Ức đệ kỳ I
Táng loạn văn ngô đệ Cơ hàn bạng Tế Châu Nhân hi thư bất đáo Binh tại kiến hà do ? ức tạc cuồng thôi tẩu Vô thì bệnh khứ ưu Tức kim thiên chủng hận Duy cộng thuỷ đông lưu
Dịch Nghĩa Nhớ em
Thời buổi loạn lạc,nghe tin em Đói rét nương náu ở châu Tế Vắng người thư không đến nơi Còn giặc biết làm sao gặp nhau ? Nhớ xưa cuống cuồng giục chạy Không lúc nào biết ốm đau và lo lắng Hiện nay hàng nghìn mối hận Phó mặc cùng dòng nước chảy về đông
Dịch Thơ Nhớ em
Loạn ly nghe được tin em, Mặc dầu đói khát vẫn yên nước Tề, Người thưa thớt, thư về không tới; Buổi binh đao khó nói tương phùng. Nhớ ngày chạy loạn khổ chung, Lo âu, đau ốm, khốn cùng khó an! Lòng còn nặng muôn ngàn mối hận; Phó dòng sông chảy tận phương đông ...
Bản dịch: Chi Điền
Loạn lạc nghe tin chú Cơ hàn náu Tế Châu Vắng người thư chẳng tới Còn giặc,gặp nơi đâu ? Nhớ thuở xưa cuồng chạy Đau thôi lại thảm sầu Bây giờ muôn hối hận Phó mặc nước xuôi mau
Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu
Ức đệ kỳ II
Thả hỉ Hà Nam định Bất vấn nghiệp thành vi Bách chiến kim thuỳ tại ? Tam niên vọng nhữ quy Cố hương hoa tự phát Xuân nhật điểu hoàn phi Đoạn tuyệt nhân yên cửu Đông tây tiêu tức hi
Dịch Nghĩa
Hãy mừng Hà Nam đã yên Không hỏi đến vòng vây Nghiệp Thành Qua trăm trận nay còn lại ai ? Ba năm trông ngóng em về Vườn cũ hoa tự nở Ngày xuân chim vẫn bay Khói bếp nhà ai đã tắt ngấm lâu rồi Đông tây tin tức thưa thớt
Dịch Thơ Hà Nam mừng hết giặc Thành Nghiệp giặc đang vây Trăm trận còn ai đó ? Ba năm nhớ chú đây Vườn xưa hoa nụ nở Xuân thắm cánh chim bay Khói bếp nhà ai tắt Vắng tin đông lẫn tây
Lê Nguyễn Lưu dịch
Bát trận đồ
Công cái tam phân quốc Danh thành Bát trận đồ Giang lưu thạch bất chuyển Di hận thất thôn Ngô
Dịch Nghĩa
Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba Nổi danh trận đồ Bát quái Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển Để lại hận đă thất kế thôn tính Ngô
Dịch Thơ Bát Trận Đồ
Vơ công trùm lợp thời Tam Quốc Danh tiếng làm nên Bát trận đồ Đá vẫn nằm trơ dòng nước chảy Hận còn để măi lỡ thôn Ngô
Bản dịch: Trần Trọng San
Tam phân quốc công cao tột bực Bát trận đồ danh nức muôn đời Nước trôi đá vẫn không dời Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời đánh Ngô
Bản dịch: Trần Trọng Kim
Chú thích: - Bát trận đồ: do Khổng Minh thời Tam quốc dựng thành, ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hãm tại đây, nhưng nhờ được nhạc phụ của Khổng Minh là Hoàng Thừa Nghiện chỉ đường nên ra thoát được - Tam phân quốc: Khổng Minh chưa ra khỏi nhà đã biết thiên hạ thế chia làm ba, Thục Ngô Ngụy - Thôn Ngô: Lưu Bị đánh Đông Ngô để trả thù cho Quan Vân Trường, bị thua to về tay Lục Tốn.
Bạc mộ
Giang thuỷ trường lưu địa Sơn vân bạc mộ thì Hàn hoa ẩn loạn thảo Túc điểu trạch lâm chi Cựu quốc kiến hà nhật ? Cao thu tâm khổ bi ! Nhân sinh bất tái hảo Mấn phát tự thành ty
Dịch Nghĩa
Chiều hôm
Nơi này nước sông chảy hoài Vào lúc chiều hôm nhuộm màu mây núi Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối Chim ngủ đêm chọn cành rậm Ngày nào thấy lại đất nước cũ ? Trời thu lồng lộng khiến lòng càng buồn ! Một đời người không gặp dịp tốt hai lần Mái tóc mấy chốc mà thành tơ bạc !
Dịch Thơ
Nơi nước sông tuôn đổ Chiều mây núi nhuộm màu Hoa vàng xen cỏ rối Chim tối chọn cành sâu Nước cũ bao giờ thấy ? Thu cao tấc dạ sầu ! Dịp may đời hoạ hiếm Mấy chốc bạc phơ đầu
Lê Nguyễn Lưu dịch
Bất kiến
Bất kiến Lý sinh cửu , Dương cuồng chân khả ai . Thế nhân giai dục sát , Ngô ý độc lân tài . Mẫn tiệp thi thiên thủ , Phiêu linh tửu nhất bôi . Khuông sơn độc thu xứ , Ðầu bạch hảo qui lai .
Dịch Nghĩa
Không gặp
Ðã lâu không gặp bạn Lý sinh. Bạn phải giả đò điên cuồng, thực đáng thương xót. Trong lúc người đời đều muốn bạn phải chết, chỉ riêng tôi có ý muốn tiếc tài . Bạn làm thơ rất mau lẹ, có lẽ đến ngàn bài Bây giờ đang phải nổi trôi , lưu lạc với một chén rượu. Núi Khuông Lư là nơi bạn từng đọc sách khi xưa Đầu bạc rồi, bạn hãy trở về nơi đó .
Dịch Thơ
Không gặp
Lâu rồi không gặp Lý sinh , Giả điên vờ dại , cho mình xót ai . Giết đi là ý người đời , Ngậm ngùi riêng chỉ mình tôi mến tài . Lẹ mau thơ viết ngàn bài ; Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần . Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn , Mái đầu bạc trắng , cố nhân hãy về !
Bản dịch Trần Trọng San
Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh
Truy tiễn đồng chu nhật Thương xuân nhất thủy gian Phiêu linh vi cửu khách Suy lão tiển quân hoàn Hoa tạp trùng trùng thụ Vân khinh xứ xứ san Thiên nhai cố nhân thiểu Cánh ích mấn mao ban
Dịch Nghĩa
Một buổi trên thuyền tiễn đưa nhau Thương cảnh xuân, chung một dòng nước Đã bao lâu, thân khách lênh đênh Cảnh già yếu, lại mừng gặp anh trở lại Màu hoa sặc sỡ chen lẫn lớp cây trùng điệp Mây lơ lửng trên đỉnh núi khắp nơi Bên giời hiếm bạn cũ Mái tóc càng bạc phơ
Dịch Thơ
Sông Bồi dong thuyền đưa Vi Ban về kinh
Cuộc đưa tiễn thuyền cùng một buổi, Lòng thương xuân theo với nước xuân sầu. Kiếp lênh đênh thân khách đã bao lâu, Cảnh suy lão lại mừng nhau về chốn cũ. Cây từng lớp màu hoa xem sặc sỡ Khắp ngàn non tua tủa đám mây đưa Bên giời người cũ lơ thơ Buồn thêm tóc mái phất phơ điểm màu
Á Nam dịch
|