Hoàng Trần Cương từng là một người lính sau khi học đại học. Anh làm quản lý một tờ báo. Tôi mới chỉ biết vậy. Tại Đại hội 7 Hội nhà văn Việt Nam, anh bật dậy phát biểu sau khi bầu cử. Có lẽ vì bản tánh quá cương trực, lại đang bức xúc nên anh nói hơi bị quá thô. Văn nhân nói với nhau không nên nói như rứa!
Thế nhưng, khi đọc trường ca Trầm tích, tôi nhận ra một Hoàng Trần Cương khác, khác lắm!
Nghệ An là một miền đất quá nghèo. Nghèo đến mức: Câu ví dặm gầy nhom thì thào như người mới ốm… Câu ví dặm nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát/ Đến câu hát cũng hai lần sàng lại/ Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm…
Viết như thế thì quả là không phải tay vừa!
Tháng 10-2008, trong một bữa nhậu, tình cờ tôi gặp anh Nguyễn Thụy Kha đang hát Trầm tích. Anh Kha cho tôi số phone của HTC. Anh Cương vui vẻ đồng ý để tôi post Trầm tích lên www.trieuxuan.info để bạn đọc cùng thưởng lãm.
Lời Nhà xuất bản
Hiếm có một tập sách nào mà sức sống của nó lại bền lâu như trường ca Trầm tích của nhà thơ Hoàng Trần Cương.
Ra mắt từ năm 1989, ba chương của Trầm tích cùng chùm thơ ngắn đã thuyết phục được cả những độc giả lẫn các nhà thơ khó tính nhất, đoạt ngay vòng nguyệt quế văn chương: giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam (1989 - 1990). Từ đó cho đến năm 2002, trường ca này liên tục được trao thêm nhiều giải nữa, trong đó, đáng kể là giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2000.
Nhưng giải thưởng vẫn không phải là điều quan trọng nhất. Liên tục suốt hơn 10 năm, Trầm tích đã được dư luận quan tâm và đánh giá cao. Những bài viết về tập trường ca nói riêng và tác giả Hoàng Trần Cương nói chung in trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương nối nhau không dứt. Tính cho đến thời điểm này, đã có hơn 50 bài viết của các tác giả là nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu...viết về Trầm tích.
Phải có một giá trị như thế nào, một sức sống, sức hút như thế nào, tác phẩm mới được chú ý đến như vậy. Chúng tôi đã tập hợp, chọn lọc các bàI viết về Trầm tích và nguyên vẹn cả trường ca, bổ sung những chương mới cùng những bàI thơ lẻ tiêu biểu theo đề nghị của tác giả, trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.
Hy vọng, đây sẽ là một lời tri ân xứng đáng của nhà thơ Hoàng Trần Cương trước dư luận và những đánh giá nồng nhiệt dành cho anh. Và hơn thế nữa, là một trong những ấn phẩm của văn chương Việt Nam đáng để bạn đọc gần xa chia sẻ và đọc lại.
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
1. Nguồn cội
Mẹ tôi đẻ rơi tôi bên cối giã gạo
Tôi lấm láp đáp mình vào đất
Gió Lào mặc cho tôi chiếc áo màu nâu
Cha đi vắng
Những người đàn ông miền Trung thường đi vắng
Vài năm tạt qua nhà một lần
Để lại đứa con
Để lại mùi rạ thơm trên mái nhà vừa dọi
Để lại những nỗi buồn không biết nói
Rồi biệt tăm
Hàng xóm nhặt tôi vào đặt lên chiếc chõng tre
Chiếc chõng tre đen bóng mồ hôi vẫn nép ở đầu hồi
Bà nội thường đem ra ngồi trông cháu
Buổi mẹ còn lóp ngóp ngoài sông
Đêm đêm
Dưới gốc nhãn già nua theo lời bà kể
Bông lúa hiện ra
Ngày xưa lúa tự bò về nhà
Hạt to như bắp chuối
Khi chưa bị người ta xua đuổi
Nắng vàng mơ từ mờ sớm đến chiều hôm
Câu ví dặm gầy nhom thì thào như người mới ốm
Từ trong cái đãy nâu sồng thắt ngang sau lưng bà tối tối lại bò ra
Lẫn vào bóng trăng
Nhấp nhỏm đứng sau nhà
Để suốt đêm tôi mơ màng thức ngủ
Mắt tròn đen
Lăn khắp vòm trời
Bà già thế
Sao tiếng cười vẫn trong như lọc
Xoà vào tuổi thơ tôi
Những quả táo còn ương
Lăn lóc tận đáy vườn
Người lớn đi qua thường không thấy được
Núi sông cài răng lược
Ngược xuôi trải thành đất nước
Đất nước
Tượng hình xương cá
Đêm úp
Ngày đơm
Nhảy vật lên bờ
Thân gầy đét
Cong mình chống nắng
Lưng rộp phồng
Thâm cả trời đông
Ròng rã tháng năm
Nhọc nhằn vây bủa
Cái chảo rang của đất đựng trời
Đông chưa tàn
Hạ đã rạn ban mai
Choãi mình trước biển
Chắt màu xanh
Dâng tặng mùa màng
Thăm thẳm tháng năm
ẩn vào trầm tích
ẩn vào mai sau
ẩn vào những đêm dài ngày ngắn
Những bản làng bạc nắng phai sương
Ôi! Quê hương
Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước
Gió bão thù chi với mảnh đất này
Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển
Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến
Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh
Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh
Ngẩng mặt đụng trời xanh nhức mắt
Dằng dặc dải làng quê thưa thắt
Những vạt lúa đỏ đuôi luội mình đổ rạp
Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát
Tảng cháy cạy đi rồi
Còn hằn vết móng tay
Cày lên
Sưng cả đáy nồi
2. Đất mật
Tháng mười trời chóng tối
Bờ ao tím rần túm lá lộc mưng
Lá lộc mưng trảy non chát ngòm cổ họng
Tôi bứt về nhà giúp mẹ thay cơm
Giúp đêm bớt dài
Giúp mai chậm đến
Giúp các em tôi khuây nỗi khát thèm
Giúp cành lộc mưng kịp lên da non
Và giúp tôi dụm dành niềm hy vọng
Chiều chiều mẹ ra sông mót cá
Tôi tha thẩn khắp vườn bòn mấy quả mận xanh
Thủ thỉ với con diều tre trận mưa đá đêm qua làm sã cánh
Thủ thỉ với bóng cò trong ca dao mới dạt vào tránh bão
Thủ thỉ với chiếc sào phơi bện rễ cây rừng
Thủ thỉ với cây mít còm nhựa ứa rưng rưng
Đâu biết có bà vẫn lần theo canh chừng gai góc
Lụi hụi dáng lưng còng lóng ngóng vịn cơn mưa
Tuổi ngoài tám mươi bà ngồi bện dây thừng
Bện cả màn sương vào mái tóc
Cái khăn nâu bà vấn trên đầu
Quấn chặt những đêm dài không ngủ
Chỉ còn câu hát ru
Tối tối mượt mà bay vào giấc mơ của cháu
Những lời ru nồng đượm sắc màu
Mùa thu ngấn xanh
Mùa đông phả ấm
Những lời ru ngọt như đường ngậm
Lọc từ năm tháng cay chua
Biết lấy chi cho lũ cháu nô đùa
Bà xâu mấy đồng xu rỉ xanh rỉ vàng chuột tha vào trong ngạch
Quàng lên buồng chuối sau nhà
Quàng lên buổi chiều buồn thời gian không đấu giá
Hy vọng nhoà vào chùm sao tua rua
Hy vọng đổi mùa
Cuối vườn tiếng lá chuối khô xô nhau như xáo ốc
Hoa bèo khô rốc còn sởn da gà run cả bờ ao
Tuổi thơ tôi đi qua
Trong nắng mưa lấn bấn
Trong bóng bà đã lấm bóng hoàng hôn
Những khi bà ốm
Giàn trầu không đầu hồi bỗng dưng trụi lá
Mùi hương bay váng vất cả chiều
Gió mang lá trầu vàng đặt vào manh chiếu
Ngoài sân
Một mình cây cau dầm trong sương muối
Âm thầm cúi đầu
Giấu bóng vào hiên
Đợi chừng nửa đêm khi bà tỉnh giấc
Mây buông mảnh trăng liềm
ánh trăng nâng bóng cau non đặt mớm vào mép võng
Bỏm bẻm miếng trầu
Rón rén thức mùi hương
Trầm tích của mạch nguồn luồng lạch
Bây giờ phẳng lặng đất nâu
3. Cật tre
Sợ con nít lằn lưng trên cái chõng đan bằng tre cật
Không biết ai đã luồn vào dưới lưng tôi một tấm mo nang
Cái mo cau mẹ lượm được ở cuối vườn từ năm ngoái
Đem vào giấu trong buồng và lấy đá dằn lên
Tôi mát lạnh trong hơi của đá
Nhắm mắt ngủ ngon lành
Bữa tôi chào đời trời rạch chớp xanh
Nước sông Lam đã trèo vào cổng
Treo vội con lên chạn
Mẹ xắn quần đi giằng lại cái sanh đồng sứt quai
Theo nước lũ nhoai ra ngoài ngõ
Rồi một tay chắn gió
Mẹ ngồi nhen lửa dưới mưa
Nuôi tôi giữa nước và trời
Nồi khoai xéo
Bát ngô dăm
Độn ánh trăng vàng
Lăn mình trên cát
Lăn mình qua những tháng ngày giáp hạt
Đến bến bờ mộng tưởng xa xăm
Nơi nguyện ước tổ tiên hiện về trên mỗi trang gia phả
Nơi những vật thiêng vùi mình trong đất đá
Nơi những câu ca không nhám bụi ngày
Giọt nước nào cũng háo hức biển khơi
Giọt nước nào cũng lao xao tiếng vọng
Tôi lớn lên giữa ngày trong tháng đục
Cùng dòng sông mắc nợ phù sa
Cùng dòng sông báo động mùa đại hạn
Trong chùm rễ tre nhấc bổng ruột gan mình
Chùm rễ tre thình lình bật gốc
Lá trút vàng hang hốc bậc thang
Ba tuổi đầu tôi cởi trần trùng trục
Vác gươm cọng chuối múa khắp làng
Tôi nhảy nhót
Người va vào vại nhút
Vại nhút va vào gốc cau và vỡ tan tành
Vỡ tan tành
Thức ăn cất trữ của cả nhà trong mùa lụt
Mẹ không mắng
Mà khom lưng nhặt nhạnh
Những mảnh sành kết muối trắng tinh
Vại nhút vỡ mất rồi
Biết lấy gì đắp lên bát cơm gạo lứt
Mẹ chan tiếng cười chạy vòng quanh mâm
Nhìn những mảnh sành vương vãi khắp sân
Tôi chợt hiểu
Vì sao tóc bà rồi tóc mẹ
Cứ trắng như phía trong của lớp mảnh sành nằm đáy vại
Khi tan cả hình hài
Ta mới kịp nhận ra...
(còn tiếp)
HTC
Nguồn: Trầm tích, trường ca. NXB Hội Nhà văn, 1996
www.trieuxuan.info |