Chương ba:
VĂN NHẤC BỔNG ĐỒNG QUÊ LÊN CHÍN TẦNG LÃNG MẠN
1.
Tài sản của cha tôi
Lưng một bồ lụt bão
Họa tiết trên ban thờ in bao lớp phù sa
Tiên tổ vẫn lội bùn cùng con cháu.
Nhiều giỗ chạp lạnh hương
Nhiều ngày Tết linh hồn bị bỏ đói
Trong mơ, con gặp mẹ
Chết rồi còn bị gậy ăn xin.
Trong mơ, con gặp hài nhi
Chưa bú sữa đã vội vàng héo sữa
Chưa khóc chào đời đã khóc biệt ly!
Nhà văn như Bụt hiện
Trao “cẩm nang hạnh phúc”
Chỉ lối đến thiên đường.
Đọc cái tít đã thấy đời no ấm
Soi trang chữ lên trời
Vầng sáng thiên đường chẳng mấy xa xôi.
Ngửi trang chữ còn hoi hoi mùi mực
Áp thiên đường lên môi.
Văn nhấc bổng đồng quê lên chín tầng lãng mạn
Mỗi con chữ được chắp thêm đôi cánh
Cầm cuốn sách trong tay còn sợ nó bay vù!
Sắp trở thành hiện thực
Cái nhà gạch ước mơ
Trang tiểu thuyết tài tình vẽ lên như thật
Từng viên gạch hồng như lửa vẫn còn reo.
Những vụ lúa hiện ra từ truyện cổ
Đuổi vĩnh viễn đói nghèo vào quá khứ
Sách nói thế rồi, không thể đơn sai.
Người dân quê vừa qua mù chữ
Đánh vần cuốn tiểu thuyết dày như đọc thánh kinh
Đón nhà văn về làng như đón hồng y giáo chủ
Niềm tôn vinh trên cả sự đủ đầy
Đội ngũ nhà văn rất giỏi nghề ảo thuật
Chung sức thổi đồng ruộng lên trời như thổi bóng bay…
Không ít nhà cơm độn ngô khoai sắn
Không ít nhà cơm độn… thơ văn!
2.
Cái đêm hôm ấy, đêm gì?
Nhà văn tắt đèn, bụng đói trốn làng đi.
Sau vách thủng, tiếng nghẹn ngào tấm tức
Ngỡ chị Dậu năm xưa, hóa mẹ ruột của mình.
Nghe trong tiếng nghẹn ngào lời rau lang rau má
Nhiễm cái đói của người, cây cũng lả
Da người thì xanh
Sắc lá lại vàng!
Cà cuống cà cay bán phận mình cay đắng
Như ta từng bán chó bán con
Nửa đêm bay khỏi cánh đồng.
Chỉ còn lại những đàn đỉa đói
Nước động chỗ nào, vòi hút lao ra
Cũng trong kiếp phù sinh cơ cực
Đỉa với mình, biết ai đói hơn ai?
Hạt cơm trắng từ lâu rồi góa bụa
Đầu rau bếp lạnh tro quên cả việc làm chồng.
Ngày giáp hạt
Rạng đông thở hắt ra trong tiếng loa truyền thanh nhắc nợ
Nợ tiền kiếp, nợ luân hồi, duyên phận
Không sợ bằng nợ hợp tác một cân.
Những đầy tớ của dân nanh vuốt như hùm
Ông chủ run như cầy sấy
Hạt thóc cuối cùng gạt nước mắt trút vào bao
Tiếng quả cân rẹt trên thanh sắt
Như hung thần nghiến răng!
3.
Chị tôi
Chị tôi cày vào nắng, bừa vào mưa
Cuốc lật những nếp lề cố hữu
Bắt những mảng trời mảng đất
Quyện vào nhau, ngấu bùn.
Đôi gót nhỏ nẻ khô tứa máu
Nhấn từng túm cỏ bợ cỏ gà
Hoai mục thành phân bón.
Chị phát quang bờ thửa bờ vùng
Dọn cả những eo xèo rơm rác
Những đố kị tị hiềm.
Dọn hết những mùa chỉ bội thu thất vọng
Mẹ sàng sảy đêm ngày những hạt lép niềm tin
Xếp cả vào quá khứ.
Chị nhập vào khuya sớm
Chị hòa vào kênh mương
Khơi nghĩa tình phù sa đổ ải
Cấy niềm tin chắc mẩy xuống chiêm mùa.
Việc thổ mộc lực điền
Đặt lên vai thiếu phụ
Lấm láp, muỗi mòng, xú uế, phân gio
Trao vào tay nhan sắc
Lũ lụt đất trời, bão bùng số phận
Trút cả vào một dáng lưng ong.
Nhưng cơn bão tự trong lòng
Lồng lên như con ngựa chiến
Bằng cách nào giữ được dây cương?
Làm gì còn thóc mà đổ ra xay?
Làm gì có lúa mà đập?
Có gạo đâu mà xảy với sàng?
Chị lội qua ao giữa đêm giá buốt!
Bông lúa một nắng hai sương
Chia cho mấy chiến trường.
Chị chưa quen hơi chồng
Chỉ quen hơi đồng ruộng
Hạt gạo tới chiến hào
Anh cũng chẳng còn đâu
Mỗi buổi sáng một bình minh báo tử
Chị chỉ còn chờ tái giá với mồ sâu.
4.
Những cuốn sách căng phồng bỗng dưng xì lép
Đào vạn vỉa đời, vỉa khổ vẫn lộ thiên
Những con chữ hét hò cao giọng
Bỗng cấm khẩu méo mồm
Trên giá sách, những bộ xương thất thểu
Đói Ất Dậu qua lâu, giờ trở lại văn đàn.
Trong những gánh ve chai
Từng bó sách như xác người bó chiếu…
Khi bầu trời bị đánh tráo
Màu xanh đáy nước dễ tin sao?
Cuộc mai táng văn chương không nghi lễ
Cỏ nghĩa trang, sao từ chối lạnh lùng?
(còn tiếp)
Nguồn: Văn đàn bi tráng. Nguyễn Vũ Tiềm. NXB Văn học, 12-2008.
|