PHẦN II
NHẬT KÝ LÀNG QUÊ
Cha tôi
Từ xác cha vùi nấm đất đen
Bụng xuyên lỗ đạn máu tươi hoen
Đêm đêm không dám ra vườn mận
Sợ gió âm ti thổi tắt đèn
Mẹ tôi
Hòm hồi môn của mẹ tôi
Ngoài sơn then bóng trong dồi lớp son
Mẹ năm mười sáu tuổi tròn
Về đây gánh vác giang sơn nhà chồng
Từ ngày góa bụa long đong
Vét hòm bán hết xuyến vòng nuôi tôi
Ngà ngà một tấm yếm sồi
Mùi hương băng phiến xa xôi thoảng vờn
Hòm như ướp mảnh băng hồn
Hút không thấy đáy vùi chôn phận người
Ông tôi
Leo bậc thềm xưa nhớ đã lâu
Trượt chân ông ngã rách da đầu
Sợ thằng cháu nhỏ thêm lo lắng
Ông gượng tươi cười khẽ vuốt râu
Vết thương hôm trước vẫn chưa liền
Ông lại xâu luồn sợi chỉ đen
Nheo cặp mắt già may áo cháu
Đường kim chi chít mũi đưa quen
Bà tôi
Nhớ hồi cha cháu học trường xa
Giầu thuốc năm xu mua biếu bà
Bà hái cau vườn nhai bỏm bẻm
Quết trầu tươi đậm nghĩa ân hòa
Cha cháu từ xa cõi thế này
Cháu còn dại chửa biết leo cây
Lưng còng bà nhặt ăn cau rụng
Trệu trạo niềm đau nuốt lại đầy
Với em Hiến
Em câm từ thuở lọt lòng
Nhìn anh âu yếm thẹn thùng như xưa
Đời anh trải lắm nắng mưa
Bởi chưng biết nói nhưng thưa hót người
Miệng em ú ớ âm môi
Mắt em âm bản chiếu hồi phim câm
Nhớ ông Huấn Lâm
Ngón tháp bút móng lá lan
Sửa hòn non bộ ông đang tần ngần
Trường Nam đậu bảng cử nhân
Ông về rèn cặp người thân học trò
Chẳng màng bổng xộp quan to
Tương cà giữ nếp hàn nho một đời
Ngừng phê quyển nét son tươi
Rung đùi đắc ý cất lời ngâm nga
Tiếng thơ quyện với hương trà
Gió trăng bầu bạn cỏ hoa dựa kề
Đêm nghe tiếng vạc đồng quê
Ông nhìn xa lắm nẻo về mai sau.
Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu
Uốn thân si ngọn ngẩng đầu về đông
Với bác Sử
Bác giương đôi mắt đục lờ
Tìm bóng hình đứa cháu thơ hôm nào
Tới sân vừa cất lời chào
Tiếng buông đã lọt thỏm vào hư vô.
Với chú Dự
Nhà tây đã rỡ san nền
Chú về đền miếu tổ tiên nương nhờ
Đầu quay phía bát hương thờ
Án thư bụi phủ nằm chờ mục xiêu
Chuột khua hộp sắc tiên triều
Thạch thùng tặc lưỡi bong rêu vẩy rồng
Tróc sơn trơ gỗ mâm bồng
Mọt ăn đời chú mối xông chân giường
Chập chờn giấc mộng Đại vương
Hậu cung bùng cháy chân hương sáu đời.
Với chị Yêm
Thuở họ nhà trai đến rước dâu
Thấy chàng hàng thịt chị âu sầu
Chạy sang van lạy bà em cứu
Muốn trốn nhưng nào biết trốn đâu
Chắc chị nhiều đêm đã khóc thầm
Nhìn dao chọc tiết nhói trong tâm
Đời như tảng thịt nằm trên phản
Tiền xỉa theo cân bố trót cầm
Nay trở về quê chị đã già
Một đàn cháu chắt xúm quanh bà
Cái vòng quanh quẩn chuồng và bếp
Muốn thoát nhưng nào thoát nổi ra
Khóc anh Tới
Anh vừa cơm rượu no say
Ngủ trên bụng vợ chết ngay cho đành
Cực vui cực sướng lấy mình
Để đời chị phải cực hình cực thân.
Viếng anh Bản
Nghe anh trâu húc chết trên đồng
Tôi trở về quê giữa giấc nồng
Thấy lớp da trời đang toạc máu
Sừng trăng nhọn hoắt húc thần nông
Viếng anh Duẫn
Nghe anh bụng đói trở về quê
Kiệt sức lăn nhào ở vệ đê
Cách nhà chỉ khoảng vài trăm mét
Máu mủ dường như thuộc lối về
Nhớ chú Chín, chú Goòng
Già trở về quê ngủ chập chờn
Thấy cùng hai chú lội đồng trơn
Mải mê nhấc ống khua bì bõm
Tỉnh dậy tay còn lạnh nhớt lươn
Tặng anh Tùng
Hồi nhỏ theo anh xách giỏ mò
Tóc dầm nước mặn lấm đồng chua
Bốn mươi năm lẻ hơi còn khét
Ký ức lừa đâm ngạnh cá rô
(còn tiếp)
Nguồn: Hòa mạng. Tập 3, gồm 123 bài, trong Tuyển tập thơ Hoài Anh. NXB Văn học, 12-2007.
|