Hiểu vọng
Bạch Đế canh thanh tận Dương Đài sắc tự phân Cao phong thượng hàn nhật Điệp lĩnh túc mai vân Địa sách giang phàm ẩn Thiên thanh mộc diệp văn Kinh phi đối mỹ lộc Ưng cộng nhĩ vi quần
Dịch Nghĩa Thành Bạch Đế tiếng trống tan canh Trên Dương Đài ánh sáng hiện ra Ngọn núi cao mặt trời mọc còn lạnh Núi trùng điệp, mây mờ nằm thu lại Đất lở, buồm trên sông lúc ẩn lúc hiện Trời xanh, nghe tiếng lá cây rụng (Ngồi ngoài) cửa tre nhìn đàn hưu nai Muốn cùng lũ ngươi làm bạn
Dịch Thơ Sáng sớm xem phong cảnh
Tiếng trống tan canh Bạch Đế thành, Dương Đài rực sáng ánh bình minh. Đầu non vầng nhật còn trong lạnh, Sườn núi làn mây chửa bủa nhanh. Đất lở, buồm phơi thay sắc thái, Trời thanh, đá đổ dội âm thanh. Trông nai ngoài ngõ thong dong bước, Những muốn cùng nai kết bạn lành.
Bản dịch:Chi Điền
Kỷ
Vĩnh dữ thanh khê biệt Mông tương ngọc soạn câu Vô tài trục tiên ẩn Bất cảm hận bào trù Loạn thế khinh toàn vật Vi thanh cập hoạ xu Y quan kiêm đạo tặc Thao thiết dụng tư tu
Dịch Nghĩa Con hoẵng
Vĩnh biệt khe suối trong trẻo Sắp bị dọn lên cùng với thức ăn ngon Không có tài theo các bậc tiên ở ẩn Đâu dám giận bọn đầu bếp Đời loạn coi thường mọi vật Tiếng kêu nhỏ mà tai hoạ cũng đến Bọn áo mũ cũng như bọn trộm cướp Ăn uống nhồm nhoàm thoáng chốc hết ngay
Dịch Thơ
Vĩnh biệt suối khe trong Món ngon sắp dọn cùng Theo thiên tài chẳng kịp Giận bếp dám sinh lòng Đời loạn không gì vẹn Thầm kêu cũng mắc vòng Quan quyền cùng trộm cướp Ngốn ngấu chốc là xong!
Lê Nguyễn Lưu dịch
Ký Đỗ Vị
Hàn nhật kinh thiềm đoản Cùng viên thất mộc bi Giáp trung vi khách cửu Giang thương ức quân thì Thiên địa nhân hà tại Phong trần bệnh tán từ Phong thư lưỡng hàng lệ Triêm sái ấp tân thi
Dịch Nghĩa Ngày rét, mặt trời :Dng qua thềm Mất ổ, cùng đường, vượn buồn rầu Nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông Khi ở trên sông lại nhớ đến bác Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ? Bước phong trần đau ốm biết nài sao! Gửi lá thư, hai hàng lệ nhỏ Đầm đìa bám vào lòng thơ mới
Dịch Thơ GỬI ÔNG ĐỖ VỊ
Bóng trời rét qua thềm thoăn thoắt Vượn cùng đường mất ổ những bi ai Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ Khắp trời đâu biết đâu là chốn ở Bước phong trần đau ốm nữa nài sao! Phong thư hàng lệ tuôn trào Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ
Á Nam dịch
Khách chí
Xá nam xá bắc giai xuân thủy, Ðản kiến quần âu nhật nhật lai Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo, Bồng môn kim thủy vị quân khai Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị, Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm, Cách ly hô thủ tận dư bôi
Dịch Nghĩa Khách đến
Phía nam, phía bắc nhà toàn là nước xuân Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới Trươc đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng Vì chợ xa, nên bữa ăn không có đủ vị nhà nghèo, chỉ có chén rượu cũ chưa lọc Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm cách rào, gọi mang ra hết chén rượu còn lại
Dịch Thơ
Khách đến
Nước xuân đầy rẫy bắc nam; Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà. Chưa vì khách quét lối hoa, Cửa bồng nay mới mở ra vì người. Chợ xa thiếu vị dâng mời; Nhà nghèo chỉ có rượu ôi lâu ngày. Với ông hàng xóm cùng say, Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào.
Bản dịch: Trần Trọng San
Khách tòng
Khách tòng nam minh lai Di ngã tuyền khách châu Châu trung hữu ẩn tự Dục biện bất thành thư Giam chi kíp tư cửu Dĩ sĩ công gia tu Khai thị hoá vi huyết Ai kim trưng liễm vô!
Dịch Nghĩa Khách từ
Khách từ biển Nam tới đây Cho tôi một hạt ngọc người cá Trong ngọc có nét chữ mờ mờ Cố phân biệt mà không nhận rã câu gì Giấu nó trong hộp đã lâu rồi Đợi để nhà quan dùng đến Mở xem, nó biến thành cục máu Thương thay! Nay không còn gì nộp thuế!
Dịch Thơ
Khách từ Nam hải tới Cho một hạt tuyền châu Trong ngọc in mờ chữ Lần xem chẳng rõ câu Giấu hoài trong hộp kín Chờ để các quan thâu Mở ngó hoá thành máu Thương thay! Thuế má đâu ?
Lê Nguyễn Lưu dịch
Khương thôn kỳ I
Tranh vanh xích vân tây Nhật cước há bình địa Sài môn điểu tước táo Qui khách thiên lý chí Thê noa quái ngõa tại Kinh định hoàn thức lệ Thế loạn tao phiêu đãng Sinh hoàn ngẫu nhiên toại Lân nhân mãn tường đầu Cảm thán diệc hư hí Dạ lan cánh bỉnh đăng Tương đối như mộng mị
Dịch Nghĩa Ðám mây đỏ cao ngất ở phía tây; gót chân mặt trời bước xuống mặt đất bằng. Trước cổng nghèo, chim sẻ kêu xao xác, khi khách từ nơi xa ngàn dặm về đến nhà. Vợ con đều sửng sốt khi thấy tôi còn sống; khi đã hết kinh sợ, vẫn còn chùi nước mắt. Ðời loạn, gặp cảnh lưu lạc; được sống sót trở về, thực là ngẫu nhiên. Những người hàng xóm đứng đầy tường, cũng đều cảm động, bùi ngùi. Ðêm khuya, lại thắp đèn lên; nhìn nhau, tưởng chừng như đang ở trong giấc mộng.
Dịch Thơ Thôn người Khương
Mây đỏ ngất bên tây Mặt trời bước xuống đất Cổng nghèo, chim xao xác Ngàn dặm khách về đây Vợ con đều sửng sốt Rồi gạ lệ trào tuôn Ðời loạn, mình lưu lạc Sống về, thực thỏa lòng Ðầy tường người sớm cũ Cảm động cũng thương ai Ðêm khuya, đèn vẫn thắp Trông nhau, ngỡ mộng rồ
Bản dịch Trần Trọng San
Khương thôn kỳ II
Vãn tuế bách thâu sinh, Hoàn gia thiểu hoan thú. Kiều nhi bất ly tất, Úy ngã phục khước khứ. Ức tích hiếu truy lương, Cố nhiều trì biên thụ. Tiêu tiêu bắc phong kính, Vũ sự tiễn bách lự Lại tri hòa thử thu, Dĩ giác tao sàng trú. Như kim túc châm chước, Thả dụng ý trì mộ.
Dịch Nghĩa Tuổi đã già nên phải cẩu thả cầu sống. Về nhà, thấy ít thú vui. Những đứa con thân yêu không rời khỏi đầu gối, vì sợ tôi lại ra đi. Nhớ lại khi xưa thường thích hóng mát, nên tôi lại đi quanh hàng cây bên ao. Gió bắc ào ào thổi mạnh. Những việc trái ý nung nấu nổi lo âu. Vì biết lúa đã gặp rồi và hèm rượu đã rót, nên nay tôi co’ đủ rượu uống, để khuây khỏa lúc tuổi già.
Dịch Thơ Thôn người Khương
Tuổi già cầu sống vội, Về nhà, ít thú vui. Con thơ không rời gối, Sợ ta lại đi thôi. Nhớ xưa thích hóng mát, Dạo quanh cây bên ao. Ào ào gió bắc thổi, Nung nấu bao lo âu. Nghe tin lúa gặt rồi, Hèm rượu cũng có nhiều. Nay ta đủ rượu uống, Khuây khỏa lúc trời chiều.
Bản dịch Trần Trọng San
Dịch Thơ Thôn người Khương
Tuổi già cầu sống vội, Về nhà, ít thú vui. Con thơ không rời gối, Sợ ta lại đi thôi. Nhớ xưa thích hóng mát, Dạo quanh cây bên ao. Ào ào gió bắc thổi, Nung nấu bao lo âu. Nghe tin lúa gặt rồi, Hèm rượu cũng có nhiều. Nay ta đủ rượu uống, Khuây khỏa lúc trời chiều.
Bản dịch Trần Trọng San
Khương thôn kỳ III
Quần kê chính loạn khiếu, Khách chí khê đấu tranh. Khu kê thướng thụ mộc, Thủy văn khấu sài kinh. Phụ lão tứ ngũ nhân, Vấn ngã cửu viễn hành. Thủ trung các hữu huề, Khuynh kháp trọc phục thanh. Khổ từ tửu vị bạc, Thử địa vô nhân canh. Binh cách ký vị tức, Nhi đồng tận đông chinh. Thỉnh vị phụ lão ca, Gian nan quí thâm tình. Ca bãi ngưỡng thiên thán, Tứ tọa lệ tung hoành.
Dịch Nghĩa Khương Thôn (bài ba )
Ðàn gà đang rối rít kêu; khi khách đến, gà đá lộn nhau. Sau khi xua gà lên cây, mới nghe thấy tiếng gõ cổng. Bốn năm ông già lại hỏi thăm tôi đã đi xa lâu ngày. Ông nào cũng mang theo bầu rượu nơi tay, cùng tôi rót uống say sưa. Các ông phàn nàn rằng vị rượu nhạt, ruộng lúa không có người cày, chiến tranh vẫn còn chưa yên, con cái đều phải đi đánh miền đông. Xin vì các phụ lão mà hát. Tự thấy hổ thẹn trước tình cảm sâu xa của các vị đối với nổi gian nan của mình. Hát xong, ngẩng nhìn trời than thở, khiến cho các ông ngồi bốn bên rỏ lệ chứa chan.
Dịch Thơ Thôn người Khương
Gà đang rối rít kêu, Thấy người, liền đá lộn. Xua gà lên trên cây, Mới nghe tiếng gõ cổng. Phụ lão bốn năm ông, Hỏi ta đi lâu ngày; Tay đều mang theo rượu, Nghiêng bầu cùng ta say. Phàn nàn vị rượu nhạt, Không người cày ruộng đồng, Cjiê1n tranh còn chưa hết, Con cái đều sang đông. Xin vì phụ lão ca, Hổ thẹn tình sâu xa. Hát xong nhìn trời than; Bốn bên lệ chan hòa.
Lâm giang tống Hạ Tiêm
Bi quân lão biệt lệ chiêm cân Thất thập vô gia vạn lý thân Sầu kiến chu hành phong hựu khởi Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân
Dịch Nghĩa Buồn bã vì phải từ biệt người bạn già, lệ ướt đầm khăn (Bạn) đã bẩy mươi tuổi, thân không nhà cửa Buồn trông thuyền đi, gió lại nổi lên Dặm sóng bạc đầu, người cũng bạc đầu
Dịch Thơ Tới sông tiễn Hạ Tiêm
Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu ? Buồn trông trận gió theo thuyền nổi Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu
Tản Đà
Bảy mươi một kiếp không nhà Thương anh vạn dặm mắt nhoà lệ châu Thuyền đi gió lại dâng sầu Bạc đầu con sóng bạc đầu ly nhân
Vi Nhất Tiếu
Lạc nhật
Lạc nhật tại liêm câu Khê biên xuân sự u Phương phi duyên ngạn phố Tiều thoán ỷ than chu Trác tước tranh chi truỵ Phi trùng mãn viện du Trọc giao thuỳ tạo nhữ ? Nhất chước tán thiên ưu
Dịch Nghĩa Mặt trời lặn
Bóng mặt trời đã ngang bức mành Bên khe, vẻ xuân vắng lặng Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống Côn trùng bay chơi khắp sân Rượu đục ai chế ra mày ? Uống một cuộc tan hết nghìn mối lo âu
Dịch Thơ
Ác lặn xế ngang mành Khe xuân cảnh vắng tênh Bếp tiều thuyền cạnh thác Cỏ biếc bãi bên ghềnh Sâu giỡn bay đầy viện Chim sa mổ cướp cành Rượu giao ai cất chế ? Một cuộc hết lo quanh!
Lê Nguyễn Lưu dịch
Lữ dạ thư hoài
Tế thảo vi phong ngạn Nguy tường độc dạ chu Tinh thuỳ bình dã khoát Nguyệt dũng đại giang lưu Danh khởi văn chương trứ Quan ưng lão bệnh hưu Phiêu phiêu hà sở tự Thiên địa nhất sa âu
Dịch Nghĩa Đêm ở đất khách,viết nỗi lòng
Trên bờ cỏ lăn tăn dưới gió hiu hiu Chiếc thuyền vươn cao cột buồm trong đêm quạnh Sao rũ xuống cánh đồng bằng phẳng bao la Trăng tung toé trên sông chảy cuồn cuộn Danh tiếng há nhờ văn chương mà lừng lẫy Làm quan cũng nên về nghỉ khi già ốm Chơi vơi giống như cái gì ? Một con chim âu giữa trời đất
Dịch Thơ Nỗi niềm đêm đất khách
Gió êm bờ cỏ mượt Thuyền chiếc cột buồm cao Sông rộng trôi vầng thỏ Đồng bằng rợp ánh sao Thơ văn danh há cậy Già yếu chức nài bao Âu trắng trong trời đất Chơi vơi tựa chốn nao ?
Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu
Bên bờ cỏ dợn gió hiu hiu, Cô quạnh thuyền con dưới bóng chiều. Đồng rộng mênh mông sao rủ thấp, Sông dài cuồn cuộn bóng trăng thâu. Văn chương mấy thuở lừng danh tiếng, Hoạn lộ già nua phải cáo lui. Thân thế chơi vơi tuồng ngoại vật, Bãi sa trời rộng giống chim âu.
Bản dịch: Chi Điền
Lưu Cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập
Thu thủy thanh vô để Tiêu nhiêu tịnh khách tâm Duyến tào thừa dật hứng An mã đáo hoang lâm Năng lại phùng liên bích Hoa diên trực nhất kim Vãn lai hoành xuy hảo Hoằng hạ diệc long ngâm
Dịch Nghĩa
Nước mùa thu trong vô cùng Rất tịch mịch làm sạch lòng người khách Một nhóm quan duyến tào nhân dịp hứng thú Đi ngựa đến rừng hoang Vị quan nhỏ, tài, gặp viên ngọc bích giá liên thành. Chiếu hoa giá trị bằng một nén vàng Chiều tối nghe tiếng sáo thổi rất hay Dưới chỗ nước sâu cũng có rồng ngâm.
Dịch Thơ Cùng Lưu Cửu pháp tào và Trịnh quê ở Hà Khâu ăn tiệc ở Thạch Môn
Nước thu trong biết bao Lòng sạch, lâng lâng sầu Hứng thú quan quyền cảm Rừng hoang vó ngựa vào Ngọc nhiều thành, đức độ Mâm một nén, sang giàu Chiếu tối vẳng đưa sáo Rồng ngâm đáy vực sâu
Bản dịch: Nguyễn Huy Hùng
Mao ốc vi thu phong sở phá ca
Bát nguyệt thu cao phong nộ hào, Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao Mao phi độ giang sái giang giao Cao già quái quyến trường lâm sao, Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực, Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc Công nhiên bão mao nhập trúc khứ, Thần tiều khẩu táo hô bất đắc Qui lai ỷ trượng tự thán tức Nga khoảnh phong định vân mặc sắc, Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc Bố khâm đa niên lãnh tự thiết Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt Sàng đầu ốc lậu vô can xứ, Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên, Trường dạ chiêm thấp hà do triệt An đắc quảng hạ thiên vạn gian, Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan, Phong vũ bất động an như san Ô hô, hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc
Dịch Nghĩa Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ Tháng tám, trời thu cao, gió giận dữ gào thét, cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta Cỏ tranh bay qua sông, rải xuống miền đất bên sông Cao thì vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng thấp thì tả tơi rơi chìm xuống ao nước Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu, nhẫn tâm làm giặt cướp ngay trước mặt ta Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc ta khô môi rát miệng, kêu thét mà không được Trở về, chống gậy, thở than Một lát sau, gió yên mây đen như mực Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà Chiếc chăn vải dùng nhiều năm, lạnh như sắt, bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang Ở đầu giường mái nhà dột, không chổ nào khô vết mưa nhiều nhưng gai vẫn còn chưa hết Từ khi gặp cơn hoạn lạc, mình ít ngủ, suốt đêm dài, ướt đẫm, biết làm sao hết được! Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẽ, không bị kinh động vì mưa gió, yên ổn như núi non! Hỡi ôi, biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ, mình có chịu rét đến chết, cũng thỏa lòng!
Dịch Thơ Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ
Tháng tám, trời cao, gió thu gào, Thổi tung mái nhà, cuốn tranh pheo Tranh bay qua sông, rơi lao xao Cao thì trên rừng treo vắt vẻo, Thấp thì phơ phất chìm trong ao Lũ trẻ xóm nam khinh ta già không sức, Nỡ lòng ngang nhiên làm trộm giặc Ôm bừa cỏ tranh vào trong trúc Rát cổ, bỏng họng kêu không được Trở về, chống gậy mà tấm tắc Phút chốc, gió yên mây như mực Chiều đến, trời thu đen bát ngát Chăn vải lâu năm lạnh như sắc, Con thơ khó ngủ, đạp rách nát Ðầu giường, mái dột, khắp nơi ướt Mưa nhiều như gai, vết chưa nhạt Từ khi loạn lạc, ít ngủ ngon Ðêm dài ướt đẫm, làm sao bớt! Mong sao nhà lớn có ngàn gian, Giúp cho hàn sĩ trên đời đều hân hoan, Gió mưa chẳng đọng, vững như non! Hỡi ôi, bao giờ thấy được nhà cao này trước mắt Nhà mình có vỡ, chết rét, cũng thỏa lòng!
Bản dịch Trần Trọng San
Mạn hứng kỳ I
Nhãn khan khách sầu sầu bất tỉnh Vô lại xuân sắc đáo giang đình Tức khiển hoa khai thâm tháo thứ Tiện giác oanh ngữ thái đinh ninh.
Dịch Nghĩa Mắt nhìn thấy khách buồn buồn không tỉnh Xuân sắc thật vô lại, đến bên đình ven sông Làm cho hoa nở vội vàng tưng bừng Và khiến chim oanh hót rộn ràng.
Bản điện tử của vinagames.org |