PHỤ LỤC.
· THƯ GỬI PHÓ TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG
( 28-2-2897 )
· THƯ GỬI TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG
( 31-3-1897 )
· THƯ GỬI CÔNG SỨ THÁI BÌNH
( 2-5-1897 )
· THƯ GỬI TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG
( 8-9-1926 )
KHẨU CUNG KỲ ĐỒNG
( 22-9-1897 )
BỨC THƯ 1.
Ngọc Đình (Thái Bình) ngày 28-2-1897
Thưa Ngài Phó Toàn quyền
Tôi xin Ngài rộng lòng xét cho một việc khiến tôi rất khó chịu và có lẽ gây cho tôi nhiều phiền phức trong thời gian tới.
Trước hết, tôi xin trình bày với Ngài về hoàn cảnh của tôi, một hoàn cảnh khiến cho tôi tuy cũng là một học sinh An Nam nhưng lại khác hẳn những đồng bào tôi đã từng được du học ở Pháp hoặc ở Algérie.
Tên tôi là Nguyễn Văn Cẩm; thuở ấu thơ tôi theo nghiệp văn chương như cha mẹ tôi. Năm lên 7 tuổi, nhờ học hành chăm chỉ, tôi khá giỏi chữ Nho nên được mọi người kính nể, được Hoàng đế Tự Đức ban thưởng và cho danh hiệu Kỳ Đồng (đứa bé tài giỏi).
Những bài thơ ca trước đây của tôi, dân chúng đều biết và hiện nay họ vẫn còn nhắc đến. Dân chúng An Nam yêu mến tôi đến mức mỗi khi tôi đi đến đâu đều có hàng đám người đông nghịt kéo theo đến đó, và đôi khi nhà tôi chật ních khách khứa đến thăm. Đó là hoàn cảnh trước kia của tôi. Bây giờ tôi xin nói đến sự việc khó chịu mà tôi đã trình bày với Ngài ở trên, và xin Ngài chiếu cố giải thoát giùm cho.
Vì tôi thi đậu bằng tú tài khoa học toàn phần hồi tháng 7-1896 nên Chính phủ bảo hộ đã cho phép tôi về nước. Mười năm đã trôi qua nhưng đám dân chúng An Nam vẫn không quên tôi và ngay khi tôi vừa đặt chân về quê hương thì họ đã kéo đến từng đoàn thăm hỏi tôi, đòi tôi kể chuyện về nước Pháp, nơi họ chưa từng đi đến và ước ao được biết.
Những cuộc thăm hỏi liên tục đó không có gì đáng cho Chính phủ bảo hộ phải lo ngại, chẳng qua là vì dân chúng còn ngưỡng mộ tôi. Thế nhưng các quan An Nam thì cứ nhớ mãi câu chuyện dài dòng vô nghĩa về vụ rước cờ ở Nam Định, và khi thấy dân chúng lũ lượt kéo đến nhà tôi như vậy lại cho rằng có lẽ tôi muốn lợi dụng ảnh hưởng của mình đối với đồng bào để dấy lên một cuộc nổi loạn chống Chính phủ.
Thật là đáng nguyền rủa! Tôi là kẻ được người Pháp nuôi dạy, há lại có lòng dạ nào mà không yêu mến người Pháp, lại không làm hết sức mình để tỏ lòng biết ơn người Pháp sao ?
Nếu như tôi không nhận làm thư ký hay thông ngôn thì cũng chẳng phải tôi kiêu kỳ hay tự phụ, chẳng qua là nếu tôi nhận những công việc đó, tôi sẽ không được dân chúng An Nam yêu mến nữa và cũng sẽ trở thành con người tầm thường trước mắt người Pháp.
Vậy thì, để cho các quan An Nam khỏi lo ngại, tôi mong Ngài xin quan Toàn quyền sắp đặt cho tôi một công việc nào đó, cốt sao đừng làm tổn hại thanh danh của một người đã từng được đức Hoàng đế quá cố ban thưởng.
Chính phủ cần làm việc gì, tôi sẽ làm việc đó. Chính phủ muốn có người để di dân và khai khẩn những vùng đất hoang chăng ? Chính phủ muốn bao nhiêu cũng có, miễn là Chính phủ phải nuôi họ. Chính phủ muốn truy bắt giặc tận sào huyệt chăng ? Chỉ cần ết cho một cuộc hành quân, và thế là người ta sẽ không còn nghe bàn tán về nạn giặc cướp trên đất Bắc Kỳ này nữa!
Xin Ngài hãy tin ở tôi. Lời nói của tôi không vượt quá khả năng tôi đâu, thưa Ngài! Tham vọng của tôi là làm điều tốt lành cho dân chúng An Nam và phụng sự người Pháp, để khi trông thấy tôi thì cả hai dân tộc cùng nói: “Tin yêu chàng trai này, chúng ta không mất mát gì cả; đây là một chàng trai chân thực, không biết vô ơn, anh ta sinh ra trên đời không phải là hoàn toàn vô ích.
Vì vậy, thưa Ngài Phó Toàn quyền, mong Ngài lưu tâm đến lá đơn này và có gì sai sót xin Ngài thứ lỗi cho, vì hiện nay tôi đang bệnh khá nặng do khí hậu ẩm thấp của xứ Bắc Kỳ. Sau khi bình phục, tôi sẽ xin lên hầu Ngài, còn bây giờ tôi xin cám ơn Ngài trước, và xin thưa với Ngai rằng tôi là người đầy tớ rất hèn mọn và rất trung thành của Ngài.
NGUYỄN VĂN CẨM
Thư Kỳ Đồng gửi Toàn quyền ( 31-3-1897 )
BỨC THƯ 2.
Hà Nội ngày 31-3-1897
Thưa Ngài Toàn quyền
Tôi trân trọng kính mong Ngài cho phép tôi được đưa những đồng bào muốn đi theo tôi lên vùng đất hoang ở Yên Thế mà Ngài định cấp cho bác sĩ Gillard.
Tôi đậu tú tài khoa học toàn phần tại trường trung học Alger và đã từ Pháp trở về nước hồi cuối tháng 10 vừa qua. Tôi hiểu nước Pháp và yêu qúy nước Pháp. Tôi chỉ có một ước nguyện là trở thành người hữu ích cho nước Pháp vì tôi biết nước Pháp có thiện chí đối với đất nước tôi.
Về tới tỉnh nhà, tôi lại được đồng bào yêu mến. Trước ngày rời đất nước ra đi, nhờ có khiếu văn chương nên tuy còn nhỏ tuổi tôi đã vinh dự được đức Hoàng đế Tự Đức ban cho danh hiệu và cấp cho bổng lộc.
Khi cuộc chiến tranh Bắc Kỳ bùng nổ, tôi mới 11 tuổi. Năm 13 tuổi, tôi trở thành đối tượng trong một cuộc biểu dương của dân chúng, và thế là Chính phủ bảo hộ đã đưa tôi sang học ở trường trung học Alger.
Hiện nay tôi đang sống với gia đình tại tổng Ngọc Đình, tỉnh Thái Bình. Từ ngày về quê, tôi vẫn được đồng bào đến thăm hỏi nhiều lần, đến nỗi Chính phủ phải cho người theo dõi tôi, coi tôi như một kẻ nguy hiểm, thậm chí ngăn cản, không cho tôi đi mua sắm, không cho tôi lưu trú ở Nam Định. Tôi đang sống trên tổ quốc mình mà lòng lại tiếc nhớ nước Pháp.
Người ta muốn coi tôi là một thanh niên nguy hiểm có khả năng gây rối loạn ở xứ này, người ta dò thám tôi trong khi tôi là người An Nam “Pháp” nhất.
Tôi hiểu và yêu qúy người Pháp ở đây cũng như tôi hiểu và yêu qúy người Pháp mà tôi đã từng được biết ở Alger và ở Pháp, và tôi đang tìm cách làm thế nào cho đồng bào tôi cũng yêu qúy họ. Tôi chỉ đòi hỏi được trở thành người có ích cho nước Pháp và cho đất nước tôi. Tôi sẽ làm được điều đó nếu tôi được phép đưa vài ngàn người lên những vùng ngoại vi đồng bằng, như điều tôi đã thỉnh cầu Ngài. Khi đó, tôi sẽ là người đầu tiên thực hiện một kế hoạch, cũng là kế hoạch của Chính phủ: đó là việc phân tán bớt khối cư dân đông đúc ở vùng đồng bằng, nhằm:
1/ Tăng dân cư vùng thượng du, bình định và sinh lợi vùng này.
2/ Không để mức sản xuất giảm sút mà chỉ giảm dân số đồng bằng, từ đó tăng trữ lượng hàng xuất khẩu.
Đây là cách chắc chắn nhất làm cho xứ Bắc Kỳ trở nên thịnh vượng.
Tôi đã chọn Yên Thế làm mục tiêu cho hoạt động này của tôi, vì tôi rất biết bác sĩ Gillard vừa tới Hà Nội gần đây, và tôi được biết bác sĩ đã có làm đơn xin một đồn điền quan trọng. Tôi sẽ hợp tác với bác sĩ để khai thác những đaất đai này.
Kính thưa Ngài Toàn quyền, tôi tin tưởng rằng Ngài sẽ chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi và không thèm đếm xỉa những lời dị nghị cho rằng hoạt động này sẽ là điểm khởi đầu cho những vụ rối loạn trong xứ. Tôi tin chắc Ngài sẽ biết sử dụng một thiện chí, và vì lợi ích của nước Pháp, sẽ dìu dắt một người đầy tớ tận tụy; xin Ngài nhận ở đây lòng kính trọng sâu sắc của tôi.
NGUYỄN VĂN CẨM
Thư gửi Công sứ Thái Bình (2 – 5 – 1897)
Bức thư 3.
Ngọc Đình, ngày 2-5-1897
Thưa Ngài Công sứ,
Tôi vừa nhận được lệnh của Ngài cho biết rằng mỗi khi tôi muốn đi đâu đều phải lên tỉnh xin phép, rằng trong dịp qua Hai Giùng [Hải Dương] tôi đã mang theo khoảng 50, 60 người, điều đó là trái với luật lệ của Chính phủ. Thưa Ngài Công sứ, tôi xin Ngài thứ lỗi cho chuyện đã qua và tôi sẽ xin tuân lệnh Ngài. Song tôi không thể im lặng trước lệnh đó, một cái lệnh mà đối với tôi chẳng khác gì một sự cảnh cáo nghiêm khắc, chứng tỏ người ta có phần nàoo e ngại về con người tôi.
Tôi đã ăn học ở Pháp trong 10 năm và suốt thời gian ấy tôi từng nhiều lần đi từ thành phố này sang thành phố khác mà chẳng cần đến quấy rầy quan tỉnh để xin phép. Chỉ có khi nào đi ra nước ngoài – người ta nói với tôi như vậy – thì mới cần có giấy quá cảnh mà thôi. Nếu như luật pháp ở Bắc Kỳ không được soạn thảo giống như luật ở nước Pháp thì mong Ngài rộng lượng bỏ qua cho sự dốt nát của tôi, vì tôi đã rời quê hương từ tấm bé.
Còn nói rằng tôi có đem theo một số người quá đông, thì đó là người ta đã trình lên quá đáng với Ngài. Trước hết, có lẽ người ta phải trình lên với Ngài rằng đấy là số bạn hữu đi theo tôi, và thứ nữa là số này chỉ có mười lăm người mà thôi. Và nếu cộng thêm những đầy tớ của tôi thì con số cũng chỉ lên đến hai chục. Lạy Chúa! Hồi còn ở Pháp, đã nhiều lần tôi đi du ngoạn với số bạn hữu cùng trường đông hơn thế nhiều mà chẳng ai nói gì cả. Tuy nhiên tôi vẫn xin Ngài thứ lỗi về việc này, vì xứ An Nam không phải là nước Pháp. Than ôi, tôi luyến tiếc nước Pháp biết bao, một đất nước hiền hòa, tự do và hiếu khách!
Ở đây, tôi không dám phàn nàn gì cả, thưa Ngài Công sứ. Một lần nữa tôi xin nhắc lại là lệnh của Ngài sẽ được tuân thủ nghiêm chỉnh. Tôi chỉ xin Ngài cho phép tôi được trình bày với Ngài về hoàn cảnh của tôi, và tôi mong Ngài rộng lượng hiểu cho lời trình bày của tôi.
Thưa Ngài Công sứ, tôi biết là một số quan lại rất lo ngại khi thấy tôi đi đến đâu người ta cứ theo tôi hàng đoàn. Những người đi theo tôi chỉ là những kẻ tò mò muốn hỏi tôi những chuyện về nước Pháp, đất nước họ không bao giờ đến và rất muốn được biết tường tận. Làm sao tôi có thể ngăn cản hàng trăm hàng ngàn người đi theo tôi như vậy ? Tôi có quyền gì ? Và ở nước nào mà chẳng có những kẻ tò mò! Ngay ở Algérie, khi mới đến, tôi đã thấy cả một đám đông vây bọc lấy tôi, chỉ cốt được nhìn chú bé An Nam vừa lên bờ.
Không, không, thưa Ngài Công sứ, Ngài có tấm lòng rộng rãi và cao thượng khi nghe những điều mà một số người nói về tôi, và nếu Ngài sẵn lòng cho phép tôi ra tỉnh trong vài ngày, tôi sẽ xin trình bày với Ngài rõ ràng hơn, cũng như tôi đã trình bày với các nhà đương cục cao cấp Hà Nội và với hai vị cựu Công sứ Thái Bình. Tôi sẽ xin nói với Ngài về nguyên nhân vì sao tôi có được chút ít ảnh hưởng đối với đồng bào tôi và tôi định sử dụng ảnh hưởng đó như thế nào để có lợi cho dân An Nam và giúp ích người Pháp. Nhưng có thể Ngài ngạc nhiên về việc dân chúng biết và tin tô; đó là vì hồi còn bé tôi đã khá ưu tú về Nho học nên những câu thơ của tôi đôi khi đã làm các quan tán thưởng, ngay cả đức Hoàng đế Tự Đức quá cố, Người đã ban cho tôi bổng lộc và danh hiệu Kỳ Đồng.
Thưa Ngài Công sứ, tôi tin rằng sau khi đến trình bày với Ngài, Ngài sẽ tin tưởng ở con người tôi và sẽ chiếu cố đến tấm lòng kính trọng sâu sắc của người đầy tớ rất hèn mọn và rất trung thành này. Tôi xin làm hết sức để đền đáp lòng tốt của nước Pháp, đất nước đối với tôi là nước mẹ thứ hai.
NGUYỄN VĂN CẨM
Khẩu cung Kỳ Đồng (22 – 9 – 1897)
QUÂN ĐỘI ĐÔNG DƯƠNG
ĐẠO BINH THỨ NHẤT KHẨU CUNG
Tiểu khu Yên Thế của NGUYỄN VĂN CẨM
tức KỲ ĐỒNG (*)
Năm một ngàn tám trăm chín mươi bảy, ngày 22 tháng 9, vào hồi 9 giờ tối.
Trước mặt chúng tôi là Marie Éienne Péroz, trung tá lính thủy đánh bộ đương nhiệm tại Liên đội thứ hai của lính khố đỏ Bắc Kỳ, được thưởng Bắc đẩu bội tinh, Học chính bội tinh, chỉ huy Tiểu khu Yên Thế.
Tham dự có Henri Aimé Mast, trung úy lính thủy đánh bộ, chưởng ấn quan của Tiểu khu Yên Thế.
Đã ra trình diện: Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng, sinh quán tại Ngọc Đình, tổng cùng tên, huyện Viên Hanh, tỉnh Thái Bình, trú quán tại Chợ Kỳ (Tiểu khu Yên Thế) trên vùng đất bác sĩ Gillard xin khẩn làm đồn điền.
Đương sự sau khi nói rõ tên họ, tuổi, nghề nghiệp và nơi cư trú, đã khai trước chúng tôi như sau:
Khi theo học tại trường trnug học Alger, anh có người bảo chứng là ông Giám học trường trung học Alger, hiện nay là hiệu trưởng trường trung học Tourcoing; anh ra nhà ông ta, nhà ông Ottavi nhân viên đường sắt, nhà cô Marie Chapitel và sau cùng là Hàm Nghi, cựu hoàng đế An Nam tại Mustapha.
Anh học xong vào tháng 7-1896 và rời hẳn Algérie vào tháng 9-1896 sau khi đã nghỉ một tháng ở Alger, phần lớn thời gian này anh ở nhà Hàm Nghi.
Cha anh là thầy giáo ở tỉnh, đã chết khoảng năm 1887 trước ngày anh sang Pháp. Bấy giờ Kỳ Đồng 13 tuổi và đã thử phát động một cuộc nổi dậy.
Tại nhà Hàm Nghi, người ta thường nói về quê hương. Kỳ Đồng cũng như tất cả những người An Nam khác tin rằng Hàm Nghi là ông vua chân chính, chứ không phải Thành Thái. Trong một nước mà quyền tự do ngôn luận không có, anh ta vẫn nói ra điều đó. Anh không nói điều đó ở đây nhưng đã nói ở Algérie, và ở bên ấy người ta khuyên anh khi về nước không nên nói những chuyện như vậy. Anh chỉ nói rằng Hàm Nghi là một người rất thông minh, xứng đáng làm vua, thế nhưng Kỳ Đồng chẳng thích vua chúa mấy, vì anh đã được biết nước Cộng hòa Pháp.
Anh ta muốn trở về An Nam và hợp tác với bác sĩ Gillard. Trong những người đi khẩn hoang cho anh có cả những chánh tổng, thông ngôn, lính khố xanh, lính khố đỏ cũ. Nếu Chính phủ cho phép, chỉ trong vòng 4 ngày anh sẽ tập hợp được vợ con họ đến ngay. Họ đều biết lao động, người ta chỉ việc nhìn xem để thấy công việc họ đã làm. Các nhà nho già thì không lao động, còn những người trẻ đều làm việc.
Họ đều tin rằng Kỳ Đồng đại diện cho một luồng dư luận, và anh sẽ được Chính phủ tin cẩn. Ở đây họ đã tự tạo ra một hoàn cảnh kém thua hoàn cảnh cũ của họ dưới đồng bằng vì họ làm công cho một ngưới Pháp, nhưng họ hy vọng được đối xử khá hơn những người bản xứ khác.
Kỳ Đồng trở về Bắc Kỳ, anh có ý định đến bên cạnh bác sĩ Gillard, làm phụ tá cho ông ta. Nhưng ở đồng bằng người An Nam quá ngưỡng mộ anh và gây cho anh nhiều phiền phức; chính vì lẽ đó mà anh ta lên đây. Anh đã cộng tác với bác sĩ. Anh sẽ nhận một phần thu hoạch mùa màng cho mình, phần còn lại sẽ thuộc về bác sĩ. Tuy vậy, anh không bao giờ nghĩ tới điều đó, vì anh ta lên đây cốt để tránh những phiền phức.
Hôm nay, nhiều phu đồn điền của anh (gần 800 người) đã bỏ về xuôi, một số tìm về gặp gia đình theo lời khuyên của anh, một số khác thì về hẳn. Anh thấy họ ra đi quá đông và muốn ngăn họ lại.
Anh không nghe có tiếng súng sáng nay ở phía Bình Trạm. Ở Chợ Kỳ chỉ nghe có tiếng súng từ phía Nhã Nam vọng lại. Ở đó người ta đang tập bắn.
Đề Thám không lảng vảng tới gần vùng anh ta ở, ít ra là theo sự hiểu biết của anh. Anh đã tìm cách thu phục Đề Thám, Đề Thám đã không tới chỗ anh. Có một người đàn ông đã tới chỗ anh vào ban ngày và tự xưng là lý trưởng làng Vân Can. Sau khi người này đi rồi thì anh mới biết đó là Đốc Bình, tướng của Đề Thám. Ông này hỏi Kỳ Đồng rằng Đề Thám đã tới chưa, và Kỳ Đồng trả lời rằng nếu Đề Thám tới quy thuận thì anh sẽ đãi một bữa cơm thịnh soạn.
Một buổi tối, có một người mặc quần áo lính cơ đến trình diện anh với tư cách người lính của đồn Bố Hạ, có nhiệm vụ chuyển tới cho anh một bức thư. Kỳ Đồng đọc rồi đốt đi. Đó là thư của Đề Thám, nói rằng ông ta rất qúy mến Kỳ Đồng và sẽ đến với anh.
Kỳ Đồng cho họ về và giao cho họ một bức thư gửi Đề Thám; trong thư anh nói rằng nếu Đề Thám muốn tới gặp anh như một người nhà quê thì anh sẽ chấp nhận sự quy thuận của ông ta. Anh cho mấy phái viên đó một số tiền và nói với họ rằng… [bản chụp bị mờ mấy chữ]…với 150 người hiện ở cách đây 5 ngày đường, trong vùng tỉnh Thái Nguyên.
Anh đã cấp cho họ lương ăn vì họ nói rằng họ túng khổ. Sau đó họ càng săn đón hơn, và anh đã phải đuổi họ đi vì tối nào họ cũng tới. Đốc Bình cùng 19 hay 20 tay súng đến đóng ở Sông Soi để chuyển bức thư của Đề Thám hứa rằng trong vòng 10 ngày sẽ đến, ăn mặc như người nhà quê. Kỳ Đồng đã cấp gạo và gần hai chục đồng bạc cho những người của Đề Thám. Anh đã phải cho họ tất cả hai tạ gạo. Lần đầu, những người của Đề Thám đến lấy gạo; hai lần khác là những thanh niên 20 tuổi, anh em rể của Đề Thám, cũng đến lấy gạo. Lần cuối cùng họ tới là năm ngày trước cuộc thám sát Chợ Kỳ (cuộc hành quân thám sát này là vào ngày 18 tháng chín).
Kỳ Đồng đã nhận được hai bức thư của Đề Thám và anh đã đốt đi. Lần đầu Đề Thám không biết rõ Kỳ Đồng có muốn nổi dậy không và coi anh như một nhà tiên tri, và nói rằng ông ta muốn đến với anh. Kỳ Đồng trả lời rằng anh muốn thấy Đề Thám đến với tư cách là người quy thuận, là người nhà quê. Lần thứ hai, Đề Thám hoãn trả lời trong 10 ngày. Kỳ Đồng luôn hy vọng sự quy thuận đó (của Đề Thám). Chính là với mục đích ấy mà anh đã đến Chợ Kỳ. Anh nói điều đó với mọi người… [bản sao chụp bị mờ mấy chữ] … với bác sĩ Gillard và trên suốt dọc đường. Anh chưa hề biết Đề Thám ở chỗ nào và luôn nghĩ rằng cần phải tiếp xúc với Đốc Bình.
Ngày 20 tháng 9, anh có hỏi trung tá chỉ huy Tiểu khu rằng có thể tiếp các phái viên của Đề Thám không, và trung tá trả lời là có thể được, với điều kiện là phải dùng lời hay lẽ phải khuyên răn họ, và sau đó phải báo cáo cho ông biết tình hình sự việc. Ông không cử phái viên tới. Những người ở Lang Nua đã đi lùng sục trong rừng nhưng không tìm thấy gì cả. Lý trưởng Lang Nua nói với Kỳ Đồng rằng ông ta có một người thân tín có thể đi tìm xem Đề Thám ở đâu. Kỳ Đồng bảo ông ta đưa người đó tới và hứa sẽ có thưởng (50 đồng bạc) nếu Đề Thám muốn ra quy thuận. Lý trưởng Lang Nua nhận lời với điều kiện sẽ không nói gì về việc này. Sau đó ông ta nói là các phái viên của ông không tìm thấy gì, vì những cuộc tuần tra thám sát buộc Đề Thám phải di chuyển chỗ ở. Viên lý trưởng này nói rằng quân (Đề Thám) đóng ở gần Cao Thương. Một lần khác ông ta nói là quân đó ở gần vùng Lang Nua.
Kỳ Đồng không dám nói những điều này với Trung tá vì sợ ngài Thống sứ. Người ta buộc tội anh đã cử phái viên đến Đề Thám, điều đó là không đúng. Anh không dám báo cáo các sự việc đã xẩy ra, sợ rằng lại được báo lên ngài Thống sứ và các ngài Công sứ kác, vì nếu việc này lan truyền ra thì không thể thành công được.
Bị buộc tội đã lợi dụng lúc mọi người Pháp trong đồn điền đều vắng mặt, kể cả bác sĩ Gillard lẫn ông Leguern, để bắt đầu các cuộc thương thuyết đó, Kỳ Đồng trả lời rằng đúng ra ông Leguern phải trở về sau tám ngày vắng mặt, và anh ta không rõ vì sao ông ta lại không trở về sớm hơn. Hơn nữa anh đã nói với ông Leguern rằng các phái viên của Đề Thám đã tới và anh đã trả lời họ. Biết việc này, ông Leguern tức giận và nói: “Ồ! Cẩn thận đấy!”.
Kỳ Đồng được báo trước rằng một đội quân đã được thành lập để đối phó với Đề Thám, và nếu biết có sự hiện diện của toán quân (Đề Thám) mà anh lại không khai báo thì như vậy là anh đã hành động như người phản bội, nhưng anh chưa bao giờ nghĩ rằng anh đã có quan hệ với toán quân Đề Thám.. Đề Thám phải tới tìm gặp anh ba ngày sau cuộc thám sát ở Chợ Kỳ.
Kỳ Đồng khai rằng đêm nào anh cũng ngủ trong lo cốt Chợ Kỳ. Có những ngày anh đi đến điểm A và đến các làng khác và chỉ đến tối mới trở về. Làm sao anh có thể tiếp những người của Đề Thám nếu anh ngủ đêm ở ngoài (khu vực đồn điền). Anh đã tiếp những phái viên cuối cùng của bọn giặc ba hay bốn ngày trước cuộc thám sát ở Chợ Kỳ. Họ đến lấy gạo.
Anh xin được viết thư cho những người của anh để bảo họ đừng bỏ đồn điền mà đi. Tiền bạc của anh do cụ Cai Luong Han giữ.
Khai tại Nhã Nam, ngày tháng năm như trên.
Trung úy Chưởng ấn: Trung tá Liên đội
Chỉ huy Tiểu khu:
MAST PÉROZ
(ký tên) (ký tên)
Xác thực:
KỲ ĐỒNG
(ký tên)
Thư Kỳ Đồng gửi Toàn quyền Đông Dương
( 8 – 9 – 1926 )
BỨC THƯ 4 Papeete, ngày 8 tháng Chín 1926
Nguyễn Văn Cẩm tức Kỳ Đồng.
Lưu đày chính trị tại các Thuộc địa Pháp ở châu Đại Dương
Gửi Ngài Toàn quyền Đông Dương
(nhờ Ngài Toàn quyền các Thuộc địa Pháp
ở châu Đại Dương chuyển đạt)
Thưa Ngài Toàn quyền,
Hồi tôi bị phát lưu ra châu Đại Dương năm 1901, Chính phủ Đông Dương cấp cho tôi mỗi ngày 1 đồng bạc (piastre) để bồi thường tài sản của tôi bị tịch thu. Khoản tiền này vẫn được chính quyền Tahiti trả đều đặn cho tôi vào cuối tháng với tỷ giá 1 piastre ăn 2 francs. Nhưng từ khi đồng franc Pháp bị trượt giá, khoản bồi thường này đã giảm giá nghiêm trọng, nhất là tại các thuộc địa ở châu Úc và châu Mỹ.
Tôi thật sự quẫn bách trong việc chi tiêu, vì vậy mong Ngài Toàn quyền xét cho tôi được nhận tiền theo giá đồng piastre vào cuối mỗi tháng, cũng như đối với những cu-li An Nam vừa tới thuộc địa này (…)
Thưa Ngài Toàn quyền, mong Ngài nhận cho ở đây sự kính trọng và trung thành sâu sắc của tôi.
Ký tên: NGUYỄN VĂN CẨM
Chuyển giao Ngài Toàn quyền
Để xem xét,
Papeete, ngày 8-9-1926
Ký tên: không rõ
TƯ LIỆU VỀ KỲ ĐỒNG
NGUYỄN VĂN CẨM
(Sưu tầm tại các Kho lưu trữ Pháp)
1. Thư Kỳ Đồng viết tại Thái Bình (28-2-1897) gửi Phó Toàn quyền (F.69-56390).
2. Thư Kỳ Đồng viết tại Hà Nội (31-3-1897) gửi Toàn quyền Đông Dương (F.69-56390).
3. Mật báo của Phòng Nhì (22-4-1897) về Kỳ Đồng (F.7-54514).
4. Thư Kỳ Đồng viết tại Thái Bình (2-5-1897) gửi Công sứ Thái Bình (F.69-56390).
5. Thư của Công sứ Thái Bình gửi Phó Toàn quyền (5-5-1897) về tình hình di chuyển của Kỳ Đồng (F.7-34515).
6. Thư của Phó Thống sứ gửi Hiệu trưởng trường trung học Alger (16-6-1896) cung cấp những chi tiết về lai lịch Kỳ Đồng và lý do đưa Kỳ Đồng sang Algérie (GG.9934).
7. Báo cáo của Vụ Trung học lên Bộ Giáo dục Algérie (18-6-1896) về tình hình học tập và sinh hoạt của Kỳ Đồng (GG.9934).
8. Thông báo của Văn phòng Phó Toàn quyền gửi Toàn quyền (16-7-1897) về việc Kỳ Đồng tuyển mộ cu-li ở Thái Bình (F7.34515).
9. Thư của Phó Toàn quyền Đông Dương gửi một người bạn (?) (16-7-1897) về hoạt động của Kỳ Đồng ở Thái Bình, Nam Định (F7-34515).
10. Thư trao đổi giữa Hiệu trưởng trường trung học Alger và Giám đốc Nha quân sự, an ninh Alger (25 và 27-7-1892) về Kỳ Đồng và Hàm Nghi (20-H-11).
11. Điện tín của Công sứ Hưng Yên gửi Thống sứ Bắc Kỳ (10-8-1897) về hoạt động của Kỳ Đồng ở Thái Bình (F7-34514).
12. Điện tín của Công sứ Hưng Yên gửi Thống sứ Bắc Kỳ (10-8-1897) về hoạt động của Kỳ Đồng ở các huyện trong tỉnh (F7-34514).
13. Điện tín của đơn vị lính sen đầm ở Bắc Ninh (23-8-1897) về tình hình tuyển mộ cu-li của Kỳ Đồng (F7-34514).
14. Điện tín của Trưởng đồn Đáp Cầu (23-8-1897) về tình hình cu-li của Kỳ Đồng ở Yên Thế (F7-34514).
15. Điện tín của Đội lính sen đầm từ Phủ Lạng Thương (23-8-1897) về tình hình bệnh dịch gia súc tại các đồn điền của người Pháp ở địa phương (F7-34514).
16. Mật báo của Chỉ huy lính sen đầm Philippeau gửi Thống sứ Bắc Kỳ (30-8-1897) về tình hình cu-li của Kỳ Đồng ở Chợ Kỳ (F7-34515).
17. Mật báo của Sở Cảnh sát Hà Nội về tình hình di chuyển của cu-li do Kỳ Đồng tuyển mộ lên Chợ Kỳ (F7-34515).
18. Mật báo của điệp viên ở Nhã Nam (2-9-1897) về tổ chức, sinh hoạt trong đồn điền Chợ Kỳ (F7-34515).
19. Mật báo của điệp viên Nhã Nam (3-9-1897) về Kỳ Đồng và Leguern (đại diện của bác sĩ Gillard) tại đồn điền (F7-34515).
20. Mật báo của điệp viên ở Bố Hạ (11-9-1897) về tổ chức, nội quy sinh hoạt trong đồn điền Chợ Kỳ (F7-34515).
21. Mật báo của điệp viên (12-9-1897) về việc luyện tập của cu-li trong đồn điền Chợ Kỳ (F7-34515).
22. Mật báo của đồn binh Phủ Lạng Thương (16-9-1897) về dư luận dân chúng quanh nhân vật Kỳ Đồng (F7-34515).
23. Mật báo của điệp viên ở Bố Hạ (17-9-1897) về việc xây dựng nhà ở và tổng số cu-li trong đồn điền Chợ Kỳ (F7-34515).
24. Mật báo của Trưởng đồn Đáp Cầu (17-9-1897) về tình hình cu-li của Kỳ Đồng kéo lên Chợ Kỳ (F7-34515).
25. Mật điện khẩn của đồn Kép gửi Thống sứ Bắc Kỳ (18-91897) về tình hình cu-li của Kỳ Đồng kéo lên Chợ Kỳ (F7-34515).
26. Báo cáo của Công sứ Ninh Bình gửi Thống sứ Bắc Kỳ (20-9-1897 về những người trong tỉnh di chuyển lên Chợ Kỳ, Yên Thế (F7-34514).
27. Khẩu cung Kỳ Đồng (22-9-1897) (GG-47521).
28. Thư của bác sĩ Gillard gửi Kỳ Đồng (25-9-1897 sau khi Kỳ Đồng bị bắt (GG-6201).
29. Thư Kỳ Đồng trả lời bác sĩ Gillard (GG-6201).
30. Tường trình của Thuyền trưởng tàu “Querné” gửi Thống sứ Bắc Kỳ (27-9-1897) về việc đưa Kỳ Đồng từ Phủ Lạng Thương ra Quảng Yên (F7-34514).
31. Công văn của Chỉ huy Quân khu I (28-9-1897) giao nộp bản khẩu cung Kỳ Đồng lên Thống sứ Bắc Kỳ (GG-47521).
32. Mật báo của các điệp viên ở Hà Đông (15-10-1897) về dư luận dân chúng xung quanh vụ Kỳ Đồng (GG-6201).
33. Văn phòng Thống sứ Bắc Kỳ chuyển giao cho cơ quan điều tra các tài liệu bắt được liên quan đến Kỳ Đồng (trong đó có những bằng sắc và thơ của Kỳ Đồng) (15-10-1897).
34. Bản dịch tiếng Pháp tài liệu dạy học của Kỳ Đồng (GG-6201).
35. Hai bài thơ của Kỳ Đồng: “Thiên lý du du…” (chữ Hán và “Đảo thập đẳng danh…” (chữ Nôm) (F7-34515).
36. Mật báo của điệp viên ở Hà Nội (24-10-1897) về dư luận dân chúng xung quanh vụ Kỳ Đồng (GG-6201).
37. Mật báo của Chỉ huy đạo binh Yên Thế (Péroz) (6-11-1897) về tình hình đồn điền Chợ Kỳ (F7-34515).
38. Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ Thuộc địa về vụ Kỳ Đồng (25-11-1897) (IND.NF-Carton 50, Dossier 603).
39. Toàn văn Bản án vụ Kỳ Đồng đăng trên tờ “L’Avenir du Tonkin” số ra tháng 12-1897.
40. Báo cáo của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương về cuộc nổi dậy đồng loạt tại các tỉnh đồng bằng tháng 12-1897 (GG-6069).
41. Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ Thuộc địa (31-12-1897) về vụ nổi dậy đồng loạt nói trên (GG-22344).
42. Quyết định của Toàn quyền Doumer (31-12-1897): đày chung thân 5 người trong “vụ Kỳ Đồng” ra Nouvelle Calédonie.
43. Báo cáo của Phó Toàn quyền gửi Toàn quyền (12-1897) về tình hình ở đồn điền Chợ Kỳ và về Đề Thám (GG-9175).
44. Lá đơn đứng tên 61 người tại đồn điền Chợ Kỳ, đề ngày 2-10 năm Thành Thái thứ 9, gửi chính quyền thực dân yêu cầu trả lại số tiền 13.947 đồng và 4 nén bạc bị tịch thu khi bắt Kỳ Đồng (F.68-56390).
45. Đơn kiện của bác sĩ Gillard gửi Toàn quyền Đông Dương về vụ bắt Kỳ Đồng và tịch thu tiền bạc ở Chợ Kỳ (F.68-56390).
46. Biên bản đối chất của Péroz với bác sĩ Gillard (1898) (F.68-56390).
47. 8 bức thư của những người bị đày biệt xứ trong “vụ Kỳ Đồng” tại Nouvelle Calédonie (11-1898) gửi thân nhân ở quê nhà (GG.F7-27689).
48. Thư và điện của Công sứ các tỉnh (1898) trả lời yêu cầu của Thống sứ Bắc Kỳ về kết quả điều tra những thân nhân các tù nhân lưu đày trong “vụ Kỳ Đồng” được nhắc đến trong 8 bức thư trên.
49. Thông báo của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương (26-6-1899) về việc chuyển Kỳ Đồng từ Nouvelle Calédonie đến Tahiti (Polynésie) (GG-47521).
50. Báo cáo của Chánh mật thám Bắc Kỳ gửi Thống sứ Bắc Kỳ (5-7-1921) trả lời về yêu cầu cung cấp hồ sơ Kỳ Đồng (F.68-56407).
51. Thư Kỳ Đồng viết từ Papeete (Tahiti) ngày 8-9-1926 gửi Toàn quyền Đông Dương, yêu cầu tăng thêm và truy hoàn tiền bị tịch thu, vì thời giá đồng franc đã thay đổi (GG-53443).
Công điện của Toàn quyền các thuộc địa Pháp ở châu Đại Dương gửi Toàn quyền Đông Dương (16-8-1929) báo tin Kỳ Đồng đã qua đời ở Papeete ngày 17-7-1929 (F.68-56407).
MẠC ĐĨNH PHÚC VÀ CUỘC NỔI DẬY
ĐỒNG LOẠT THÁNG 12-1897 (*)
THỦ LĨNH MẠC ĐĨNH PHÚC
Mạc Đĩnh Phúc tên thật là Nguyễn Khắc Tỉnh, ở Xóm Cõi, thôn Bình Hà (nay là xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương). Theo Gia phả họ Nguyễn ở Bình Hà, Nguyễn Khắc Tỉnh là khóa sinh, trưởng tư văn, còn có hiệu là Minh Mẫn, giỗ ngày 18 tháng Giêng (ngày bị xử tử) (1). Ông có học chữ Nho nhưng không đỗ đạt, nhân dân quen gọi là Khóa Tỉnh hay Tiên Tỉnh (theo đạo tu tiên).
Mạc Đĩnh Phúc gây dựng cơ sở chống Pháp trên địa bàn Hải Dương từ trước khi Kỳ Đồng về nước (11-1896). Từ cuối năm 1896 phối hợp với Kỳ Đồng trong một kế hoạch chung, Mạc Đĩnh Phúc khẩn trương chuẩn bị cho cuộc nổi dậy ở đồng bằng theo một phương thức mới. Những đội quân Cần Vương hướng về Hàm Nghi với “sơn phòng”, với chiến lũy kiểu Hương Khê, Ba Đình, Bãi Sậy… đã hết hiệu nghiệm thì phải thay bằng đội quân khác với những thủ lĩnh khác “do trời sai xuống”, nghĩa là những đội quân chính hiệu “thiên binh thần tướng” phối hợp với những đạo “âm binh” đội đất mà lên (!).
Những người nghiên cứu đã có lý khi cho rằng: từ năm 1896 cho đến đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp không còn mang tính chất “cần vương” nữa, nhưng cũng chưa đạt tới phong trào duy tân mang tính chất tư sản (như phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục). Phong trào ở giai đoạn này có tính chất quá độ với đặc điểm là có màu sắc tôn giáo. Phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc là sản phẩm của bối cảnh đó, vì rằng: “Muốn gây nên một cuộc vận động sôi nổi thì phải cần trình bày những quyền lợi thiết thân của quần chúng dưới một sự hóa trang tôn giáo” (F.Engels).
Đây cũng là đặc điểm của phong trào chống Pháp những năm cuối thế kỷ XIX ở Bắc Kỳ và cả ở Trung Kỳ (phong trào Võ Trứ), Nam Kỳ (phong trào Đào Công Bửu)v.v…
Vì vậy, Mạc Đĩnh Phúc – vị thủ lĩnh nhận trách nhiệm cắm chốt ở đồng bằng (trong khi Kỳ Đồng chỉ đạo chung, đóng ở Chợ Kỳ) phải bắt đầu bằng việc tự trang bị những vốn liếng cần thiết về bói toán, địa lý, tử vi…, nghĩa là đủ món “kỳ phương dị thuật” để đi vào quần chúng nông dân đang khắc khoải sau những lũy tre xanh. Ông chữa bệnh, ông mách thuốc, ông đặt mồ để mả… Dần dà ông bảo rằng ông là dòng dõi họ Mạc, dòng họ từng một thời in đậm dấu vết một vương triều trên vùng đất ven biển.
Muốn cho mọi người tin chắc hơn về “sứ mạng” mà dòng họ đã giao phó cho mình, Mạc Đĩnh Phúc phong cho người con trưởng là Thái tử và người con gái là Ngọc Dung công chúa. Ông phao tin đã đào được ấn vàng nhà Mạc khắc bốn chữ “Sắc mệnh chi bảo”.
Nhưng nếu chỉ có như vậy thì cũng chưa đủ để dân chúng quan tâm. Vấn đề mấu chốt là vị “quốc sư” Kỳ Đồng mà tiếng tăm từng lan khắp dân gian cùng với “ông vua” vừa đào được ấn vàng họ Mạc đang đứng ra kêu gọi nhân dân đánh đuổi người Pháp và lật đổ triều đình nhà Nguyễn. Theo họ, cái gọi là “Nam triều” chỉ là một bọn người không biết quốc sỉ, cam tâm làm tôi tớ cho ngoại bang.
Trong buổi ra quân đêm 13-12-1897 tại chùa Minh Khánh (huyện Thanh Hà, Hải Dương) người ta lắng nghe bài hịch “bình Tây diệt Nguyễn” của quốc sư Kỳ Đồng. Bằng lời lẽ đượm màu sắc thần bí, bài hịch vạch mặt chỉ tên kẻ thù cướp nước và tay sai: “Vua tôi nhà Nguyễn tuy tạm thời làm chủ nước Nam nhưng đã qùy gối đầu hàng lũ qủy (…). Nay ta quốc sư Kỳ Đồng vâng lệnh Thiên đình, khâm sai chư tướng và đoàn âm binh, nghe ta triệu tập về đây phi phong hỏa tốc, phải mau mau trổ tài biến hình biến tướng, vâng lệnh này diệt Nguyễn bình Tây”.
Trong dân gian truyền rằng: ngày đó các tướng lĩnh chọn người đóng giả Kỳ Đồng đọc bài hịch trên. “Kỳ Đồng giả” ngồi trên kiệu, để tóc xõa, mặc áo thụng xanh, quần đỏ, đi hia trắng, tay cầm quạt lông ngỗng, thong thả xuống kiệu, bước lên tam quan tuyên đọc bài hịch qua một chiếc loa đồng (Tư liệu của cụ Phan Điềm, đã dẫn).
Lực lượng nghĩa quân do Mạc Đĩnh Phúc tập hợp đa số là những nông dân nghèo khổ. Họ bí mật tham gia tổ chức cứu nước ngay tại quê nhà (ngoài số người đã kéo lên Chợ Kỳ). Có nơi cả làng tham gia nghĩa quân, như các làng Mỹ Đức, Kha Lam (Hải Phòng), Thanh Bình (Hải Dương). Mạc Đĩnh Phúc còn chú ý lôi kéo những binh lính người Việt trong quân đội thực dân Pháp, nhiều người đã giúp nghĩa quân điều tra tình hình địch, lấy trộm súng đạn… Một sĩ quan Pháp thú nhận: “Bọn lính khố đỏ bị thúc bách cực nhọc đã đem bán vũ khí đạn dược…, và những vụ đào ngũ cứ tăng lên” (2).
Một số người đã nhận quan chức của Pháp cũng kín đáo gián tiếp hưởng ứng hoạt động của nghĩa quân hoặc đi hẳn theo nghĩa quân. Trường hợp tri phủ Phạm Duy Du là một ví dụ. Ông ngầm liên kết với Mạc Đĩnh Phúc, về sau bị đày ra Côn Đảo và chết ở đo. Trong dân gian còn lưu truyền bài ca:
“Thiên binh Đĩnh Phúc mới rồ
Quỳnh Côi ta đã có người góp công
Tam giáp tiến sĩ Phạm Công
Duy Du tên gọi anh hùng nêu gương”.
Nguồn tư liệu thực địa (Luận án đã dẫn) cho biết: Nghĩa quân từng tham gia phong trào Cần Vương (như phong trào Tán Thuật), các thân hào thân sĩ bấy lâu ẩn tránh ở chùa chiền, kể cả những người đang làm việc cho Pháp đã bí mật đi theo Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc. Ví như ông Vũ Văn Xuân (tức Cựu Mặn) và ông Lãnh Mộc ở thôn Kỳ Sơn (An Thụy, Hải Phòng) làm bồi cho tên quan hai Pháp ở Hải Phòng là những thủ lĩnh của phong trào “thiên binh” ở Hải Phòng, đã đem nghĩa quân vào chiếm thành phố đêm 15 rạng ngày 16-12-1897.
Hoặc ông Phạm Đình Quỳnh, tri huyện Quế Dương (Bắc Ninh) bất mãn với Pháp, bị triệt hồi, cũng tham gia phong trào “thiên binh”.
Trong dân gian còn truyền rằng: nhân dân nhiều làng như Mỹ Đức, Kha Lam (Hải Phòng), Thanh Bình (Hải Dương đã tham gia hầu như cả lang. Phụ nữ khuyên chồng con: “Người ta đánh Bắc dẹp Đông; Thầy thằng cu Chén ngồi trong góc bếp giương cung bắn mèo!”.
Ban ngày, nghĩa quân vẫn sản xuất trên đồng ruộng như những nông dân bình thường. Đêm đến, khoảng canh một trở đi, khi dân làng đã ngủ yên, nghĩa quân bí mật đến bãi tập đã quy định mang theo vũ khí (gậy, giáo, mã tấu…) và lương thực (cơm nắm, muối vừng). Bãi tập do Mạc Đĩnh Phúc trực tiếp huấn luyện là một khu vườn cấm khoảng 4-5 mẫu ở thôn Bình Hà. Khi tập, người ta thắp đèn đốt hương quanh bãi. Ánh đèn dầu lạc lập lòe quyện với khói hương gợi cảm giác thần bí. Một kỷ luật đặt ra cho nghĩa quân là phải hóa trang khi đến bãi tập, không được nhận mặt nhau: người bôi mặt đen bằng nhọ nồi, người bôi vôi trắng hoặc phẩm đỏ…, nội dung học tập là những bài võ truyền thống như đánh gậy, phóng lao, những bài quyền kiếm… Trước khi trời sáng, nghĩa quân lặng lẽ rút khỏi bãi tập, xóa sạch mọi dấu vết trên bãi. Các địa điểm luyện tập được bố trí cách biệt nhau. Một cơ sở rèn vũ khí bí mật đặt tại Kiến An với những xưởng nhỏ phân tán ở 36 địa điểm trong tỉnh (rèn mã tấu, giáo “lá mây”, dao găm búp măng…) (3).
Theo lời kể của những ngươi già ở địa phương, để giữ bí mật, mỗi nghĩa quân có một “tên thần”, sử dụng khi tiếp xúc, luyện tập. Chỉ có Mạc Đĩnh Phúc mới có quyền giữ danh sách về tên thật (và “tên thần”) của nghĩa quân. Lực lượng của Mạc Đĩnh Phúc được chia thanh thủy quân và lục quân. Ví như lục quân ở Hải Dương do lục lãnh binh Lê Văn Trác phụ trách và thủy quân do thủy lãnh binh Phạm Đình Quỳnh phụ trách.
Các cụ già địa phương còn kể rằng: khi chuẩn bị khởi sự, nghĩa quân thống nhất trang phục. Cấp chỉ huy chít khăn đầu rìu, mặc áo dài nâu, thắt lưng vải trắng. Nghĩa quân chít khăn nâu qua cằm, thắt lưng dây chuối, quần bó xà cạp, trên mặt vẽ 3 vòng tròn đen trắng đỏ ở hai mắt và quanh miệng, ngực đeo một tấm thẻ tre khoảng 5cm ghi hai chữ “Thiên binh” cùng họ tên quê quán (4). Về sau, thực dân Pháp đã thu được một số thẻ tre này: “Bọn chúng đều cắt tóc ngắn, thắt lưng màu trắng và mang một tấm thẻ căn cước ghi rõ chúng là “lính nhà trời” (Daufès – Sách đã dẫn).
Theo các tác giả Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Đặng Huy Vận, nghĩa quân Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc chia thành cơ, đội, vệ, nha, hộ và đỉnh, do quản lĩnh, đề chưởng, thống chế và đo hiến chỉ huy. Cứ 30 người là 1 đội, 4 đội là 1 cơ, 4 cơ là 1 vệ (Lịch sử cận đại, Tập II, tr.319).
Các thủ lĩnh nghĩa quân khuyên nhân dân góp sắt vụn, dao cùn, răng bừa để rèn vũ khí. Một số làng ven sông (Vàng Xá, Lang Động, Cập Nhất, Cập Thượng) thì trồng chuối, sắp sẵn thuyền thúng, tre, nứa, lạt, giây thừng… để khi tiến đánh thì bắc cầu phao bằng thân cây chuối kết vào thuyền.
Các cụ già ở xã Vĩnh Hòa (Ninh Giang, Hải Dương) cho biết vũ khí của nghĩa quân chủ yếu là giáo mác, dao găm, mã tấu, gậy tre dài 3 thước vót nhọn và một ít khẩu súng (Luận văn đã dẫn).
CUỘC NỔI DẬY ĐỒNG LOẠT
GIỮA THÁNG 12 – 1897
Công việc chuẩn bị bạo động đang tiến hành gấp rút thì đầu tháng 12-1897 thực dân Pháp lập tòa án hỗn hợp xét xử các “đồng đảng” của Kỳ Đồng ở Yên Thế và quyết định đày chung thân 9 người ra khỏi lãnh thổ Đông Dương. Có lẽ để tránh những tổn thất lớn có thể xẩy ra cho phong trào, Mạc Đĩnh Phúc và bộ tham mưu nghĩa quân quyết định phát động ngay cuộc nổi dậy giữa tháng 12, tấn công đồng thời thành phố Hải Phòng, các thị xã Hải Dương, Thái Bình và một số huyện lỵ.
NỔI DẬY Ở HẢI DƯƠNG:
Ngày 13-2-1897, nghĩa quân do Mạc Đĩnh Phúc trực tiếp chỉ huy tập trung tại chùa Minh Khánh (tức chùa Hương Đại, xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà) làm lễ tế cờ trước khi xuất phát. Một lá cờ màu nâu mang dòng chữ “Bình Tây diệt Nguyễn” được treo lên ngọn cây đa cổ thụ ở xứ đồng Thủy Quan (xóm Hương Đại).
Trong dân gian còn lưu truyền bài thơ “Tế cờ”:
Triển khai quốc sự hôm nay
Dựng cờ khởi nghĩa diệt Tây cứu nòi
Dù cho máu chảy đầu rơi
Quyết tâm giữ lấy đất trời tự do
Đồng lòng nhất trí hô to
Bình Tây diệt Nguyễn chung lo việc này
Núi kia trên đỉnh cờ bay
Hướng theo hiệu lệnh đánh Tây đến cùng
(Tư liệu của cụ Phạm Văn Trúc (làng Kha Lãm, xã Nam Hà, thị xã Kiến An) – Bản dịch từ Gia phả – Luận văn của Đoàn trường Sơn, đã dẫn).
Nghĩa quân đội ngũ chỉnh tề, nghe tuyên đọc bài hịch của “quốc sư” Kỳ Đồng.
Hịch ra quân được truyền đọc đêm 15 rạng ngày 16-12-1897 tại chùa Minh Khánh (tức chùa Hương Đại), xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, Hải Dương):
Bớ thiên tướng! Bớ âm binh!
Các ngươi được thiên đình phái xuống và âm phủ cử lên. Các ngươi thần sóng, thần gió, thần sông, thần ngòi tự biển Đông kéo vào đây. Các ngươi thần gò, thần đống, thần suối, thần sông ở trong rừng xanh núi đỏ tiến ra. Các ngươi đều la những thiên tử nhà trời, chịu ơn sâu nghĩa nặng của thượng đế không phải nhỏ.
Vậy các ngươi há chẳng biết giang sơn nước Nam này thuộc khu vực của Nam thiến thánh đế đó sao! Ay thế mà lũ bạch qủy phương Tây ngạo ngược dám xâm lược thánh địa để chiếm tài nguyên, hãm hại lê dân và tàn sát những người thờ cúng các người. Còn vua tôi nhà Nguyễn tuy được tạm thời làm chủ đất nước, nhưng qùy gối đầu hàng lũ qủy, cam phận tà ma tôi tớ nên thượng đế nổi giận lôi đình, kịp thời hạ chiếu ch3 giáng thế cho Nam thiên thế tử, trụ danh ở phàm trần là Nguyễn Khắc Tỉnh nhưng thuộc dòng dõi nhà Mạc nên đổi lại là Mạc Đĩnh Phúc để trị vì nước Nam cứu dân độ thế.
Nay ta quốc sư Kỳ Đồng vâng lệnh thiên đình, khâm sai chư tướng và đoàn âm binh, nghe ta triệu tập về đây phi phong hỏa tốc phải mau mau trổ tài cứ lệnh sai: biến hình biến tướng, vâng hịch này diệt Nguyễn bình Tâ)!
(Tư liệu của cụ PHAN ĐIỀM tức LÊ ĐẠI LÂM)
Bài hịch vừa dứt, nghĩa quân thổi tù và, đánh thanh la, reo hò vang dội và chia làm hai cánh tiến về thị xã Hải Dương. Một cánh khoảng 600 người do lục lãnh binh Lê Văn Trác chỉ huy theo đường 19 ra đường 5 (ở vị trí cầu Phú Lương ngày nay) tiến về thị xã. Cánh thứ hai do thủy lãnh binh Phạm Đình Quỳnh chỉ huy từ đò Hương qua sông Cốm, sông Vàng rồi đi thuyền theo sông Hàn (một nhánh của sông Thái Bình) tiến vào. Hai cánh quân tạo thành thế gọng kìm vây đánh đồn lính khố xanh và tòa sứ. Từ chập tối, công sứ Robineau đã được mật báo “một trận đánh sắp xẩy ra” và đang ra lệnh điều tra thì tiếng súng đã nổ bên đồn lính và các đám cháy đã bốc cao ở phía chợ.
Tại đồn lính khố xanh, nghĩa quân vừa tấn công vừa kêu gọi: “Bớ Tây đồn! Bố lính khố xanh! Là phàm trần, các ngươi dù có súng đạn cũng không thể đương nổi binh hùng tướng dũng của nhà trời. Kẻ nào quy thuận thì sống, chống thì chết!”. Khoảng 11 giờ đêm, vài chục nghĩa quân đã vào được trong đồn. Viên giám binh Archard, phó giám binh Duverge và vài tên khác hoảng hốt, xin hàng. Nhưng bọn lính trong đồn chưa bị tiêu diệt nên cuộc tấn công nhanh chóng bị bẻ gãy. 69 nghĩa quân hy sinh tại trận, số còn lại rút lui trước khi trời sáng.
Có thể bổ sung mấy chi tiết: Cánh quân thứ nhất do lục lãnh binh Lê Văn Trác (người thôn Kỳ Tây, tổng Du La) chỉ huy. Nghĩa quân vượt sông Thái Bình bằng cầu phao ghép bằng thân cây chuối và thuyền, tiến sang thị xã đánh thốc vào đồn Borkel và bao vây tòa sứ. Khi đang vượt sông, Lê Văn Tác được tin mật báo là binh lính trng đồn rất đông,,lại nhiều vũ khí, không nên dánh đồn nữa, nhưng nghĩa quân vẫn cứ xông lên.
Phạm Đình Quỳnh, nguyên tri huyện ở Hải Dương, bị thải hồivề tội làm sổng tù, quay sang gia nhập nghĩa quân nhưng vẫn chờ thời cơ làm phản. Quỳnh lén lút ở lại trong thuyền, chờ đến sáng ra đầu thú. Y bắt được một nghĩa quân tên là Lê Văn Lở (con trai của lục lãnh binh Lê Văn Trác) đem nộp cho viên tuần phủ Hải Dương.
Sau khi nghĩa quân rút khỏi các thị xã, thành phố, thực dân Pháp truy nã và khủng bố dã man các thủ lĩnh và nghĩa quân. Ở Hải Dương, Pháp sai lính đi lục soát, kê khai từng nhà, bắt bớ chém giết dã man, có đến 500 ngươi bị xử chém (tư liệu của Đỗ Thiện – Tạp chí NCLS đã dẫn).
Thủ lĩnh Mạc Đĩnh Phúc bị bắt ngày 22-12, bị nhốt cũi đưa về Hải Phòng chém đầu ngày 29-12-1897. Hai người con trai của Mạc Đĩnh Phúc: Nguyễn Khắc Tiêm về sau tham gia tổ chức đưa Phan Bội Châu xuống tàu đi Nhật; Nguyễn Khắc Huynh, thợ chạy tàu biển Hải Phòng đã góp phần đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật (trong phong trào Đông Du). Người cháu của Mạc Đĩnh Phúc là Phó Toản đã từng che giấu cụ Phan Bội Châu trong nhà, trước khi cụ xuất dương.
Một cánh tay đắc lực của Mạc Đĩnh Phúc là Phan Cung, đỗ cử nhân (Cử Cung). Khi phong trào thất bại, Phan Cung về quê ở Châu Phong, (Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) cùng Tú Ngôn, Tú Cúc, Nho Thân, Đồ Điện tổ chức nhóm “Trúc lâm ngũ hiểm” (?), làm thơ, quyên tiền giúp phong trào Đông Du (tư liệu của Đoàn Trường Sơn – Luận văn đã dẫn).
Cuộc tấn công thị xã Hải Dương không thành công nhưng đã chính thức mở màn cho hàng loạt cuộc nổi dậy ở các nơi khác.
Nhận xét về cuộc tấn công thị xã Hải Dương, Thống sứ Bắc Kỳ viết: “Ở Hải Dương, cuộc phiến động có vẻ nghiêm trọng hơn cả, vì ngài Công sứ và các viên chức chỉ được báo sơ sài rằng đây chỉ là cuộc tấn công của một đám nổi loạn khoảng 100 người, chẳng có vũ khí nào ngoài gậy tre và giáo mác. Nhưng rõ ràng đây là một cuộc tấn công nghiêm trọng. Hồi 9 giờ đêm, bọn An Nam đã kéo đến tận đồn nhỏ, vì hình như ở đây không được canh phòng cẩn thận. Nhưng bọn phiến loạn đã bỏ chạy sau mấy phát súng của viên thanh tra Arlhac. Chúng chạy qua trước khu nhà có nhiều người Pháp cư trú và phóng hỏa đốt nhiều nhà tranh ở hai đầu thị xã…” (Báo cáo gửi Toàn quyền – Kho lưu trữ ở Aix…, 6069).
Cùng ngày 13-12, nghĩa quân tấn công đồn Ninh Giang. Khoảng 600 nghĩa quân do Đốc Liễu và Đội Ba chỉ huy làm lễ tế cờ ở Miếu Cả. Đốc Liễu dẫn đầu nghĩa quân tiến về đồn Ninh Giang theo đường 17A, liên tiếp phá 3 hàng rào gỗ bao quanh đồn, phá cổng đồn tiến vào chiến đấu suốt đêm nhưng không hạ được đồn, phải rút lui về phía sông Luộc (Tư liệu Kho lưu trữ ở Aix… - đã dẫn).
Ba hôm sau, trưa ngày 16-12, nghĩa quân lại tấn công đồn Qúy Cao (nay thuộc Hải Phòng). Cuộc chiến đấu kéo dài từ trưa đến tối, nhưng khi lính đồn có thêm viện binh, nghĩa quân phải rút lui. Các toán nghĩa quân khác cũng đồng thời bao vây uy hiếp các đồn Tứ Kỳ, Gia Lộc, Nam Sách, Cẩm Giàng.
Có thể dẫn thêm một số chi tiết qua nguồn tư liệu thực địa: Hải Dương là địa bàn phát triển mạnh nhất của phong trào. Làng Bình Hà (huyện Thanh Hà) là vị trí đóng quân cũng là đại bản doanh của Mạc Đĩnh Phúc. Ngày khởi sự, hầu hết các cánh nghĩa quân đóng rải rác trong tỉnh đều kéo về tụ họp ở tổng Du La. Theo lời kể của các cụ già, người ta giết một con trâu, hai con lợn và nấu cơm t61n 5 cót gạo, nhưng chia ra mỗi mâm cơm chỉ có một bát thịt trâu, một đĩa thịt lợn và một bát nước mắm.
NỔI DẬY Ở HẢI PHÒNG, KIẾN AN
Hai ngày sau cuộc nổi dậy ở thị xã Hải Dương, đêm 15-12-1897, khoảng 500 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Lãnh Mộc, Tổng Tốn làm lễ tế cờ ở đình Kỳ Sơn (nay thuộc thị xã Kiến An) rồi chia làm hai cánh tiến vào thành phố Hải Phòng.
Cánh thứ nhất khảng 200 người theo đường Lạch Tray qua sông đào Bonnal (5) bao vây toà sứ và mấy dinh thự của Pháp.
Cánh thứ hai cũng khoảng hơn 200 người đi qua làng An Biên đến ngã tư đường Quần Ngựa – Lạch Tray (nay là khu vực sân vận động) đánh phá nhà lao và đốt khu nhà của Pháp ở phía đường Đồ Sơn, trong đó có nhà máy albumine của hãng Baudin-Moreau. Ngay phút đầu, nghĩa quân giết chết tên kế toán Gautier và làm bị thương nặng tên Faussemage. Binh lính hoang mang không kịp trở tay, đối phó yếu ớt. Nghĩa quân hầu như làm chủ thành phố suốt đêm đó; mãi đến gần sáng quân Pháp mới bắt đầu phản công, đẩy lùi nghĩa quân ra khỏi các vị trí. Những nghĩa quân hy sinh được kịp thời đưa về mai táng tại làng Ruồn (nay là xã An Tiến, thị xã Kiến An), hiện còn di tích một số mộ”thiên binh”.
Một cuộc khủng bố điên cuồng đã diễn ra trên các đường phố Hải Phòng, Kiến An. Ngay hôm sau, quân Pháp xử chém và bêu đầu hàng chục nghĩa quân để uy hiếp tinh thấn dân chúng.
Thống sứ Bắc Kỳ báo cáo về tình hình ở Hải Phòng như sau: “Ở Hải Phòng, một đám từ 100 đến 150 người An Nam tập trung ở các làng lân cận. Hồi 10 giờ đêm, chúng tiến về các ngoại ô mà không ai phát hiện được. Chúng phóng hỏa đốt mấy nóc nhà. Trạm lính gác tưởng là một đám cháy bình thường và đã chạy tới cứu hỏa, không mang theo vũ khí; mấy phút sau họ mới nhận ra sai lầm. Vừa lúc đó, một tốp lính tập đã kịp đến, đủ sức đuổi bọn An Nam bỏ chạy tán loạn” (Báo cáo đã dẫn).
NỔi DẬY Ở THÁI BÌNH
Đêm 15-12, cùng một lúc với Hải Phòng, Kiến An, nghĩa quân ở Thái Bình với lực lượng ngót 200 người do Sư Thụ chỉ huy, theo đê sông Trà Lý tiến về thị xã.
Về Sư Thụ, có sách chép rằng ông tu ở chùa Lãng Đông (Kiến Xương, Thái Bình) (Trần Văn Giàu – Chống xâm lăng, Tập III – Hà Nội 1957). Theo nguồn tư liệu thực địa, Sư Thụ là người họ Khúc, quê ở Thụy Anh, tu ở chùa Dù, từng tham gia phong trào chống Pháp của Tạ Hiện. Sư chùa Lãng Đông tham gia phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc là Sư Phúc (Nguyễn Thái Phúc) quê ở Phủ Lý (Hà Nam). Trong dân gian còn lưu truyền bài ca về Sư Phúc:
Năm Đinh Dậu [1897] nghĩa quân Sư Phúc
Từ Lãng Đông trống giục cờ dong
Bình Tây diệt phản nguyên nhung
Tiến quân dưới ánh lửa hồng oai phong…
(Tư liệu của Nguyễn Tiến Đoàn và Dương Quang Châu) (7)
Một bộ phận khác tiến về làng Luật Trung đốt nhà tên Trần Văn Khiêm (6), phá kho thóc của hắn chia cho dân. Cánh nghĩa quân do Lãnh Chuẩn trực tiếp chỉ huy đánh vào dinh công sứ David.
Trong bài ca đã dẫn có đoạn nói về Lãnh Chuẩn:
Lãnh Chuẩn phó tướng anh hùng
Tả xung hữu đột ghi công hàng đầu
Dẫu hiềm chưa đạt sở cầu
Hữu thiêng vì đã đoạn đầu vì dân…
Kéo đến cổng dinh, nghĩa quân nhất loạt reo hò; lính canh nổ súng, họ vẫn hăng hái xông tới giữa tiếng chiêng trống cổ vũ của nhân dân hai bên đường phố. Một cánh nghĩa quân khác tiến đánh dinh tuần phủ Vương Hữu Bình. Tên này không dám nghênh chiến, chỉ sai lính đứng trên thềm cao xả súng loạn xạ.
Cuộc chiến đấu ở dinh Công sứ đang quyết liệt thì viên giám binh Littaye đem lính đến giải vây. Hàng ngũ nghĩa quân bắt đầu rối loạn. Sư Thụ bị thương ở cánh tay, trốn vào nhà dân ở làng Kỳ Bá, sáng hôm sau thì bị bắt. Theo lệnh của công sứ David, viên Tri phủ Kiến Xương đem lính về tận làng Lãnh Đông lục soát căn cứ của Sư Thụ, tịch thu ấn tín bằng sắc và bắt thêm một số người giải về tỉnh.
*
Cuộc tấn công đồng loạt của nghĩa quân vào các thị xã, thành phố đã nhanh chóng bị dập tắt. Mấy ngày sau, quân Pháp kéo về làng Thanh Hà càn quét, bắt được Mạc Đĩnh Phúc giải về thị xã Hải Dương và xử tử ông vào ngày 29-12-1897.
Trong báo cáo gửi Toàn quyền (đã dẫn), Thống sứ Bắc Kỳ nói về Mạc Đĩnh Phúc như sau: “Có một vụ bắt giữ xem ra quan trọng hơn cả. Tôi muốn nói đến vụ bắt tên Khóa Tỉnh. Y khai là Mạc Đĩnh Phúc, là tác giả nhiều bản tuyên cáo phổ biến ở Bắc Kỳ đã hơn 2 tháng nay. Người đứng tên trong các bản tuyên cáo đó chính là Mạc Đĩnh Phúc, tự xưng dòng dõi cuối cùng của triều vua Mạc, xúi giục người An Nam đánh đuổi người Pháp và lật đổ triều vua Nguyễn (..). Trong các lần lấy khẩu cung, y dám chối rằng y không biết mặt Kỳ Đồng và chỉ quan hệ với Kỳ Đồng qua những kẻ trung gian…”.
Nhận định về thực chất cuộc nổi dậy này, Thống sứ Bắc Kỳ cho rằng:”Những vụ rối động xẩy ra bất ngờ…, và các công sứ ba tỉnh đều nhất trí với nhau rằng đây là sự kế tiếp của vụ Kỳ Đồng do chính đồng đảng của Kỳ Đồng gây ra. Chứng cớ là một số người bị bắt đều khai chúng là bạn hữu của Kỳ Đồng” (Báo cáo đã dẫn).
Bản báo cáo cũng thừa nhận: “Phần đông bọn này đều là những người đã từng theo Kỳ Đồng lên Yên Thế và chúng tôi đã sớm phát hiện điều đó từ hồi tháng 10”.
Cuộc nổi dậy đồng loạt giữa tháng 12-1897 ở mấy tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ có lẽ đã nổ ra trong hoàn cảnh chưa thật chín muồi nên bị đàn áp nhanh chóng (8). Nhưng hoạt động của phong trào mang danh nghĩa Kỳ Đồng vẫn tồn tại âm ỉ trong suốt cả năm 1898 và lại bùng lên một lần nữa với cuộc đột nhập thành phố Hà Nội cuối năm đó (9).
-------------------
(*) Ngoài các tư liệu chúng tôi khai thác tại các Kho lưu trữ quốc gia ở Pháp và các tư liệu thư tịch, điền dã của nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Đoàn, chúng tôi có tham khảo và bổ sung các tư liệu trong hai Luận văn sau đây:
1/ Cao Đức Hậu – Phong trào Kỳ Đồng và mối liên hệ với các phong trào cùng thời – Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1973.
2/ Đoàn Trường Sơn – Mạc Đĩnh Phúc và mối liên hệ với các phong trào cùng thời – Khoa Lịch sử, Trương Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1977.
(1) Tư liệu của cụ Nguyễn Khắc Huynh, cháu đích tôn của Mạc Đĩnh Phúc.
(2) Capitaine Rouger – Histoire de l’Annam et du Tonkin depuis 1790 – Paris 1906.
(3) Tư liệu của GS.Đinh Xuân Lâm.
(4) Tư liệu của các cụ Phan Điềm, Nguyễn Trọng Bàng.
(5) Kênh Bonnal: tức sông Lấp ngày nay. Trước năm 1900, kênh này chảy qua thành phố, ra tận cảng.
(6) Trần Văn Khiêm nguyên là tri huyện, đực thăng đồng tri phủ (phủ Phụ Dực), từng dẫn đường cho công sứ Brière đàn áp phong trào văn thân ở Thái Bình những năm 1885-1886.
(7) Thêm một bài ca về Sư chùa Lãng Đông:
Mới năm Đinh Dậu [1897] mới rồi
Ông sư chùa Lãng là người đảm đang
Viết lời hiệu triệu cả làng
Đã từ Năng Nhượng lại sang Trực Tầm
Chiều hôm thì ở Đồng Sâm
Rạng mai Đắc Chính, tới tầm Dục Dương
Hội về nghĩa sĩ bốn phương
Phất cờ nổi trống lên đường đấu tranh
Phá dinh Công sứ Thái Bình
Cờ đào bốn chữ nổi danh anh hùng
Bình Tây diệt Nguyễn lập công
Rắp tâm dựng lại non sông huy hoàng
Thương ôi chưa hợp lại tan
Bể Đông nổi sóng hờn oan ngậm ngùi
Cửa thiền vang tiếng chuông bồi
Tiếng thơm truyền để muôn đời về sau.
(Tư liệu của Nguyễn Tiến Đoàn)
(8) Các tác giả Lịch sử cận đại Việt Nam, Tập II (Sách đã dẫn) cho rằng phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc mang tính chất quá độ. Nó không còn thuộc ý thức hệ “trung quân ái quốc” (như phong trào Cần Vương): “Mạc Đĩnh Phúc đã kịch liệt công kích họ Nguyễn, nhất là Tự Đức. Gia Long, Minh Mạng tàn bạo, giết người ruột thịt; Tự Đức không phải là con của cha mình, phung phí tiền của làm “Vạn niên cơ”, dùng người bất tài và xu nịnh, rồi lại đem xã tắc cho người Pháp như con dựa vào cha. Nay đất nước lại trong vòng hắc ám, nhà Nguyễn không thể nào phục quốc được”.
Tác giả Cao Đức Hậu (Luận văn đã dẫn) đã có lý khi cho rằng: “Từ năm 1895, với thất bại của khởi nghĩa Phan Đình Phùng, phong trào của nhân dân bắt đầu chuyển hướng. Tuy chưa phải là hướng của Duy Tân hội về sau, nhưng không còn là hướng của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng nữa. Năm 1896 đã chấm dứt thời kỳ Cần Vương cũng là năm mở đầu chính sách khai thác thuộc địa có hệ thống của thực dân Pháp ở Việt Nam. Do vậy, phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc (cũng như những phong trào tương tự ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và cả ở Nam Kỳ những năm cuối thế kỷ XIX) có tính chất quá độ.
Tác giả cũng đã rút ra những đặc điểm khá xác đáng:
+ Phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc là một phong trào chống Pháp khá rộng lớn, vừa dựa vào rừng núi, vừa dựa vào đồng bằng đông dân, giàu có (khác với phong trào Hoàng Hoa Thám), vừa chọn Yên Thế để xây dựng căn cứ, vừa vận động nhân dân phát triển lực lượng quanh các thành phố, thị xã, đánh vào trung tâm cai trị và kinh tế của Pháp. Thành phần tham gia gồm nhiều tầng lớp nhưng động lực chính vẫn là nông dân nghèo khổ, giàu lòng yêu nước.
+ Là một phong trào có màu sắc tôn giáo: thất bại trước sức mạnh vũ khí của địch mà lòng thì khát khao đánh đuổi xâm lăng, nhân dân gửi gấm niềm tin vào phù phép, bùa chú… mà những người ái quốc đã khéo vận dụng để tập hợp họ. Tuy vậy, trong phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc, hình thức đấu tranh vũ trang vẫn là cơ bản,
(9) Theo tờ L’Avenir du Tonkin (số ra ngày 7-12-1898), cuộc đột nhập bắt đầu từ 1 giờ đêm 5 rạng ngày 6-12, đụng độ với lính khố xanh trong 3 tiếng đồng hồ.
Một toán nổi loạn đi theo đường Sơn Tây, một toán khác kéo xuống đường Sinh Từ, toán thứ ba đi theo đường Hoài Đức rồi tập trung ở Văn Miếu và các làng lân cận Quốc Tử Giám, vì khu vực này có nhiều lũy tre.
Quân nổi loạn khoảng 300 người, nấp trong các bụi tre và trong các căn nhà dọc đường Sinh Từ rồi xông vào trại lính, phóng lao tới tấp vào lính tráng đang nằm ngủ trên giường (phản). Nghe tiếng động, bọn lính ở các phòng khác trong trại bừng dậy chạy đến giải vây. Cùng lúc, nhiều đám cháy dữ dội bùng lên ở vùng ngoại vi Hà Nội (trong đó có làng Cầu Giấy). Trong đám lính tập có nhiều người đã là thám tử của quân nổi loạn.
Ngôi nhà của đại tá Casier có vị trí rất quan trọng mà cả phía ta [ý nói: quân Pháp] lẫn phía quân nổi loạn đều cần chiếm giữ như một cao điểm, vì từ lầu một của ngôi nhà có thể nhằm bắn đối phương rất vừa tầm và thuận lợi. Tuy không hiểu biết gì về chiến thuật quân sự, bọn nổi loạn cũng thừa hiểu phải chiếm ngôi nhà để bao quát trận địa… Cũng may mà lính tập đã giải thoát được cho đại tá Casier và giành lại vị trí này, nã súng “Lebel” tới tấp vào quân nổi loạn. Cuộc chiến diễn ra ác liệt; mãi đến 11 giơ sáng ngươi ta còn thấy máu lai láng trong cái hố bên hẻm nhà ông Casier. Chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy những sĩ quan và binh lính mệt lả, máu chảy lai láng trên đất, tuy người ta đã tìm cách xoá ngay dấu vết.
Cuối cùng quân nổi loạn đành rút lui: một toán rút theo phố Hàng Bông, phố Tràng Thi và phố Thợ Nhuộm. Một toán khác rút về phía Tứ Trụ (?). 120 tên nổi loạn đã bị bắt giữ; ta thu dược nhiều súng và cờ xí giống hệt những thứ đã thu được trong vụ đột nhập vào Hải Phòng một năm trước do Kỳ Đồng khởi xuất (…).
Người ta ngạc nhiên vi sao thành phố Hà Nội lại có thể bị đột nhập dễ dàng như vậy ? Vì coi nhẹ những tin tức của báo chí hay vì lạc quan quá đáng về tình hình ? Cho nên, khi sự biến xẩy ra thì lính trong trại bị bất ngờ và người ta mới bổ đi tìm các sĩ quan ở ngoài phố! Nếu cuộc đột nhập của quân nổi loạn có hiệu quả hơn thì tai họa sẽ còn lớn đến thế nào!
Người ta phao tin là quân nổi loạn chỉ trang bị loại gươm giáo trong chùa [đồ thờ]! Làm sao có thể tin rằng với những giáo mác như vậy mà quân nổi loạn đã cầm cự được hai tiếng đồng hồ trước những đội lính do sĩ quan Pháp chỉ huy!. Phải nói đúng hơn rằng phần lớn quân nổi loạn đã trang bị súng trường, mà những viên đạn hiện còn nằm trong thân thể các lính tập là những bằng chứng.
Dù muốn che giấu sự thật thì cũng không thể giấu nổi một thực tế là: trong dân chúng An Nam hiện đang bao trùm một không khí dễ sợ. Không ít gia đình ở Hà Nội có chồng đã chết khi nổi dậy chống người Pháp, hoặc có khi là một đứa con trai, một người thân thích…
Dân chúng Hà Nội cũng thừa biết trong đám nổi loạn bị bắt giữ có nhiều người vóc dáng cao lớn từ vùng trung du xuống (người Thổ), và đây là lần đầu tiên có hiện tượng này. Những tên nổi loạn từ Sơn Tây đến, nhất là từ Vĩnh Yên, vì quá cực khổ nên đã bị đồng đảng của Kỳ Đồng lôi kéo vào cuộc. Bọn này còn loan tin rằng Kỳ Đồng đã thoát khỏi tay người Pháp và chẳng bao lâu nữa anh ta sẽ trở ra Bắc Kỳ!
Nấp trong các lùm tre, quân nổi loạn chuẩn bị cuộc tấn công mà toán lính tuần tra lúc 10 giờ chẳng phát hiện được điều gì khác thường. Chỉ có chính quyền là không hề biết trước cuộc đột nhập này trong khi dân chúng Hà Nội thì đã biết! Từ 9 giờ tối hôm trước, người Tàu đều đóng cửa hiệu kín mít. Sau 10 giờ, không còn một bóng cu-li xe nào lảng vảng trên các đường phố.
Có lẽ chúng ta không nên nói rằng trong vụ Hải Phòng năm ngoái, quân của Kỳ Đồng không chỉ tấn công người Pháp mà còn tàn phá trong dân chúng! Chúng ta chẳng có gì phải lo ngại và loan truyền như thế. Vấn đề là chính quyền không nên coi chúng tôi [ý nói: các nhà báo] như lũ con nít, mà cần cung cấp cho chúng tôi sự thật đầy đủ.
Bài báo này đang lên khuôn thì chúng tôi vừa nhận được một báo cáo chính thức từ phủ Thống sứ thừa nhận có 4 người bị giết, 6 người bị thương, 11 người bị lính khố đỏ bắt, 60 người bị lính tập bắt. Như vậy là sự thật khác xa với báo cáo của ông đại tá sen đầm và gần khớp với con số chúng tôi đã đưa tin, giúp chúng ta nhận ra đây rõ ràng là một cuộc đụng độ vũ trang kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ.
BÁC SĨ GILLARD
Cho đến nay, chúng ta chưa có thêm tư liệu để làm sáng tỏ hơn lai lịch của bác sĩ Gillard, nhất là sự hợp tác của Gillard và Kỳ Đồng tại đồn điền Chợ Kỳ.
Theo tác giả Đỗ Thiện, trên chuyến tàu về Đông Dương, Kỳ Đồng làm quen với Gillard và “trong câu chuyện, Kỳ Đồng biết được bác sĩ Gillard muốn có người cộng tác để mở một đồn điền trên miền ngược. Kỳ Đồng nhận lời với ý định lợi dụng để xây dựng một căn cứ chống Pháp sau này (…). Gillard là người có thế lực nên xin đưa người lên khai khẩn được dễ dàng…” (1). Và ngược lại, theo tác giả Nguyễn Thế Anh, “hình như Gillard muốn lợi dụng tiếng tăm Kỳ Đồng để mộ phu với giá rẻ lên đồn điền mênh mông của ông ta, nếu không thì ông chẳng thể nào thực hiện được việc khai khẩn bằng những phương tiện riêng của mình” (2).
Ý kiến của Đỗ Thiện cũng như của Nguyễn Thế Anh đều có cơ sở. Tuy nhiên, theo một số thư từ giữa Kỳ Đồng và bác sĩ Gillard (sau khi Kỳ Đồng bị bắt) cũng như lá đơn kiện của Gillard gửi Toàn quyền Đông Dương về vụ tịch thu tiền bạc ở Chợ Kỳ, tiếp đó là Biên bản đối chất của viên chỉ huy đạo binh Yên Thế (Péroz) về những nội dung trong đơn kiện của Gillard mà chúng tôi sưu tầm thêm ở Kho lưu trữ Aix-en-Provence (Pháp) thì có lẽ mối quan hệ hợp tác giữa Kỳ Đồng và Gillard vẫn cần được tìm hiểu thêm.
Trong khi chờ đợi những phát hiện mới về tư liệu cũng như cách lý giải gần với sự thật hơn, chúng tôi xin trích giới thiệu một vài tư liệu nói trên để tiện tham khảo:
1. Ba ngày sau khi Kỳ Đồng bị bắt,
bác sĩ Gillard gửi Kỳ Đồng bức thư như sau:
Văn phòng Hà Nội, ngày 25-9-1897
Bac sĩ Gillard Gửi Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm
Tôi được biết anh bị bắt đã hai hôm nay. Sau đây là những lý do người ta cho t6I biết:
1/ Anh đã cung cấp lương thực và vũ khí cho Đề Thám.
2/ Ngoài ra, anh đã thú nhận rằng mục đích của anh là lật đổ chính quyền Pháp ở Bắc Kỳ.
Lại còn có những lý do quan trọng hơn nữa, người ta không muốn thông báo với tôi.
Trước khi anh rời Bắc Kỳ, tôi khẩn thiết yêu cầu anh kể lại việc anh bị bắt như thế nào, khẩu cung của anh… Tôi đã cố gắng để giúp anh ở đây… Anh hãy gửi thư trả lời tôi, thư phải đánh số trang và gửi qua trung gian nhà chức trách đang giám sát anh.
Tôi sẽ tiếp tục giữ những người của anh ở lại các làng đã xây dựng và giúp họ sinh lợi vùng tả ngạn Sông Sỏi, như chúng ta đã thỏa thuận với nhau. Tôi mong rằng anh không có gì phải ân hận, phải hối tiếc”.
Ký tên: GILLARD
2. Nhận được thư trên,
Kỳ Đồng trả lời bác sĩ Gillard
(chữ viết nguệch ngoạc, vội vàng
trên giấy công văn in sẵn của Văn phòng phủ Thống sứ):
Gửi bác sĩ Gillard,
Tôi không hề cung cấp vũ khí cho Đề Thám. Tôi cung cấp lương thực cho những người mà tôi đoán là thám tử của ông ta. Tôi muốn ông ta thuận theo tôi. Trước hôm ông Leguern đi Hà Nội, tôi đã nói với ông ấy về việc này và hỏi ông có cần báo cho ngài chỉ huy đạo binh (Péroz) không ? Ông Leguern bảo là không cần thiết và ông ấy sẽ báo khi về Hà Nội… Tôi rất cám ơn bác sĩ về những gì bác sĩ sắp làm vì tôi. Tôi không có gì phải ân hận, nhưng tôi thấy người ta đã đối xử oan cho tôi”.
Ký tên: NGUYỄN VĂN CẨM
3. Đơn kiện của bác sĩ Gillard
gửi Toàn quyền Đông Dương (15-5-1898)
Bác sĩ Gillard viết một lá đơn dài gửi thẳng cho Toàn quyền Đông Dương với mấy nội dung chủ yếu như sau:
+ Phản đối việc bắt Kỳ Đồng và những cu-li do Kỳ Đồng tuyển mộ:
“(…) Thưa Ngài Toàn quyền, dù người ta có ngụy biện bằng mọi cách thì Ngài hiểu rõ hơn ai hết rằng Kỳ Đồng và những người An Nam theo anh lên Yên Thế xuất phát từ mong muốn làm ăn yên ổn, như chính Kỳ Đồng đã từng nói với ngài chỉ huy đạo binh Yên Thế. Họ muốn được làm ăn trong đồn điền của một người Pháp để tránh đóng thuế nặng và các tệ nạn áp chế của các quan lại [An Nam]; họ không hề có ý đồ vũ trang nổi loạn (…).
“Tôi đã phải nài nỉ Kỳ Đồng suốt mấy tháng trời để anh lên Yên Thế. Việc tuyển mộ cu-li được tiến hành dưới sự bảo trợ của ngài Thống sứ Fourès. Tôi đã nộp đầy đủ danh sách cu-li, và nhà chức trách không những biết tên họ quê quán từng người mà còn nắm chắc lai lịch, gia đình họ. Ngày giờ xuất phát lên Yên Thế cũng đã được định trước và báo lên nhà đương cục. Cu-li ra đi yên tĩnh, trật tự. Không ai có thể nghĩ rằng hai ba ngàn con người đó mưu toan làm giặc. Họ không hề vi phạm luật lệ công dân trong thời gian ở Chợ Kỳ (…)”.
+ Yêu cầu nhà chức trách hoàn trả số tiền bị tịch thu:
“Thay mặt cho những người An Nam đã theo Kỳ Đồng lên khai khẩn đồn điền của tôi, tôi yêu cầu trả lại số tiền 13.947 đồng và 4 nén bạc và các đồ vật bị Chính phủ bảo hộ tịch thu. Tôi đề xuất yêu cầu này không chỉ vì quyền lợi riêng của tôi mà tự thấy còn có nhiệm vụ là người truyền đạt yêu cầu của 800 nhân công bị mất sạch tài sản đang mong đợi công lý (…)”.
+ Ở những đoạn khác, bác sĩ Gillard biện luận rằng: nếu như mấy ngàn cu-li đã bị Kỳ Đồng lôi kéo làm loạn, thì nay Kỳ Đồng đã bị bắt, không thể bắt cu-li chịu chung trách nhiệm. Vì vậy việc trả lại số tiền tịch thu của họ là hợp lý, chính đáng. Vả chăng, sự thực là họ chỉ muốn đi khẩn hoang để ổn định cuộc sống gia đình:
“Cứ giả thiết rằng họ đã từng có ý đồ nổi loạn, thì thưa Ngài Toàn quyền, bây giờ Kỳ đồng không còn ở Chợ Kỳ nữa, họ lại muốn quay về đồn điền của tôi, một số đã trở lại và hiện đang làm việc… Ngoài 800 cu-li do Kỳ Đồng tuyển mộ, nhà chức trách đã cho phép hơn 2000 cu-li khác lên Yên Thế mà chẳng ai biết rõ lai lịch họ. Kỳ Đồng và cu-li của anh không thể chịu trách nhiệm về một vài kẻ gây rối ở Chợ Kỳ cũng như những kẻ nổi loạn ở Hải Phòng, Hải Dương. Hóa ra chính những người đã từng khai rõ lý lịch với Nhà nước lại chịu khốn khổ hơn cả!…”
“Tôi không có ý định bới móc xem ai là người chịu trách nhiệm về vụ này. Tôi chỉ muốn nhắc qua ở đây để mong Nhà nước bảo hộ có biện pháp che chở thiết thực đối với số cu-li này. Hoàn trả họ số tiền họ đã đóng góp cho đồn điền là việc làm hợp công lý. Họ đã phải bán hết tài sản ở quê nhà gom góp đem lên đồn điền, mong tạo dựng cuộc sống gia đinh yên ổn. Thật phi lý khi những kẻ lắm điều đã bày đặt rằng số tiền bị tịch thu (17.600 đồng) là “qũy chiến tranh” của quân nổi loạn.
“Thưa Ngài Toàn quyền, chính Ngài đã bị xúc phạm khi người ta cho rằng Ngài quyết định việc tịch thu nói trên là do câu chuyện bày đặt kia, một câu chuyện chẳng có chứng cớ, trái với lương tri! Một người hiểu biết không thể nghĩ rằng 3000 cu-li không lương thực, không vũ khí, sống cô lập trên một vùng rừng núi hoang vu, liên lạc khó khăn với vùng châu thổ lại có thể nổi loạn khi trong tay chỉ có 17.000 đồng, một số tiền chỉ tạm nuôi sống họ 3 tháng trong điều kiện bình thường. Không thể như vậy được! Những người xây dựng làng mạc dọc theo các con lộ do chính họ sửa đắp, phát quang rừng rậm v.v… chỉ mong được sống ổn định, được làm việc và tăng dân cư cho vùng này…”
+ Cuối cùng, bác sĩ Gillard cho rằng việc chính phủ bảo hộ tịch thu tiền bạc đang làm cho đồn điền Chợ Kỳ có nguy cơ tan rã:
“Thưa Ngài Toàn quyền, riêng đối với tôi, việc tịch thu này làm tôi mất toi số tiền ứng trước cho cu-li. Ngài Thống sứ Fourès đã thẩm tra lai lịch họ trước khi tôi ứng tiền. Tệ hơn nữa, sau khi Kỳ Đồng bị bắt và tiền ký qũy bị tịch thu thì ngót 2000 con người ở Yên Thế chẳng còn nguồn sống nào nữa! Hồi Kỳ Đồng bị bắt, tôi đã hỏi ngài Thống sứ có nên giải tán cu-li hay cứ giữ họ ở lại đồn điền thì ngài Thống sứ bảo rằng ngài không có ý định giải tán họ với lý do: nếu để cho số người bất mãn, dễ bị kích động này trở về đồng bằng thì sẽ nguy hiểm cho an ninh chung… Thế là tôi chờ đợi một giải pháp thỏa đáng, hy vọng số tiền tịch thu được hoàn trả. Nhưng sự việc tiếp theo lại là những vụ bắt bớ, cướp phá. Và những người còn lại ở Chợ Kỳ trở thành nạn nhân khốn khổ, gia đình thân thuộc họ ở đồng bằng cũng chịu chung số phận…” (3).
+ Và bác sĩ Gillard kết thúc lá đơn:
“ Thưa Ngài Toàn quyền, nếu số tiền tịch thu ở Chợ Kỳ không được hoàn trả thì sẽ gây định kiến nghiêm trọng cho một người Pháp! Tôi không định cầu mong một đặc ân nào của Nhà nước, tôi chỉ muốn vững tin rằng: không ai có thể bảo vệ một người Pháp trung thực tại các thuộc địa bằng Chính phủ Pháp, cho dù quan điểm của người đó như thế nào!”.
3. Trong biên bản đối chất,
Péroz phản bác mấy điểm sau:
+ Bác sĩ Gillard quả quyết những cu-li này không có ý đồ vũ trang nổi loạn, nhưng “trên thực tế chúng được tập hợp, tổ chức theo kiểu quân sự ở Chợ Kỳ và ở 6 vị trí được chọn trên các cao điểm có tính chất quân sự, tạo thành một hệ thống căn cứ đáng sợ”.
+ Bác sĩ Gillard bảo rằng Kỳ Đồng và cu-li do anh tuyển mộ không chịu trách nhiệm! Thế nhưng “có lần chính bác sĩ Gillard cưỡi ngựa đến đồn điền, tập họp cu-li nói chuyện, cổ vũ sự bất mãn của họ đối với nhà chức trách ở đạo binh Yên Thế cũng như các quan chức cao cấp của Chính phủ bảo hộ. Sự việc này do tự miệng một viên chức ở phủ Thống sứ kể lại; viên chức này rất thạo tiếng An Nam”.
+ Về việc bác sĩ Gillard đòi hoàn trả số tiền tịch thu: “Bác sĩ có thiệt thòi gì đâu mà phải đòi! Sự thực là bác sĩ đã lầm khi tưởng rằng có thể lợi dụng Kỳ Đồng và cu-li của anh ta. Có lẽ bác sĩ Gillard trù tính rằng trong vòng 6, 7 năm nếu công việc trôi chảy, đồn điền được khai thác, làng xóm mọc lên nhờ tiền bạc của Kỳ Đồng, bấy giờ bác sĩ Gillard nghiễm nhiên trở thành điền chủ mà không phải bỏ vốn. Đến lúc đó, bác sĩ sẽ gạt “anh chàng kỳ lạ” kia ra rìa để chiếm lấy đồn điền. Nhưng bác sĩ đã may mắn không phải chờ đợi lâu. Với vụ “phiêu lưu” của Kỳ Đồng [ý nói Kỳ Đồng mưu nổi loạn và đã bị bắt] ở Chợ Kỳ, bác sĩ Gillard vẫn còn được thừa hưởng 7 làng với nhà cửa đầy đủ, với một diện tích đã khai khẩn, tuy không lớn lắm những cũng là một tài sản đáng kể”.
4. Nhân đây, chúng tôi xin cung cấp thêm
một tư liệu đáng chú ý về nhân vật Leguern:
Như đã nói ở một phần trên, Leguern là đại diện của bác sĩ Gillard bên cạnh Kỳ Đồng ở đồn điền Chợ Kỳ. Nguồn tin của điệp viên ở Nhã Nam ngày 3-9-1897 báo về Hà Nội như sau: “Hôm nay một ông Tây ở Sông Sỏi mang đến cho Kỳ Đồng 4 con dê, 1 con bò và 1 chiếc xe bò. Kỳ Đồng dùng chiếc xe này chở gạo đến các đồn (trong đoồ điền). Ông Tây nói với Kỳ Đồng: “Ông thiếu thứ gì thì chỉ cần bảo tôi”. Ông Tây ở lại ăn bữa tối với Kỳ Đồng và rời khỏi đồn điền lúc 2 giờ sáng. Trước khi đi, ông gọi mọi người đến và nói: “Tôi lên đây để làm ruộng. Tôi coi tất cả ở đây là “các ông”, tôi rất kính trọng các ông, còn kính trọng gấp 10 lần những ông Tây. Nếu các ông làm giặc, các ông cho tôi theo với, xin các ông đừng thù ghét tôi” (Maintenant je montais jusqu’ici pour travailler au champ, je vous voyais tous les messieurs, je vous respecte beaucoup, je vous respecte 10 fois plus que je respecte auprès des Européens; si vous ferez des pirates, vous me donnerez le faire aussi, messieurs, je vous prie de ne pas hair de moi [nguyên văn trong bản gốc]).
Cuối cùng ông Tây lại nói với Kỳ Đồng: Nếu ông làm giặc, tôi sẽ giúp ông 200 người Pháp với 200 khẩu súng. Khi nào ông làm được vua, ông cho tôi làm tổng tư lệnh, và bây giờ tôi là con nuôi của ông” (Si vous ferez pirate, je vous aide 200 francais avec 200 fusils; quand vous pourrez faire le roi, vous me donnerez la place de Général en chef, et maintenant je suis votre fils adoptif). Ong Tây này thường đi dạo chơi với Kỳ Đồng”.
Với một số tư liệu như trên, chúng tôi cảm thấy vấn đề Gillard và quan hệ hợp tác giữa Kỳ Đồng với Gillard (cũng như với người đại diện ông ta ở Chợ Kỳ) nên được đi sâu tìm hểu thêm.
--------------------
(1) Đỗ Thiện – Phong trào Kỳ Đồng năm 1897 – Nghiên cứu Lịch sử, số 92 (tháng 11-1966).
(2) Nguyễn Thế Anh – Le nationalisme vietnamien au début du XX siècle: son expression à travers une curieuse lettre au roi d’Angleterre – BEFEO, Tome LXV, Paris 1985.
(3) Sau khi Kỳ Đồng bị bắt, những người ở đồn điền Chợ Kỳ viết một bản “giao ước” (ước thư) gửi lên chính quyền thực dân với nội dung chính là yêu cầu được nhận lại các khoản tiền bạc đã bị tịch thu ở đồn điên. Xin tóm lược như sau:
Chúng tôi là các sắc mục và dân trong ấp, thuộc đồn điền của ông Di-la, quan thầy thuốc người Pháp, ở tả ngạn SôngSoi, hạt Yên Thế. Nguyên trước đây chúng tôi đi vỡ ruộng có góp dược số bạc giao cho ông Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm để chi tiêu vào việc lập ấp, đợi đến kỳ đầu thu hoạch vụ sang năm [sẽ hoàn lại]. Nay dân chúng tôi tự nguyện đem số bạc đóng góp ấy giao cho ông Di-la thay ông Nguyễn Văn Cẩm tự liệu lý, khẩn thiết xin ông Di-la thay dân chúng tôi xin quan bảo hộ xứ Bắc Kỳ trả số bạc trên để chi vào việc vỡ ruộng là 17.647 đồng và 4 hốt bạc; do ngày ấy nhà nước lấy cớ việc công, đã tịch thu số bạc ấy ở xã Suối Ré. Xã ấy vốn do ông Nguyễn Văn Cẩm dựng lên và đã cư trú ở đó. Số bạc ấy có hai phần, một phần do ông Di-la cấp cho chi phí ban đầu là 3.700 đồng, phần còn lại do dân chúng tôi góp của riêng để chi vào việc lập ấp là 13.947 đồng và 4 hốt bạc. Cả hai phần nói trên, dân chúng tôi xin ông Di-la tự đứng thay chúng tôi để nhận. Chúng tôi xin ông Di-la cấp trước số bạc ấy cho chúng tôi tiêu dùng, đến khi hỏi được số bạc nhà nước đã tịch thu 13.947 đồng thì khấu trừ đi, còn lại bao nhiêu thì trả dần cho chúng tôi chi phí vỡ ruộng lập xã trong hạt Yên Thế phía tả ngạn Sông Sỏi, tùy theo xã lớn xã nhỏ mà phân chia cho đều.
Nay lập ước thư. Ước thư này lập tại xã Suối Ré ngày 2 tháng 10 năm Thành Thái thứ 9 [1897].
61 ngươi có tên sau đây cùng ký tên.
THƯ GỬI HOÀNG ĐẾ NƯỚC ANH
CỦA NGUYỄN SONG SƠN (14 -5 -1908) (1)
(lược trích)
Chúng tôi là bọn Nguyễn Song Sơn cùng dân các tỉnh nước Việt Nam, trình thư tâu đức Hoàng đế và các vị đại thần thành Luân Đôn, nước Anh Cát Lợi soi xét:
Nước Việt Nam từ khi lập quốc đến nay đã hơn 4000 năm, đến năm thứ 10 Đinh Tỵ [1857] niên hiệu vua nước Việt, có nước Pháp, nước Tây Ban Nha cử nhiều binh thuyền đến núi Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam (…). Sau hai năm nước Pháp và Tây Ban Nha khai chiến ở tỉnh Gia Định…
Khi đó ở Việt Nam vua hèn tôi dốt…, chỉ sai sứ đính ước cắt đất cho bọn chúng. Năm năm sau, người Pháp nhân sự yếu đuối đó lại chiếm chủ quyền và lợi quyền của sáu tỉnh Nam Kỳ.
Đến năm Tự Đức 25 (Nhâm Thân) [1872], chúng đòi thông đường đi Vân Nam tới nhà Đại Thanh không được, liền đem binh đánh các tỉnh Bắc Kỳ. Lại đính hòa ước, trong đó giả tiếng để cho Việt Nam giữ chủ quyền Bắc Kỳ, Trung Kỳ… mà Pháp thì bảo hộ! …
Đến năm Ất Dậu [1885], vua Hàm Nghi coi việc nước; người Pháp thấy quân “Phấn Nghĩa” tập luyện, bèn đem thủy lục quân đánh hãm kinh thành (tại Trung Kỳ). Vua Hàm Nghi chạy ra khỏi thành bị quân Pháp bắt, giam tại thủ đô Ba-lê, Pháp (nay lại đày sang A Nhĩ Nhiệt [Algérie].
Sau đó, Pháp trở lại kinh thành, chọn bọn con em tầm thường ngu dốt trong họ Nguyễn (họ nhà vua) để chuẩn bị làm vua và bổ sung bọn quan lại nô lệ để sai phái. Lại bắt ép ký văn bản bắt nhượng Bắc Kỳ. Từ đó, Nam Kỳ lục tỉnh và Bắc Kỳ toàn hạt, chủ quyền lợi quyền thảy về tay Pháp. Lúc đó, các nghĩa đảng thế không chống nổi, hoặc ôm lòng trung gieo xuống suối vàng, hoặc gửi thân nơi đất lạ. Dưới con mắt người Pháp coi như không có người Việt vậy.
Chúng đặt ra các thứ thuế: đinh, điền, thổ trạch, các thuế ải quan, hải khẩu, rừng núi, mỏ, đò, chợ, xe thuyền, muối, rượu, thuốc phiện, tằm… cho đến lục súc, từ trên trời trở xuống, dưới đất trở lên, không một vật một việc nào là không bị đánh thuế, không bị luật cấm. So với thời Tự Đức còn gấp trăm ngàn nỗi khổ nhục. Đến nay toàn bộ nước Việt không có chủ quyền mà lợi quyền thảy đều về tay bọn Pháp.
Trước kia: giả danh thông thương để dòm ngó hư thực, ngụy trang hòa ước để thả sức ngông cuồng. Từ đây: mượn tiếng bảo hộ nước Việt suy yếu, thực ra là bòn rút máu mỡ dân Việt. Trong thế giới ngày nay, các cường quốc đang kiểm soát năm châu coi dân thuộc địa như anh em, làm cho dân trí ngày một mở mang, công thương ngày một phát triển, dân số ngày một nhiều, tài hóa ngày một thịnh. Còn người Pháp nói là bảo hộ dân Việt mà xem người Việt như gà lợn, dao thớt đằng trước, sanh chảo đằng sau (…)
Xã Ngọc Đình, tỉnh Thái Bình có Nguyễn Văn Cẩm, bảy tuổi đã có tài thần đồng, khắp nước biết tên. Bọn Pháp nghi kỵ giả vờ nghênh đón về thành Ba-lê [Paris] (2), rút cục không thể hãm hại được. Chúng cho vào trường học, ba năm đèn sách, tốt nghiệp phổ thong và học trường võ quân, tinh thông kỹ thuật của các nước, không thứ gì là không biết. Người Pháp nhiều lần muốn trọng dụng nhưng không khuất phục được.
Ở Pháp hơn mười năm, anh Cẩm vào Phủ giám quốc xin trở về Việt Nam làm việc khẩn hoang đất đai, được Pháp cho về nước Việt, lập đồn điền ở huyện Yên Thế cùng người Pháp tên là Di-la [Gillard] khai khẩn. Mới hai mươi ngày, chưa kịp chiêu mộ mà người Việt tìm đến không dưới mười vạn. Quan Pháp thấy thiên hạ theo về, hào kiệt tin mến, nảy lòng nghi kỵ, liền đày đi thành Ô-ti-nê [Océanie ?] tới mười hai năm. Người Pháp cư xử như vậy thì làm sao người Việt còn thiết tha với việc khai khẩn đất hoang!
Người ở thành phố Nam Định là Trịnh Xuân Nham vốn là người hiếu học, hai người ở xã Hành Thiện vốn là lái buôn giỏi; cả ba đều muốn xuất dương du học và buôn bán. Nhưng người Pháp đã cản trở họ, lại còn sức cho quan sở tại quản chế giám sát, không được đi ra khỏi thôn xóm. Vậy nên chẳng có người Việt nào được yên ổn mà học hành, buôn bán.
Phan Chu Trinh, người Quảng Nam, viết sách yêu nước, kể lịch sử các cường quốc tự do độc lập để dạy mọi người. Ông bị người Pháp vu cho là dạy người ta khởi loạn, kết án đày chung thân. Như vậy thì còn người Việt nào dám biểu lộ lòng yêu nước ?
Tháng hai [âm lịch] năm nay, tại các tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ, dân đinh lên trình bày với các quan Pháp sở tại về thuế lệ nặng nề. Chính phủ nghị bàn là dân khởi nghịch, không thể để sống! Kẻ kia thả sức dùng binh sắc, dao nhọn mà dân thì tay không mang họa (thống kê các tỉnh hơn 4000 người), máu sông xương núi, thảm họa ngợp trời!
Người Pháp bảo hộ chỉ mong nòi giống Việt bị hãm vào vòng chìm đắm, cốt sao để người Pháp mỗi năm thu lợi ức vạn triệu tiền bạc. Pháp coi Việt có khác gì loài gà lợn đâu!
Than ôi! Than ôi! Dân chúng sinh tại đất Việt, làm dân Việt trong tay bảo hộ của kẻ kia hơn 40 năm, chắt chiu công sức nông thương để lấp vào cái hố tham lam không cùng! Dân Việg còn gì nữa khi hết cửa xin ăn, không nơi chôn xác! trời cao thăm thẳm, kêu oan mà trời chẳng thấu! Đường đường Thiên triều, xin tâu lên Hoàng đế soi xét. Mong Hoàng đế rủ tình thương cứu vớt dân Việt rrong cơn nước sôi lửa bỏng. Lại cũng mong Hoàng đế trù liệu thế nào để giúp Nguyễn Văn Cẩm trở về nước, để cho dân Việt được báo đáp ơn Thiên triều [Anh-cát-lợi] đến muôn đời. Muôn vàn cậy trông!
Ngày 15 tháng tư năm Mậu Thân [1908].
Nguyễn Song Sơn bái dâng tờ tấu (3).
Chỗ ở của Nguyễn Văn Cẩm đã ghi bằng chữ Pháp vào mảnh giấy nhỏ giấu trong phong thư. (*)
------------------------------------
CHÚ THÍCH
(1) Ảnh sao chụp bản gốc chữ Hán của GS.Nguyễn Thế Anh (Tạp chí BEFEO đã dẫn). Bản dịch của Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
(2) Trên thực tế, thực dân Pháp chưa từng đưa Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (cũng như Hàm Nghi) đến Paris.
(3) Theo tư liệu của Nguyễn Thế Anh: “Nguyễn Song Sơn” có thể chỉ là một cái tên không có thực (pseudonyme). Nhưng qua văn phong bức thư, có thể suy đoán dây là một nho sĩ trong số những người thân cận của Nguyễn Văn Cẩm trước đây. Một bản ghi chép của Phòng Nhì (Phủ Toàn quyền Đông Dương) có nói đến một nhân vật tên là Nguyễn Các, đỗ hương thí [tú tài], từng la thư ký của Nguyễn Văn Cẩm. Rất có thể Nguyễn Các là tác giả bức thư này.
Vẫn theo Nguyễn Thế Anh, tác giả bức thư không hiểu rõ tình hình thế giới và quan hệ giữa các cướng quốc, nên đã nghĩ ra việc lấy danh nghĩa dân Việt Nam và thủ lĩnh của mình (Nguyễn Văn Cẩm) gửi thư cho vua nước Anh. Năm 1908 hiệp ước Anh-Pháp (Entente Cordiale) đã được ký, do vậy bức thư của Nguyễn Song Sơn vẫn chỉ nằm trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh.
BẢN ĐỒ VÀ ẢNH SAO CHỤP TƯ LIỆU
KỲ ĐỒNG NGUYỄN VĂN CẨM
( 1875 – 1929 )
Tranh dân gian về Kỳ Đồng
( đầu thế kỷ XX )
Tranh dân gian về Kỳ Đồng
( đầu thế kỷ XX )
Tranh dân gian về Kỳ Đồng
( đầu thế kỷ XX )
Tranh dân gian về Kỳ Đồng
( đầu thế kỷ XX )
Tranh dân gian về Kỳ Đồng
( đầu thế kỷ XX )
4/ Công sứ Ninh Bình gửi Thống sứ Bắc Kỳ
về việc Kỳ Đồng mộ dân lên đồn điền Chợ Kỳ
( 20 – 9 – 1897 )
5/ Sơ đồ đồn điền Chợ Kỳ
( xã Đồng Kỵ, Yên Thế, Bắc Giang )
6/ Điện tín Công sứ Hưng Yên gửi Thống đốc Bắc Kỳ
về việc Kỳ Đồng mộ dân lên Yên Thế ( 10 – 8 – 1897 )
7/ Thư bác sĩ Gillard gửi Thống sứ Bắc Kỳ
về việc cộng tác với Kỳ Đồng mở đồn điền ( 21 – 7 – 1897 )
11/ Thư Kỳ Đồng trả lời Gillard sau khi bị bắt
( 25 – 9 – 1897 )
12/ Bản án vụ Kỳ Đồng ( 12- 8 – 1897)
13/ Thư Phạm Văn Tài bị đày ở Nouvelle Calédonie
gửi Chú Ba (Vũ Văn Hệ) ở Hải Dương (28-11-1898)
14/ Thư Phạm Văn Tài gửi thân nhân ở Hải Dương
(22-4-1899)
15/ Thư Đặng Văn Thành gửi thân nhân ở Hải Dương
16/ Báo cáo của Chánh mật thám Bắc Kỳ
gửi Thống sứ về việc tìm hồ sơ Kỳ Đồng (5-7-1921)
17/ Bià sách Kịch thơ Kỳ Đồng
Bản dịch của Phan Khắc Khoan
18/ Hai trang đầu vở kịch thơ của Kỳ Đồng
19/ Bìa sách Kịch thơ của Kỳ Đồng
Nhà xuất bản “Tempéra”, Paris 1989
20/ Họa sĩ GAUGUIN
( 18 - 19 )
21/ Một bức tranh nổi tiếng của họa sĩ GAUGUIN
22/ Thư Kỳ Đồng gửi Phó Toàn quyền
( 28 – 2 – 1897 )
23/ Thư Kỳ Đồng gửi Toàn quyền Đông Dương
( 31 – 3 – 1897 )
24/ Thư Kỳ Đồng gửi Công sứ Thái Bình
( 2 – 5 – 1897 )
25/ Khẩu cung Kỳ Đồng ( 22 – 9 – 1897 )
26/ Thư Kỳ Đồng từ Papeete gửi Toàn quyền Đông Dương
( 8 – 9 – 1926 )
27/ Phong trào Kỳ Đồng – Mạc Đĩnh Phúc
trên địa bàn các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ
( 12 – 1897 )
28/ Cuộc nổi dậy ở Hải Dương
( 13 – 12 – 1897 )
29/ Báo cáo của mật thám Pháp
về phong trào Kỳ Đồng – Mạc Đĩnh Phúc ở Bắc Kỳ
30/ Cuộc nổi dậy ở Hải Phòng-Kiến An
( 15 – 12 – 1897 )
31/ “Giao ước” của những người ở đồn điền Chợ Kỳ
nhờ bác sĩ Gillard đòi lại khoản tiền bạc bị tịch thu
( 11 - 1897 )
32/ Thư bác sĩ Gillard gửi Toàn quyền Đông Dương
về vụ bắt Kỳ Đồng và tịch thu tiền bạc ở đồn điền Chợ Kỳ
33/ Thư Nguyễn Song Sơn gửi Hoàng đế nước Anh
( 14 – 5 – 1908 )
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BOMPARD – Ma mission aux Marquises-Paul Gauguin – Paris 1962 (Tư liệu do Giáo sư Nhi-cu-lin cung cấp).
BOUCHET – La vie aventureuse de Hoang Hoa Tham – Thư viện Quốc gia, HB.236/V.117.
CHARK (Paul) – Hoang Hoa Tham pirate – Hanoi 1909-1910, Paris 1933.
DAUFÈS (E.) – La Garde indigène de l’Indochine.. – Thư viện Quốc gia, Lv.5148.
DOUMER (Paul) – L’Indochine francaise – Paris 1905.
ĐÀO DUY ANH – Lịch sử cách mạng Việt Nam 1862-1930 –Nxb Xây Dựng, Hà Nội 1955.
ĐỖ THIỆN – Phong trào Kỳ Đồng năm 1897… - Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 64 (tháng 7-1964).
ECHINARD (Alfred) – Histoire politique et militaire de la province de Thai Nguyen – Hanoi 1934.
HOÀNG VĂN LÂN-NGÔ THỊ CHÍNH – Lịch sử Việt Nam, Quyển 3, Tập 1, Phần2 – Nxb Giáo Dục, Hà Nội 1979.
KỲ ĐỒNG – Les amours d’un vieux peintre aux iles Marquises (comédie) – Notice biographique, notice historique…. Par Jean Charles Blanc – Librairie A.Tempera, Paris 1990.
KỲ ĐỒNG – Những mối tình của người họa sĩ già trên quần đảo Mac-kiz (Phan Khắc Khoan dịch) – Nxb Ngoại Văn, Hà Nội 1990.
LÃNG NHÂN – Giai thoại làng Nho – Sài Gòn 1966.
LÝ VĂN HÙNG – Việt Nam văn hiến – Sài Gòn 1971.
MARR (David) – Vietnamese anticolonialism 1885-1925 – London 1971.
NGUYỄN PHAN QUANG, NGUYỄN TIẾN ĐOAN – Phong trào Kỳ Đồng-Mạc Đĩnh Phúc những năm cuối thế kỷ XIX – Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 194 (tháng 9, 10-1983).
NGUYỄN PHAN QUANG, NGUYỄN TIẾN ĐOÀN – Kỳ Đồng, tiểu sử và thơ văn – Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình, 1983.
NGUYỄN PHAN QUANG – Ba bức thư của Kỳ Đồng gửi Toàn quyền, Công sứ Pháp – Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 206 (tháng 1,2-1983).
NGUYỄN PHAN QUANG – Bản khẩu cung của Kỳ Đồng ngày 22-9-1897 – Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3,4-1983).
NGUYỄN THẾ ANH – Le nationalisme vietnamien au début du XX siècle: son expression à travers une curieuse lettre au roi d’Angleterre – BEFEO, Tome LXV, Paris 1985.
NGÔ TẤT TỐ – Lịch sử Đề Thám – Tư liệu đánh máy, Viện Sử học Việt Nam.
O.REILLY P.TEISSIER – Répertoire bibliographique de la Polynésie francaise – Paris 1962 (tư liệu do Giáo sư Nhi-cu-lin cung cấp).
PÉROZ – Hors des chemins battus – Thư viện Quốc gia, P.N.323.
PHAN TRỌNG BÁU – Một số hoạt động chống Pháp của văn thân xã Trung – Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 188 (tháng 9, 10-1979).
ROUYER (Capitaine) – Histoire de l’Annam et du Tonkin depuis 1790 – Paris 1906.
SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN – Đại Nam thực lục chính biên – Bản dịch, tập XXXV, Nxb KHXH, Hà Nội 1976.
TRẦN HUY LIỆU, NGUYỄN CÔNG BÌNH, VĂN TẠO – Tài liệu tham khảo Cách mạng Việt Nam, Tập II, Nxb Sử-Địa, Hà Nội 1958.
VŨ VĂN TỈNH – Bổ sung tài liệu về Kỳ Đồng – Tập chí Nghiên cứu lịch sử, số 92 (tháng 11-1966).
Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn. Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.
www.trieuxuan.info
|