Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VII
Nam nhi sinh bất thành danh thân dĩ lão Tam niên cơ tẩu hoang sơn đạo. Trường An khanh tướng đa thiếu niên, Phú quý ưng tu trí thân tảo. Sơn trung nho sinh cựu tương thức, Đãn thoại túc tích thương hoài bão. Ô hô ! Thất ca hề, tiễu chung khúc, Ngưỡng thị hoàng thiên bạch nhật tốc...
Dịch Nghĩa Làm trai sinh ra chưa nên danh thân đã già Ba năm đói chạy khắp nẻo núi hoang. Bọn khanh tướng ở Trường An đa phần còn trẻ Nên sớm đem thân vào chốn giàu sang. Bọn làng nho quen biết cũ đều ở núi non Thường bàn chuyện xưa, thương cho chí lớn. Hỡi ôi ! Hát bài thứ bảy, tiếng hát buồn đã dứt, Ngẩng trông trời cao, mặt trời trắng đi qua nhanh...
Các dạ
Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng Tam hiệp tinh hà ảnh động diêu Dã khốc kỷ gia văn chiến phạt Di ca sổ xứ khởi ngư tiều Ngọa long dược mã chung hoàng thổ Nhân sự âm thư mạn tịch liêu
Dịch Nghĩa Trong ngày tháng cuối năm, thời gian giục giã qua mau. Giữa khi sương tuyết ở bên trời, đêm ngừng giá lạnh. Tiếng trống và tù và nổi lên nghe bi ai, hùng tráng vào lúc canh năm. Bóng những vì sao và sông Ngân lay động trong miền Tam Hiệp.
Biết bao nhà vang tiếng chiến chinh trong tiếng khóc đồng quê. Trong khi ở một vài nơi, nổi lên điệu hát của người đánh cá, kiếm củi trong tiếng ca mọi rợ.
Rồng nằm, ngựa nhảy cuối cùng đều thành đất vàng. Việc đời và thư tín thảy đều vắng vẻ, yên tịnh. ------- Đỗ Phủ làm bài này vào mùa đông năm 766, khi ở Quỳ Châu.
Dịch Thơ Đêm tối trên gác
Năm tàn ngày tháng dục qua mau, Biên cảnh sương pha tuyết dãi dầu. Kèn trống bi hùng thôi thúc sáng, Tinh hà dao động cõi Tam Châu. Nhà nhà than khóc hờn chinh chiến! Đây đó hò ca mấy chú tiều. Danh tướng mưu thần ba tất đất, Việc đời, thư tín thảy buồn thiu!
Bản dịch: Chi Điền
Cảm tác
Văn chương thiên cổ sự Ðắc thất thốn tâm tri Tác giả giai thù biệt Thanh danh khởi lãng thuỳ
Dịch Thơ Cảm tác
Văn chương là chuyện muôn đời Có chăng được mất do người ta thôi Khác chăng mỗi vẽ vẹn mười Giử thanh danh mãi sáng ngời về sau
Võ Thị Xuân Ðào Phỏng dịch
Cầm đài
Mậu Lăng đa bệnh hậu Thượng ái Trác Văn Quân Tửu tứ nhân gian thế Cầm đài nhật mộ vân Dã hoa lưu bảo yếm Mạn thảo kiến la quần Quy phụng cầu hoàng ý Liêu liêu bất phục văn
Dịch Nghĩa Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng Càng thêm yêu Trác Văn Quân Quán rượu trong cõi nhân gian Cầm đài dưới bóng mây chiều Hoa dại nằm trong chén quý Cỏ hoang vương gấu quần là Ý phượng cầu hoàng xưa Nay không còn được nghe lại nữa
Dịch Thơ
Mậu Lăng tâm bệnh vừa tan Càng thêm say đắm riêng nàng Văn Quân Tửu gia trong chốn thế nhân Cầm đài giữa ánh phù vân phiêu bồng Chén quỳnh lưu cánh hoa đồng Cỏ may vương gấu quần hồng phất phơ Cầu hoàng quy phượng ngày xưa Cung cầm trác tuyệt bây giờ còn đâu
Vi Nhất Tiếu
Cửu khách
Cơ lữ tri giao thái Yêm lưu kiến tục tình Suy nhan liêu tự thẩn Tiểu lại tối tương khinh Khứ quốc ai Vương Xán Thương thì khốc Giả Sinh Hồ ly hà túc đạo Sài hổ chính tung hoành
Dịch Nghĩa Ở đất khách lâu dài
Sống gửi nằm nhờ mới biết tình nghĩa bạn bè ở lâu dài mới thấy rõ thói đời Tự cười mình vẻ mặt nhăn nheo già cỗi Tên lại nhỏ mà khinh người thái quá Vương Xán đau buồn bỏ nước ra đi Giả Nghị khóc thương cho thời thế Lũ chồn cáo đâu đáng nói đến Hạng sói cọp đang lúc nghênh ngang
Dịch Thơ
Sống gửi hay tình bạn ở lâu biết thói đời Mặt già riêng nửa dáng Lại nhỏ cũng khing người Vương Xán buồn xa nước Giả Sinh khóc tiếc thời Cáo chồn đâu đáng kể Sói cọp vẫy vùng chơi !
Lê Nguyễn Lưu dịch
Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang
Lão khứ, bi thu cưỡng tự khoan Hứng lai kim nhật tận quân hoan Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo Tiếu thảnh bành nhân vị chỉnh quan Lam thủy viễn tòng thiên giản lạc Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn Minh niên thử hội tri thùy kiện Túy bả thù du tử tế khan
Dịch Nghĩa Về già, buồn cảnh thu, gượng gạo cho khuây khỏa. Hôm nay nhân lúc cao hứng, cùng bác mua vui thật ra trò. Tóc ngắn ngủn, những thẹn bị gió thổi bay mũ (1) Cười mình đến phải nhờ người bên cạnh sửa hộ mũ cho chỉnh tề (2). Dòng Lam thủy từ ngàn suối xa xa đổ lại. Ngọc sơn vòi vọi cũng lạnh như hai ngọn núi cao. Sang năm, gặp tiết này, biết ai còn mạnh khoẻ. Sẽ uống say, rồi cái nhánh thù du điểm kỹ nhau xem. ------- (1) Do điển Mạnh gia đời Tần, nhân tiết trùng cửu (9 tháng 9), chơi núi Long Sơn, bị gió thổi rơi mũ, thành một đề tài để Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng. (2) Cũng do điển Mạnh gia rơi mũ, phải nhờ người bên cạnh là Hoàn Ôn sửa mũ lại cho.
Dịch Thơ Ngày trùng cửu ở nhà họ Thôi huyện Lam Điền
Tuổi già thu đến gượng khuây khoa Cao hứng vui chơi bác tại nhà Những thẹn tóc thưa cơn gió lốc Lại cười mũ lệnh khách nâng qua Lam Giang suối đổ ngàn biên tái Ngọc Lĩnh hơi lên ngọc Thái Hòa Năm đến, tiết nầy ai mạnh yếu? Thù du sẽ điểm sổ phần ta!
Bản dịch: Chi Điền
Dã vọng I
Thanh thu vọng bất cực Thiều đệ khởi tằng âm Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh Cô thành ẩn vụ thâm Diệp hi phong cánh lạc Sơn quýnh nhật sơ trầm Độc hạc quy hà vãn ? Hôn nha dĩ mãn lâm
Dịch Nghĩa Trông cảnh đồng quê
Bầu thu trong vắt khôn cùng Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên Nước xa lẫn vòm trời quang đãng Thành cô quạnh nấp trong sương dày Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần Núi tít mù mặt trời vừa lặn Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ? Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.
Dịch Thơ
Bầu thu vời mút mắt Lớp lớp bóng im xa Nước thẳm in trời tạnh Thành hoang khuất móc sa Lá thưa theo gió rụng Núi quạnh lẫn dương tà Hạc tối về đâu nhỉ ? Rừng đêm rộn ác tà...
Lê Nguyễn Lưu dịch |