tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thơ
07.10.2008
Tùng Thiện Vương
Thơ Tùng Thiện Vương

Tùng Thiện vương (1819-1870) là một chính nhân quân tử truyền thống, một trí thức ưu thời mẫn thế và đặc biệt nặng tình với dân nghèo. Những điều đó một phần thể hiện qua tài văn thơ của ông, được so sánh với cả thời Thịnh Đường (Trung Quốc).


Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819- 1870) là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng. Tổng kết về văn chương thời ấy, vua Tự Đức viết:
Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường

Câu đó có nghĩa là: Văn chương của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát hay đến nỗi làm mất cái hay của văn chương thời Tiền Hán; thơ của Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương (em trai của Tùng Thiện vương) đánh bạt cả thơ ca của thời Thịnh Đường, thời có Lý Bạch và Đỗ Phủ bên Trung Quốc.
Thần Siêu, Thánh Quát và Tùng, Tuy là những tên tuổi lớn của lịch sử văn học Việt Nam.
Những nghiên cứu nghiêm túc sau này khẳng định Tùng Thiện vương là một mẫu chính nhân quân tử truyền thống, một trí thức ưu thời mẫn thế, ghét thực dân Pháp xâm lược và rất thông cảm với dân nghèo. Học trò của ông có nhiều người hiển đạt, yêu nước như Nguyễn Trọng Hợp, Phạm Phú Thứ...
Ông chơi thân với Cao Bá Quát. Cao Bá Quát từng viết lời bạt cho thơ Miên Thẩm:
"Trông về phía nam, thấy phía nam cửa khuyết có ánh sáng rừng rực bốc lên tận nửa tầng không khỏi vùng mây trắng, ngất đỉnh trời xanh, xa nhìn không chán, đó không phải núi Thương Sơn (tên hiệu của Miên Thẩm) ư? Mua rượu ở nơi Trường Đình, cởi áo bồi hồi ngâm vịnh các bài Hà thượng của Quốc công, lòng khách cũng cảm thấy xa xăm vời vợi...".
Thơ Tùng Thiện vương hàm súc, ngụ ý sâu xa mà vẫn tươi tắn, trong ngâm vịnh có nặng tình với đất nước và những người cùng khổ. Nhân năm mới, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ ngắn của ông.

Liễu

Khứ tuế, xuân tàn, hoàng điểu quy,
Thu dung tiều tụy, nguyệt minh tri,
Đông phong tạc dạ xuy hà xứ,
Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu mi.

Dịch nghĩa:

Năm ngoái, mùa xuân đã tàn, chim hoàng oanh bay về
Dung nhan tiều tụy chỉ có ánh trăng sáng kia biết
Đêm qua gió xuân thổi ở xứ nào
Lại rước lấy mối sầu mới dâng lên nét mày thanh.

Dịch thơ:

Năm ngoái xuân tàn, oanh biệt bay
Dung nhan tiều tụy, chỉ trăng hay
Đêm qua gió rộn xuân đâu thế
Sầu mới dâng lên ngút nét mày.

DẠ BẠC NGUYỆT BIỀU*

Trúc âm lương xứ, dạ đình thuyền
Thủy nguyệt, giang phong,vị nhẫn miên
Cách dạ chung lâu Thiên Mụ tự
Thanh thanh xao phá viễn đinh yên.

Dịch nghĩa:

Tối đỗ thuyền dưới bóng tre mát
Gió sông mát, trăng sông mát không nỡ ngủ
Đêm nghe vọng tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Tiếng, từng tiếng làm tan khói sông.

Dịch thơ:

Đỗ thuyền dưới bóng tre xanh
Trăng sông, gió nước, nỡ đành ngủ sao.
Đêm khuya nghe vọng chuông lầu
Thanh thanh từng tiếng tan mầu khói sông.

Chiên đàn thụ

Tuyệt hảo chiên đàn thụ
Phồn hương quýnh bất quần
Hận cừ thiên tính biệt
Chỉ tại nghịch phong văn.

Dịch nghĩa:

Cây chiên đàn thật là cây tốt khó sánh
Hương thơm nồng nàn bất tận của cây hơn mọi loài xung quanh
Chỉ hiềm nỗi cây có thiên tính riêng
Là chỉ ở ngược chiều gió mới nghe thấy hết hương sâu.

Dịch thơ:

Cây chiên đàn tốt tuyệt
Hương sâu vượt bọn bầy
Tinh đặc thù, đáng tiếc
Ngược gió thì mới hay!

Phù lưu tiền hành
(Bài hành tiền biện trầu cau )

Triêu tiến phù lưu tiền
Mộ tiến phù lưu tiền
Đại quan nghiệt phù lưu
Nãi tuyết tiểu dân oan
Đại quan đường trung tiền tác hư
Tiểu dân mại gia, hoàn mại phụ
Thử thân tuy tồn, gia dĩ hưu
Già tỏa hạnh thoát, phụ nan lưu
Bão nhi tạm lai dữ phu biệt
Lộ bàng đối khấp xan phù lưu.

Dịch:

Sớm đã cúng tiền trầu
Chiều tiền trầu lại cúng
Quan lớn ưa cung phụng
Oan dân rõ như ngày
Trong nhà quan lớn tiền bỏ nát
Dân đen bán nhà lại bán vợ
Cái xác tuy còn, mất nhà ở
Gông cùm may thoát, vợ còn đâu
Ôm con mà dứt tay chồng
Ném trầu, trông mặt, khóc ròng cả hai!

Tuyệt bút
(Thơ tuyệt mệnh)

Bán niên học đạo thái hồ đồ
Thoát tỉ như kim nãi thức đô
Tiên Sảng đình ba, Thiên Mụ nguyệt
Thủy hương lâm ảnh hữu nhân vô?

Dịch nghĩa:

Nửa đời học đạo mà vẫn quá hồ đồ
Bây giờ cởi dép (ý nói chết) mới thật là biết
Sóng đình Tiên Sảng, trăng chùa Thiên Mụ
Hương nước, bóng rừng, có hay không có ta?

Dịch thơ:

Càng học đạo lại càng mê
Nhận chân khi cái chết kề, mới hay!
Trăng chùa, hương nước, bóng cây
Còn in bóng của ta ngày theo chơi?

NGUYỄN SĨ ĐẠI tuyển dịch và giới thiệu,


 


 







* Nguyệt Biều là một làng ven sông Hương, thuộc Huế



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hạnh phúc người cầm bút - Hoàng Kim Vũ 27.03.2020
Mặn và ngọt - Trần Mai Hưởng 19.03.2020
Thao thức/ Tôi vẫn nợ em một lời xin lỗi - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Ở một nơi không có mùa Xuân/ Lời quê hương - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Chết như người Vệt Nam/ Con sinh ra trên đất Mỹ - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Vẫn đứng lên cười với thế nhân/ THương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Đêm ngồi nghe tiếng chim trên biển/ Em bé Việt Nam & viên sỏi - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười/ Đêm bằng hữu ở Montreal - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Người con gái Việt nam trên đại lộ Sri Ayutthaya - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Hương đêm/ Trốn nắng - Phạm Đức Mạnh 16.03.2020
xem thêm »