bị chôn sống, việc ấy xẩy ra từ lâu. Một đêm, khi trời vưa bừng sáng, chợt cậu bé sồng sộc đi vào tỉnh đường. Quan đầu tỉnh hỏi: “Mày từ đâu đến ?”. Cậu bé đáp lời: “Từ trong mồ đến”. Thấy cậu bé đi một chiếc giày, quan đầu tỉnh bèn ra vế đối: “Đầu che bốn lọng”. Cậu bé liền ứng khẩu đáp: “Chân đi một giày”.
Mãi đến ngày 4-12-1898, để trấn an dư luận, thực dân Pháp buộc phải lập tòa án xét xử những “đồng đảng” của Kỳ Đồng. Thực dân không dám tổ chức phiên tòa ở Hà Nội, cũng không dám đưa Kỳ Đồng ra trước tòa, chỉ kết án vắng mặt như sau: “Những bản hiệu triệu, mệnh lệnh và thư tín do các nhà chức trách của đạo binh Yên Thế bắt được qua nhiều vụ lục soát ở Chợ Kỳ và các làng lân cận chứng tỏ rằng Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng đã tìm cách kích động dân chúng Bắc Kỳ chống vua Thành Thái và người Pháp bảo hộ triều đình, đã tổ chức lực lượng vũ trang riêng…” (Bản án đã dẫn).
Sau đây là vài đoạn trích nguyên văn Bản án:
“Tòa án hỗn hợp tại đạo binh Yên Thế,
Bản án số 8, ngày 4-12-1897
(tức ngày 11 tháng 11 năm Thành Thái thứ chín)
“Tòa án hỗn hợp tại đạo binh Yên Thế đã nhóm họp chiểu theo các đạo dụ, các thông tư hiện hành và theo bức thư của Ngài Thống sứ Bắc Kỳ đề ngày 30-11-1897 gồm các vị:
- Ngài trung tá Péroz, chỉ huy đạo binh Yên Thế.
- Ngài Tran Van Uong, chánh quản đạo Yên Thế,
chủ tỉnh người bản xứ.
- Ngài Vi Viet Tinh, phó quản đạo Yên Thế,
giữ chức quan án.
Xét xử tội nổi loạn các tội phạm sau đây:
1/ TRAN VAN VINH, biệt danh Ong-cu-cai-luong-han, 53 tuổi, ở làng Lương Hàn, huyện Thuoc Minh, tỉnh Nam Định, cày ruộng, cựu chánh tổng Luong Hao.
2/ NGUYEN VAN CHUAN. Biệt danh Ong-cu-hai, ở làng Ngọc Quế, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, giáo học (vắng mặt).
3/ NGUYEN DINH TAU, biệt danh Ly Than, ở làng Ngọc Đình, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, cựu lý trưởng (vắng mặt).
4/ NGUYEN VAN KHIEM, biệt danh Ni Khiem, làng Dưong Liễu, tỉnh Thái Bình, nho sinh (vắng mặt).
5/ NGUYEN NGOC CHUC, biệt danh Chánh Chức, ở làng Việt Yên, huyên Phu Bo, tỉnh Hưng Yên, 40 tuổi, cựu chánh tổng Vang Phan.
6/ NHU DOAN, ở làng Khanh My, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Binh, điền chủ (vắng mặt).
7/ PHAM VAN TAI, ở làng My Khê, huyện Nang Yen, tỉnh Hải Dương, 31 tuổi, nho sinh.
8/ CONG HUU TINH, tức Quang Tinh ở làng Nam Am. Huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, 44 tuổi, thầy lang.
9/ PHAM VAN TUY, ở làng Ninh Cương, huyện Tuy Ninh, tỉnh….
10/ NGUYEN THI CUNG, tức Trung Cung, ở làng Ninh Cường, huyện Trực Ninh, tỉnh Thái Bình, 39 tuổi, điền chủ.
11/ LÊ QUANG HUY, tức Nhi Huy,ở làng Dương Liễu, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình, 60 tuổi, giáo học.
12/ PHAM DINH TUAN,ở làng My Khê, huyện Nang Yên, tỉnh Hải Dương, 30 tuổi, nho sinh.
13/ NGO VAN CHUONG, ở làng Nam Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, 40 tuổi, giáo học và điền chủ.
14/ DINH THUC QUANG, tức Bang Cui, ở làng Que Lam, huyện Phu Bo, tỉnh Hưng Yên, 30 tuổi, nho sinh, buôn bán.
15/ BUI CU TONG, tức Quản sư, ở làng Hai An, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, 36 tuổi, nho sinh.
16/ DANG QUANG THANH, ở làng Trà Phương, huyện Nghi Dương, tỉnh Hải Phòng, 23 tuổi, nho sinh.
17/ LE VAN THI, ở làng Quang Xuyên, huyện Đông Yên, tỉnh Hưng Yên, 30 tuổi, buôn bán, cựu lý trưởng.
18/ DAO VAN TRAC, ở lang Cu Dzu, huyện Van Lan, tỉnh Hưng Yên, 41 tuổi, điền chủ.
19/ HOANG DUY LANG, ở làng Trung Hao, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, 40 tuổi, điền chủ, cựu lý trưởng.
20/ PHAN DUY DIEN, ở làng Nội Bàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, 52 tuổi, điền chủ, cựu phó lý.
21/ PHAM CHUNG CHUOC, ở làng Yen Bo, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, 45 tuổi, điền chủ, cựu phó tổng.
22/ NGUYEN CHI THANH, ở làng Phuong Man, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Binh, 37 tuổi, điền chủ, cựu phó lý.
Bản án quyết định: “Đày chung thân ra khỏi lãnh thổ Đông Dương” 9 người và tịch thu toàn bộ tài sản.
Nhưng mãi đến ngày 21-4-1898, Toàn quyền Doumer mới ra quyết định chính thức đem đi đày 5 người trong đợt đầu tiên:
“Điều I: Các tên Trần Văn Vinh, Phạm Văn Tài, Lê Quang Huy, Bùi Cự Tòng và Đặng Văn Thành bị kết án đày chung thân (…) phải chịu án tại Nouvelle Calédonie (1).
“Điều 2: Những tội phạm trên phải được đưa ngay ra Côn Đảo để chờ giải đến nơi lưu đày”.
Khi đến Nouvelle Calédonie, những người này cùng ở một nơi với Kỳ Đồng cũng vừa bị đưa ra đây. Họ “được phép” gửi thư về cho thân nhân ở quê nhà, nhưng trong thực tế các thư này đều bị mật thám giữ lại để khai thác điều tra, thân nhân của họ chưa hề được nhìn thấy.
Chúng tôi sưu tầm được 8 bức thư sau đây của những ngươi lưu đày tại Nouvelle Calédonie:
1/ Bui Cu Tam (hay Tong ?) quêở làng Hải An, tiên Lữ, Hưng Yên gửi Bùi Văn Trạm (cùng quê).
2/ Trần Văn Vịnh, quê ở làng Lương Hàn, Trực Ninh, Nam Định, gửi cho con là Trần Văn Toản.
3/ Le Quang Huy, quê ở làng Dưong Liễu, Vũ Tiên, Thái Bình, gửi Lê Văn Cân (cùng quê).
4/ Nguyễn Văn Mai, quê ở làng Phương Man, Thụy Anh, Thái Bình, gửi cha là Nguyễn Văn Thu.
5/ Đặng Văn Thành, quê ở làng Trà Phương, gửi cho ba người anh em là Đặng Văn Can, Đặng Văn Bộ và Đặng Văn Tăng.
6/ Nguyễn Văn Thọ, quê ở làng Phưong Man, Thụy Anh, Thái Bình, gửi mẹ và gia đình.
7/ Phạm Văn Tài, quê ở Mỵ Khê, Lang Yên, Hải Dương, gửi chú Ba tức Vũ Văn Hệ (cùng quê).
8/ Trần Văn Bang (tức Nguyễn Văn Tiên), quê làng Phương Man, Thụy Anh, Thái Bình, gửi em là Trần Đăng Kỳ.
Một điều thật cảm động là trong hầu hết các bức thư, những người tù “biệt xứ” đều tha thiết xin thân nhân gửi cho họ các trang phục dân tộc. Đại để: “Chính phủ Pháp đã rộng lòng cấp cho chúng tôi nơi ở, thức ăn và quần áo. Nhưng để đỡ nhục nhã, thỉnh thoảng tôi vẫn cần ăn mặc theo lối ta. Vậy tôi thiết tha xin bà con bên nội bên ngoại và bằng hữu thân tín hãy thương tôi, gửi ngay sang cho tôi một cái khăn nhiễu, một đôi áo the, một đôi quần vải, một đôi giày…” (Thư của Trần Văn Bang, quê Thái Bình). Hoặc: “Chính phủ Pháp đã cấp cho chúng tôi giày mũ và áo quần Tây. Nhưng trong thâm tâm tôi luôn nhớ về quê cha đất tổ… Tôi muốn có áo quần, khăn và giày của ta, và phải là loại thật tốt. Vậy chú cố gắng gửi sang cho tôi dùng” (Thư của Phạm Văn Tài, quê Hải Dương).
Sau đây xin dẫn toàn văn bức thư của Phạm Văn Tài (viết chữ Hán; chúng tôi đã nhờ GS. Nguyễn Tài Cẩn đọc và dịch – Xin xem Ảnh chụp bức thư):
“Ducop, ngày 28 tháng 11 năm 1898,
Hoa mai vừa nở, đàn chim nhạn bay thành hàng, gió bấc thổi về, ở nơi xa xin kính chúc bình an.
Kính chúc cha mẹ thẻ hạc thêm xuân, thẻ rùa thêm đậm. Xin chúc nội ngoại, anh em, bạn bè cùng cháu chắt và vợ con được vạn sự bình an thì tôi yên tâm lắm.
Tháng 3 năm trước, quan Tây đem bọn tôi gồm 8 người đi sang các xứ Toulon rồi Marseille. Bảy tám tháng nay chúng tôi vẫn bị xiềng xích cực khổ lắm. Nay quan Tây đã đưa bọn tôi sang nước Úc, trú tại thành Caledonie, được cùng ở một nơi với ông Kỳ Đồng, được phép vào ra đi lại, lại có lòng tốt mua cho mũ, áo, giày, khăn, đối đãi tử tế, không có phân biệt với người Tây. Nhưng trong thâm tâm tôi luôn nhớ về quê cha đất tổ, chỉ muốn được trở về cố quốc, nếu được quan Tây cho về thì chúng tôi cảm ơn vô cùng.
Mong cha mẹ, vợ con và các cháu yên tâm, đừng lo lắng vì tôi còn cách xa biệt xứ. Áo quần Tây có đầy đủ, nhưng tôi muốn có quần áo, khăn và giày của nước Nam, và là loại tốt nhất, không phải loại bình thường, được như vậy thì tốt quá!
Vài ba tháng một lần, ở nhà viết thư sang cho tôi, để tôi được biết ở nhà có bình yên không. Được như vậy thì tôi sung sướng lắm! Thư bất tận ngôn!
Khi thư về đến nơi, chú Ba Nghi đến ngay Ngọc Đình, trước hết thăm hỏi Bà Cụ cùng gia quyến bình an, sau đến thăm ông Nhị Cai hỏi xem sự thể ra sao. Thư này đến nơi, xin nhờ chú Ba Tuân mang thư nhà và các thứ gửi cho tôi đến làng Ngọc Đình, gộp chung thư từ và đồ vật của tất cả 8 người chúng tôi, để ông Nhị Cai đem đi Hà Nội gửi một lần luôn thể”.
Sau đây là mấy bức thư khác:
Thư của Bùi Cự Tẩm (Tòng ?) gửi Bùi Văn Trạm, làng Hải An, tỉnh Hưng Yên,
Ducop, ngày 28-11-1898
Tôi tên la Bùi Cự Tẩm, ở làng Hải An, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, gửi nhời về hỏi thăm bố mẹ vợ con anh em đều được bình yên, bởi tôi bây giờ ở nước này Nouvelle Caledonie mấy được bình yên. Người nhà nên gửi cho tôi quần áo ít nhiều đồng bạc thì tôi mừng lắm. Bùi Cự Tẩm.
Thư của Trần Văn Vinh (Cụ Cai Lương Hàn) gửi con là Trần Văn Toản ở làng Lương Hàn, tỉnh Nam Định,
Ducop, ngày 20-11-1898,
Tôi là Trần Văn Vinh, tỉnh Nam Định, Phủ Xuân Trang, huyện Trực Ninh, tổng Văn Lãng, làng Lương Hàn…[bản gốc bị mờ] … lại được ở cùng với ông Kỳ Đồng trong một sở … Đương tôi bây giờ có thư gửi về cho vợ con gửi cho tôi quần áo tiên bạc ít nhiều, gửi sang cho tôi thì đem tại Ngọc Đình, trình Bà cụ Đồ giao ông Lý Thấu cùng ông Nhị Cai gửi sang cho ở nơi gọi là Nouvelle Calédonie, cùng đồ vật anh em 8 ngươi mà gửi sang, ấy là mấy lời xin nhận cho … Trần Văn Vinh.
(Qua điều tra, Công sứ Hưng Yên báo cáo lên Thống sứ rằng: Lý Thấu là chú của Kỳ Đồng, cũng ở làng Ngọc Đình, nhiều lần đi về đồn điên của bác sĩ Gillard ở Yên Thế).
Thư của Đặng Văn Thành (làng Trà Phương):
Tôi có lời kính thăm ông bà với mẹ với anh em họ đương và cậu Lý, cậu Thông, anh Trửng Tằng, ông khóa Bộ, thím Hương, các chúng em được mạnh khỏe bình an, tôi mừng lắm. Bởi tôi lên làm việc ở Nhã Nam, quan Tây đem ông Kỳ Đông với anh em chúng tôi 8 người về bên Tây từ hôm mồng hai tháng ba năm này, bây giờ ở tỉnh Saint Martin de Ré mới được bình an mạnh khỏe luôn luôn; gửi về thăm ông với Mẹ, Bác, anh Trưởng Tằng, anh Căn, anh Bộ, họ đương chúng bạn được mạnh khỏe, tôi mừng lắm. Đặng Văn Thành ký.
(Kiểm duyệt bức thư của Đặng Văn Thành, ngày 4-11-1898 viên Công sứ Phủ Liễn báo cáo lên Thống sứ Bắc Kỳ mấy chi tiết sau: “(…) Ngài yêu cầu tôi cung cấp thông tin vê những người được nói đến trong thư này. Tôi đã cho người đến tận làng Trà Phương điều tra, được biết: Đặng Văn Thành đã tham gia phong trào nổi loạn và bị kết án đi đày. Y quê làng Trà Phương, trong một gia đình đông con. Đặng Văn Căn là em trai của y…”]
NHỮNG NĂM LƯU ĐÀY Ở POLYNÉSIE
Như đã nói ở một phần trên, từ Nam Kỳ, thực dân Pháp đưa Kỳ Đồng theo chuyến tàu về Toulon, Marseille (Pháp) để từ đó đưa đi Nouvelle Calédonie. Sau ngót một năm rưỡi, Kỳ Đồng lại bị tách khỏi các “đồng phạm” để đưa đi xa hơn ngoài đại dương mênh mông: quần đảo Polynésie (2). Thời gian đầu đến Polynésie, Kỳ Đồng ở Papeete (thủ phủ đảo Tahiti. Mấy năm sau, có lẽ nhận thấy để Kỳ Đồng tại Papeete không có lợi (một tù nhân chính trị trẻ tuổi, giỏi tiếng Pháp…) nên thực dân Pháp đã phái Kỳ Đồng đến quần đảo Marquises làm y tá lưu động.
Theo Jean Charles Blanc (thạc sĩ nghệ thuật và lịch sử), nguyên giáo sư trường nữ học nội trú ở Atuana, thời gian làm ý tá lưu động, Kỳ Đồng phụ trách việc tiêm chích và phát thuốc cho dân bản xứ, còn việc chăm sóc sức khỏe cho các quan chức thuộc địa thì do một bác sĩ người Pháp phụ trách. Hồi đó quần đảo Marquises có khoảng 3.500 dân, và theo lời bác sĩ người Pháp, bệnh hủi và bệnh giang mai có giảm phần nào thì bệnh lao phổi lại đang có xu hướng lan rộng và hình như muốn tiêu diệt nốt những người bản xứ cuối cùng. Thổ dân lại không quen dùng thuốc Tây nên công việc của Kỳ Đồng cũng không vất vả lắm. Vả chăng, kiến thức về y tế của Kỳ Đồng cũng xoàng; anh có vẻ thiên về văn chương hơn là khoa học.
Tại quần đảo Marquises, một sự tình cờ thú vị đã đến với Kỳ Đồng: khoảng giữa tháng 9-1901, họa sĩ Pháp Paul Gauguin đã trở lại Polynésie, đến Marquises, cập bến Atuana. Trong số những người ra đón Gauguin ở bến tàu có Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm.
Gauguin đã đến Tahiti từ năm 1891, phát hiện tại đây một thế giới lạ, trữ tình, gần gũi với thiên nhiên nhưng đang bị chế độ thuộc địa tha hóa.
Năm 1901, Gauguin rời Tahiti chuyển đến quần đảo Marquises, vì theo ông dân cư ở đây còn giữ được những phong tục thuần phác hơn, hay như cách nói của ông: “đã đến lúc phải trốn đến một nơi đơn giản hơn và ít quan chức hơn”.
Những người mẫu và đề tài Gauguin khai thác tại Marquises (cũng như tại Tahiti) đã đưa nghệ thuật ông phát triển đến đỉnh cao của nền hội họa thế giới.
Có thể khi đến Polynésie, Kỳ Đồng đã biết tiếng Gauguin, nhà họa sĩ sống tại đây từ 6 năm trước, biết Gauguin qua những bài báo của ông công kích chính quyền thuộc địa, bênh vực người bản xứ… Sự đồng cảm tâm hồn giữa một thanh niên yêu nước trong cảnh lưu đày với một họa sĩ tài hoa muốn xa lánh cuộc sống châu Âu mà ông cho là “giả tạo” đã nhanh chóng giúp hai người trở thành đôi bạn thân thiết, tuy cách biệt về tuổi tác (Kỳ Đồng kém Gauguin 27 tuổi).
Gauguin đã sống mấy năm ở Tahiti, biết ít nhiều tiếng địa phương, nhưng khi đến Marquises ông vẫn bỡ ngỡ vì thổ ngữ khác nhau giữa hai cụm đảo. Còn Kỳ Đồng nhờ tiếp xúc thường xuyên với thổ dân, lại có người vợ bản xứ nên quen thuộc phong thổ hơn và đã giúp Gauguin trong việc liên hệ với quan chức và giao tiếp với thổ dân.
Theo giáo sư Thụy Điển (Sách đã dẫn), người vợ bản xứ của Kỳ Đồng tên là Puna Ura (ở Tamilhau). Hai người sinh con trai đầu lòng năm 1903, đặt tên là Pierre Napoléon (lớn lên, Pierre làm nhân viên nhà in ở Papeete, lấy vợ tên là Jeanne Lequerré). Sau đó hai người sinh thêm một con gái đặt tên là Bernadette, nhưng cô gái đã chết năm 1929, năm xẩy ra nạn dịch lớn ở đảo, cũng là năm Kỳ Đồng qua đời (người vợ của Kỳ Đồng (Puna Ura) đã mất trước đó một năm (1928).
Làng Atuana có chừng 500 dân, hai cơ sở truyền đạo Cơ đốc và Tin lành, dăm cửa hàng, hai lò bánh mì của người Trung Hoa. Kỳ Đồng đã dẫn Gauguin đến cửa hàng một người Khách lai tên là Matikana thuê buồng ở, giá mỗi ngày 2 francs.
Bảy năm sau khi Gauguin qua đời, Kỳ Đồng kể lại với một nhà sưu tầm về Gauguin: “Tìm được chỗ ở, tôi đi cùng Gauguin đến tiệm ăn của một người Tàu bán trà và bánh ngọt. Trên đường, chúng tôi gặp 5, 6 cô gái địa phương. Họa sĩ mời họ cùng uống trà, ăn bánh và lúng túng chưa biết chọn cô nào làm bạn. Cuối cùng họa sĩ chọn cô Fetuhonu mới 20 tuổi, dáng người cao, đẹp nhất trong đám nhưng một chân bị thọt. Các cô khác ghen với bạn mình, quay ra chế diễu bằng tiếng địa phương và Gauguin chẳng hiểu gì cả. Tôi lấy chuyện vừa xẩy ra dựng thành một vở hài kịch, ít lâu sau tôi đưa Gauguin xem, ông tỏ ra thích thú. Cũng từ đó tôi càng gắn bó với Gauguin”.
Vở kịch thơ của Kỳ Đồng sáng tác khoảng năm 1901 đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Vở kịch mang tên “Những mối tình của người họa sĩ già trên quần đảo Marquises” (Les amours d’un vieux peintre aux Iles Marquises). Qua câu chuyện tình trớ trêu, hài hước và nhiều khi gay cấn, Kỳ Đồng vừa muốn diễu cợt tính hào hoa của người bạn vong niên, vừa muốn mượn lời nhân vật chính để gián tiếp phê phán bản chất thối tha, tồi tệ của chính quyền thuộc địa trên quần đảo này. Nguyên bản vở kịch hiện được bảo quản tại Bảo tàng Gauguin ở Papeete.
Trong lời tựa nhan đề “Lời báo trước của tác giả”, Kỳ Đồng viết: “Tôi không cho rằng mình đã phịa ra hài kịch này, thực ra nó là một vở bông đùa cợt nhả mà đề tài và nhân vật hoàn toàn có thực. Quả là câu chuyện tôi viết đã xẩy ra với một họa sĩ già – trừ vài màn. Tôi chỉ thuật lại một trong những cuộc phiêu lưu tình ái mà không cần đến trí tưởng tượng của mình…”
Vở kịch gồm 799 câu thơ, chia thành ba hồi, mỗi hồi có 5 hoặc 6 cảnh, được tác giả chép trên một cuốn sổ kế toán khổ 32 x 18cm. Từ khi ra đời, vở kịch chưa từng công diễn lần nào, chỉ mới trích đăng trên Tập san của Hội những người nghiên cứu Hải đảo (tập XVIII,số 18, tháng 12-1962).
Đầu năm 1989, vở kịch được Nhà xuất bản “Tempéra”
ở Paris cho ra mắt độc giả với phần chú thích, giới thiệu công phu của Thạc sĩ J.Ch.Blanc. Ông Đào Hùng trong chuyến công tác ở Pháp (1989) được một bạn Việt kiều làm việc tại văn phòng UNESCO tặng vở kịch của Kỳ Đồng vừa xuất bản. Năm 1990, Nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội cho dịch vở kịch ra tiếng Việt, ấn hành song song với nguyên tác tiếng Pháp. Bản dịch của nhà thơ Phan Khắc Khoan, người đầu tiên sáng tác kịch thơ ở Việt Nam năm 1928 (3).
Nội dung vở kịch có thể tóm lược như sau:
Ba cô gái địa phương là Marguerite, Francoise và Germaine biết tin một họa sĩ già tên là Paul xuống tàu “Chữ Thập phương Nam”, cập bến Atuana ở quần đảo Marquises. Ba cô bàn nhau quyến rũ họa sĩ vì thấy ông có vẻ giàu có, hào hoa. Giữa lúc đó lại xuất hiện thêm một cô gái tàn tật tên là cô Gù. Họa sĩ không nhìn rõ mặt các cô và sực nhớ mình đánh rơi cặp kính ngoài cảng. Ba cô bèn kéo nhau đi tìm kính cho họa sĩ. Còn lại một mình với cô Gù, họa sĩ bắt đầu tán tỉnh. Ba cô tìm được kính mang về. Đeo kính vào, họa sĩ mới biết mình đã mắc lừa.
Lại những trò tán tỉnh của họa sĩ và trận đánh ghen giữa các cô gái. Các cô nhận quà của họa sĩ nhưng lại chê ông vừa già vừa bẩn, thậm chí một cô trong khi chống cự còn đấm ông sưng cả mắt.
Lo sợ họa sĩ Paul đi kiện đòi lại quà, các cô bèn nghĩ kế cải trang: người thì làm linh mục, người làm cảnh sát, người làm nạn nhân, kéo đến xét xử Paul rất nghiêm khắc. Rút cục Paul thua cuộc, lại còn phải nộp phạt.
Còn lại một mình, họa sĩ Paul nguyền rủa luật pháp đương thời và dọa trả thù cơ chế xã hội bằng bút vẽ và bài viết.
Nhưng cô Gù lại đến, xin lỗi Paul vì đã bày trò lừa dối ông và nguyện trao gửi mối tinh chân thành nhất của cô cho họa sĩ.
Đánh giá vở kịch thơ của Kỳ Đồng, Thạc sĩ J.Ch.Blanc cho rằng: đây la thể loại kịch bình dân hồi đầu thế kỷ. Tác giả vận dụng nghiêm chỉnh bút pháp của kịch cổ điển Pháp, chứng tỏ ông có trình độ Pháp ngữ vững chắc.
Thêm một kỷ niệm thú vị khác về tình bạn giữa Kỳ Đồng và Gauguin: Kỳ Đồng thường đến thăm xưởng họa ủa Gauguin. Một lần thấy Gauguin bị bệnh nằm liệt giường, Kỳ Đồng đến bên giá vẽ dựng sẵn, cầm bút hý hoáy. Thấy lạ, Gauguin gượng dậy bước đến xem, thì ra ông bạn trẻ Kỳ Đồng đang phác họa chân dung mình. Gauguin bèn gạt Kỳ Đồng sang một bên, lấy gương soi mình và hoàn tất bức chân dung tự họa. Về sau, Kỳ Đồng tặng bức chân dung này cho ông Louis Grelet, một người từng sống nhiều năm ở Marquises.
Tác giả P.Bompard trong cuốn Ma mission aux Marquises – Paul Gauguin (Paris 1962) kể rằng: “Ông Grelet cho tôi biết ông ta đã nhận được bức ký họa của Gauguin do Nguyễn Văn Cẩm tặng vài ngày sau khi Gauguin qua đời. Người An Nam này là người đầu tiên đón họa sĩ đến đây ngày 16-9-1901. Nguyễn Văn Cẩm phác họa vụng về chân dung Gauguin. Họa sĩ trông thấy liền cầm bút vẽ nốt bức chân dung của mình”.
Bức họa không ghi ngày tháng, cũng không ký tên. Sau đó, nhân một chuyến du lịch, ông Grelet đem bức cgân dung này tặng một người bạn ở Thụy Sỹ, ông Ormond. Bức tranh hiện được bảo quản tạo Bảo tàng nghệ thuật Bâle (Thụy Sỹ). (Tư liệu của Nhi-cu-lin).
Năm 1911, Toàn quyền Polynésie (Bonhoure) lại chuyển Kỳ Đồng từ Marquises về Papeete (Tahiti) làm dược tá trong một bệnh xá quân đội cho đến khi qua đời.
Năm 1921, phủ Thống sứ gửi công văn yêu cầu Nha mật thám Bắc Kỳ cung cấp hồ sơ về Kỳ Đồng, nhưng được phúc đáp: “Ở Nha mật thám không còn lưu giữ hồ sơ về Nguyễn Văn Cẩm hay Kỳ Đồng. Tôi chỉ có thể dựa vào trí nhớ để trả lời yêu cầu của ngài Chủ tịch Hội Nhân quyền và Công dân… Không có trở ngại gì trong việc cho phép Kỳ Đồng được sống tự do trên đất Úc Châu. Trái lại, cần thận trọng hơn nếu định cho anh ta trở về Đông Dương theo như gợi ý của ngài Giám đốc Nha Tư pháp (…). Ký ức về con người cuồng loạn này vẫn còn sôi động trong tâm trí nhữngngười An Nam đứng tuổi. Nếu bây giờ để cho những ký ức đó sống lại thì rất nguy hiểm, còn nguy hiểm hơn những huyền thoại về anh ta lan truyền trong dân chúng An Nam hồi năm 1898… rằng: người Pháp muốn chặt đầu Kỳ Đồng nhưng lưỡi dao khgông mảy may làm sầy da anh ta. Vậy thì hãy cứ để Kỳ Đồng sống ở châu Úc, vì sự yên ổn của anh ta và cho cả chúng ta” (Kho lưu trữ ở Aix… - F.68-56-407).
Mấy năm trước khi qua đời, Kỳ Đông lại viết một bức thư cho Toàn quyền Đông Dương yêu cầu tăng thêm tiền sinh hoạt vì đồng franc Pháp bị trượt giá. Sau đây là trích đoạn bức thư:
“Papeete ngày 8 tháng Chín, 1926
“Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng, phát lưu chính trị
tại lãnh thổ Pháp ở châu Đại Dương,
Kính gửi Ngài Toàn quyền Đông Dương,
“Thưa Ngài Toàn quyền,
“Hồi tôi bị phát lưu ra châu Đại Dương năm 1901, Chính phủ Đông Dương cấp cho tôi mỗi ngày 1 đồng bạc (piastre) để bồi thường tài sản của tôi bị tịch thu. Khoản tiền này vẫn được chính quyền Tahiti trả đều đặn cho tôi vào cuối tháng với tỷ giá 1 đồng ăn 2 francs. Nhưng từ khi đồng franc Pháp bị trượt giá, khoản bồi thường này đã giảm giá nghiêm trọng, nhất là tại các thuộc quốc ở châu Úc và châu Mỹ (…)
“Tôi thật sự quẫn bách trong việc chi tiêu; mong Ngài Toàn quyền xét cho tôi được nhận tiền theo giá đồng “piastre” vào cuối mỗi tháng, cũng như đối với những cu-li An Nam vừa tới thuộc địa này…” (Kho lưu trữ ở Aix… - GG-53443).
Hình như bức thư cuối cùng này của Kỳ Đồng không có hồi âm. Trong tập hồ sơ “Kỳ Đồng ở Polynésie” lưu trữ tại Aix-en-Provence thì tiếp sau bức thư trên chỉ còn có tờ giấy “báo tử”:
“Papeete ngày 16 tháng Tám, 1929
“Toàn quyền các thuộc địa Pháp ở châu Đại Dương
Kính gửi Ngài Toàn quyền Đông Dương,
“Tôi xin báo để Ngài biết: Nguyễn Văn Cẩm bị phát lưu chính trị và được hưởng mỗi ngày 6 francs do ngân qũy Đông Dương cấp, đã chết tại bệnh viện Papeete ngày 17-7-1929” (Kho lưu trữ ở Aix… - F.68-56407).
Như vậy, sau 10 năm ở quần đảo Marquises, Kỳ Đồng lại được chuyển về Papeete, tiếp tục cuộc đời lưu đầy thêm 18 năm nữa cho đến khi ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 17-7-1929 (54 tuổi).
________
(1) Nouvelle Calédonie: ở Thái Bình Dương, diện tích 16.117 km2, thủ phủ Nouméa, thuộc địa Pháp năm 1853. Trên đảo có một nhà tù giam những tù nhân các thuộc địa bị đày biệt xứ.
(2) Quần đảo Polynésie: diện tích 4000km2, đảo chính là Tahiti.
cùng nhiều quần đảo phụ, trong đó có quần đảo Marquises, phân tán trong một vùng Thái Bình Dương khoảng 4 triệu km2. Tahiti: diện tích 1,042km2, thủ phủ Papeete, thuộc địa Pháp từ năm 1842. Marquises: diện tích 1.274km2, thủ phủ Atuana (trên đảo Hiva-Oa).
(3) Xin tham khảo: Kỳ Đồng – Những mối tình của người họa sĩ già trên quần đảo Marquises – NXB Ngoại Văn, Hà Nội 1990.
(còn tiếp)
Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn. Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.
www.trieuxuan.info
|