Tưởng niệm Anh linh những người Việt đã bỏ mình vì chiến tranh ở Thế kỷ Hai mươi
Khúc I: Biên thùy
Khúc II: Mẹ nhằn hạt na Cha nhai dập miá
Khúc III: Chiến tranh - Đàn ông & Đàn bà,
Khúc IV: Tiếng Việt
Khúc V: Hình như ai cũng khổ
Khúc VI: Chẳng nỡ trách dòng sông
Khúc VII: Chết trẻ
Khúc VIII: Cuộc chiến không đổ máu
Khúc IX: Ngũ cung
Khúc thứ Nhất: BIÊN THÙY
I. Nhìn từ Vũ trụ
Trái Đất sáng như khối pha lê
xanh biếc
tuyệt đẹp
hình ảnh ấy có từ bốn chục tỉ năm
khi Trái Đất vừa mới ra đời
hào hứng bay kiên nhẫn bay trong vũ trụ
biển không chia thành các đại dương
không phân biệt Biển Đen Biển Đỏ
đất mênh mông nối thành lục địa
không có đường biên phân định lãnh thổ quốc gia
loài Người chưa xuất hiện
Trái Đất hiền hậu trong lành
hành tinh dậy thì tươi nhuần màu mỡ
chưa sôi nước mắt nóng hổi xót cay
chưa phơi xương trắng chưa tuôn máu đỏ
những triệu năm qua đi
Mặt Trời ít dần sức hút mờ dần ánh sáng
như cây nến cháy đến giọt cuối cùng
Địa Cầu sẽ dạt trôi trong giá lạnh
đặc quánh bóng đen
không còn ngày nay
không có bữa mai
bình minh hoàng hôn không có nữa
Trái Đất rơi tự do
chìm nghỉm vào “lỗ đen” không đáy
chuyển động hỗn loạn trong vô cùng vô tận không gian
cháy bùng nổ vụn vỡ tan !…
ngót bốn chục tỉ năm
chưa có con người Trái Đất tẻ nhạt cô đơn
dòng sông chưa được thoả thuê ôm ấp những hình thể khoả thân
làn nước chưa thay gấm vóc lụa là giấu da trần thịt nõn
bãi sông hang đá im lìm
chưa rúng động bởi những cuộc làm tình bản năng
đam mê cuồng nhiệt
những con người đầu tiên xuất hiện
nương tựa nhau ôm ấp nhau
giao phối thật nhiều sinh đẻ thật nhiều
bầy đàn thêm đông
bớt sợ hãi rừng thiêng núi dữ
mặt đất đỡ hoang vu hang động không vắng vẻ
chó sói không vào hang bắt trẻ con
đông người xô ngã được cây cao
bẫy bầy voi to săn đàn trâu lớn
không lo thiếu thức ăn khi bão rừng lũ cuốn
đàn ông có thêm đàn bà
gái tơ tha hồ chọn nhiều trai khoẻ
rừng của chung sông suối của chung thảo nguyên của chung
của chung bầy ngựa rừng đồi dứa chín
cha mẹ của chung con cái của chung
huống gì đất đai sông biển !…
II
Đàn bà biết lựa xương thú lông chim
con gái học cách chọn đất màu làm đẹp
đàn ông ngày càng to cao khoẻ mạnh…
nắng ủ men những đồng mía bạt ngàn
mật ngọt hoá rượu cay nồng nàn quyến rũ
ma qủy xui khiến con người chế ra nước phép
để có thêm đồng bọn đồng minh
rượu ngấm vào tim tan hoà trong máu
đàn bà
vồ gỗ đập quan tài
mo cau quạt mộ
đàn ông xé sách đốt đền
rượu rút ngắn thời gian trở thành nghệ sĩ
làm tăng nhanh số lượng nhà thơ
uống nhiều rượu núi ngỡ thấp vực tưởng nông
tăng ham muốn ở đàn ông
rạo rực tim đàn bà
rối lòng thiếu nữ…
người yêu người người sinh ra người
chặt gỗ dựng nhà cắt cỏ tranh lợp mái
thuần dưỡng lợn lòi thành lợn ỷ Mường Khương lợn sề Móng Cái
chuối dại hoá chuối ngự chuối tiêu
hành tinh khổng lồ không thể lớn thêm
bớt hoang dã Địa Cầu càng chật
khỉ vượn hươu nai hẹp dần đất sống
chó sói đánh dấu lãnh địa
móng chân cào toạc vỏ cây
“rừng nào cọp nấy”
- hổ báo gầm gừ đọc tuyên ngôn
đất có Thổ công sông cần Hà bá
con người gán sông núi cho thánh thần
rồi tự nhận phần chia phần
bộ tộc kết thành dân tộc
chiếm cứ lãnh thổ tạo dựng quốc gia
hình thành biên giới biên cương biên ải biên thùy
ta từng muốn được sống như thời man sơ ấy
bắt thỏ săn nai hái lượm trái cây
không ai thành tỉ phú
không ai phải ăn mày
mọi người đi cùng loại xe tuần lộc lôi chó kéo
không cần thủ tướng
không cần Đảng A
không cần Đảng B
không cần cả Đảng C
không cần nghị viên nghị viện
được sống ở thời mông muội ấy
ta chưa biết giẫm đạp lời thề khiến đời em dang dở
khi nhắm mắt xuôi tay khỏi bị trừng phạt
- những vòng dây lửa thắt trói linh hồn
cuộc sống bây giờ cần nhiều thứ quá
nhà ở xe đi bằng cấp ghế ngồi
những danh hiệu danh xưng
nào danh gia danh vọng
bí danh bút danh lắm vào
cũng vô danh vô tích sự thôi.
III
Biên cương
là dãy núi hiểm trở thưa thớt mờ nhạt dấu chân
sườn đông nước này sườn tây nước khác
biên giới
nhát cắt chia đôi con sóng
cây gạo cao to gấp trăm cột mốc
hoa trên cành nước em rụng xuống cỏ nước anh
Trái Đất
chiếc bánh khổng lồ của Trời
con người mài lưỡi dao vô hình xắt thành vài trăm miếng
hơn thiệt rủi may đã thành quá khứ
không thể đổi thay
không chia lại nữa !
cư dân xứ Việt
con cháu ngàn đời của Rồng Tiên
được chia giải đất vừa hẹp vừa dài
uốn lượn từ Nam lên Bắc
như miếng bánh chưng ở góc miếng bánh dợm ngoài rìa
người Việt từ ngàn xưa lấy ấm là cần coi no làm trọng
nhân bánh của ta
sừng tê giác ngà voi đồi mồi
gỗ vàng tâm xà cừ lim táu
than béo than gầy Phấn Mễ, Hòn Gai, Hồng Quảng
mỏng tang vài lớp đất đồi lấm tấm vàng cám Bồng Miêu
của nả chỉ bấy nhiêu
mà trộm đạo rình rập
giặc dã bên đông bên đoài
mấy ngàn năm máu chảy đầu rơi
mục đồng dựng cờ lau đánh trận
nữ nhi múa kiếm trên lưng voi trắng
đè sóng dữ cưỡi cá kình đuổi giặc
nghìn năm trước sang ngàn năm sau …
biên giới biên cương biên ải biên thùy
vẽ trên giấy vạch trên mặt đất
chẳng tốt đẹp gì mọi chia lìa ngăn cách
ta vẫn muốn như thuở hồng hoang
tự do trú ngụ tự do thiên di vùng này vùng khác
như hươu nai cò vạc
chẳng tốt đẹp gì
nhưng nếu không có biên giới biên cương biên ải biên thùy
hành tinh càng hỗn loạn rối ren
đất đai vô chủ vô thần giành đi giật lại
biên giới
lắm khi phải chấp nhận trong hoài nghi
thừa nhận trong cay đắng
có thể thay đổi hiện tại sắp đặt tương lai
nhưng lịch sử không thể nào thay đổi
lắm kẻ muốn định lại cương vực
lấn vùng này chiếm nơi khác
xê dịch đường biên từ Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây
để “miếng bánh” của mình thêm to thêm ngon
những người mẹ Việt
Bà Trưng, Bà Triệu, Liễu Hạnh, Mỵ Nương
những người cha
Mai Hắc Đế, Triệu Quang Phục, Bố cái Đại Vương
đất đai dưới gầm Trời - cội nguồn sự sống
phát tích văn minh Trống đồng
văn minh Lúa nước
văn minh Bánh chưng bánh dầy
văn minh Ca trù, Quan họ, Cồng chiêng…
hổ thẹn với tiền nhân
mang tội với muôn đời sau
nếu để giặc chiếm
dù chỉ vũng trâu đầm
gốc cây
bờ ruộng…
IV
Đất mọc rừng
rừng vùi lấp triệu năm thành than thành quặng
ma mút khủng long
sứ giả lặng câm của thời Tiền sử
bất tử trong những nét vẽ trên vách hang sườn đá
ta đi trên mặt đất
theo dấu chân khai sơn phá thạch
dân phu muôn đời đổ mồ hôi nước mắt
ruộng bậc thang quàng quanh vách núi
người Việt bao đời nuôi con
hoa trái thóc gạo cá tôm
người với đất nuôi nhau bằng những gì qúy nhất
thảo mộc chim muông hoá thân vào chữ viết
vàng tâm tạc tượng gỗ lim dựng cột ngói gốm lợp đình
để bà để mẹ để em ngả nón
ghép khuôn nấu đồng đúc trống Đông Sơn, Ngọc Lũ
luyện sắt dựng ngựa thần
Thánh Gióng đuổi giặc Ân…
thần dân Ba Tư dựng vườn treo Babilon
nô lệ lưu vực sông Nin xếp đá tảng tạo kim tự tháp
nông dân Khơme xây Angko Thom, Angko Vát
người da đỏ vẽ trên xương ức đại bàng
người châu Phi xếp hình trên cát…
viết nên trường ca kể thành truyền thuyết
soạn chung thông điệp gửi đến muôn đời :
- Từ cát bụi sinh ra, con người lại trở về cát bụi !
Thành Cát Tư Hãn từng muốn đặt hành tinh trong tầm tên bắn
có những năm tháng cả nhân loại lo âu phấp phỏng
xe tăng in hình mặt trời, dấu thập ngoặc
cuốn xích cày nát châu Á châu Âu
đòi chia lại lãnh thổ quốc gia
vẽ lại đường biên giới
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Núi sông bờ cõi đã chia
Sông có thể cạn núi có thể mòn…”
biên giới biên cương hữu dạng vô hình
đời trước truyền đời sau gìn giữ
Hốt Tất Liệt, Nã Phá Luân, Hít Le…
mang xuống mười tám tầng đất đen giấc mơ bá quyền bá chủ.
Khúc thứ Hai
MẸ NHẰN HẠT NA CHA NHAI DẬP MÍA
I
Đêm diệu huyền
đầu ngả sang đầu tay nóng bỏng tay
cây nghiêng ngả
trăng đầy hồ nổi sóng
- yêu nhau nhất trên đời !
anh cũng muốn thốt lên như thế
nhắc lại nhiều lần
yêu nhiều như lá rừng dạt dào như sóng bể
tình yêu tuyệt đối say đắm đam mê
tự do sáng trong buông thả
trốn tìm trong mắt rót mật vào tai
anh tin em nói như lòng nghĩ
nhưng không muốn đó là sự thật
đã có từ khi chúng mình chưa hiện hữu trên đời
tình yêu đầu tiên tình yêu lớn nhất
dành cho em cho anh
thuộc về mẹ cha
tự nhiên bản năng
trước cả những gì ước muốn
như nghé sữa bê tơ mèo con cá bột
em có thể không là của anh
suốt đời làm vợ người khác
anh có thể mất em
suốt đời đành là chồng người khác
lòng anh yên tĩnh mỗi khi bước qua cổng chùa
cảm ơn em vô hình bao lần kéo anh xổ khăn rách áo
để anh khỏi xuống tóc như bao sư già sư trẻ
trước khi ruổi ngựa vào rừng tìm Phép Màu
chân tu thành Phật Tổ
hoàng tử nâng gươm cắt mái tóc xanh tạ tội vua cha
anh không rơi từ ngọn cây
em không lẫy ra từ ruộng nẻ
ôm nhau thật chặt
như hai kẻ hành hương ngụp lặn trong nước thiêng sông Hằng
nuốt giọt cam lồ uống nước tàn nhang
giật mình bừng tỉnh
không phải lời niệm Phật
không lẩy ra từ Cựu ước, Tân ước, Coran, Địa tạng
tiếng nói tự đáy lòng
- ta yêu nhất Mẹ Cha !
II
Núi sông đầu tiên
âm thanh đầu tiên ánh sáng đầu tiên ấm lạnh đầu tiên
tất cả trong vòm trời đầu tiên - bụng mẹ
vòm trời bụng mẹ ổ kén vàng tằm no lá dâu
tổ bám vách động Hương Sơn
treo cành thông già rủ mái chùa Yên Tử
ta như đại bàng non vỗ cánh bay chuyền
bụi trúc đằng ngà cỏ linh chi lót ổ
trứng chim công trắng nõn phập phồng chờ rạn vỏ
nước dãi chim yến trộn lẫn huyết hồng
lông tơ phượng hoàng ủ mây ngậm gió
ngơ ngác cất tiếng hí chào đời ngựa chín hồng mao
lòng mẹ
- bầu trời đầu tiên
mẹ nhận biết khi ta còn mỏng manh
tơ nhện
chỉ mành
giọt mưa
sợi khói…
nửa đêm về sáng bãi tha ma ngoài đồng
gốc lim cổng chùa cây gạo bến sông
đảo lá vặn cành phả làn gió độc
chướng khí lọt qua khe cửa vào chõng mẹ nằm
tơ nhện chỉ mành
con của mẹ
đứt tung
làm sao nối lại !
mẹ lăn sóng soài
trời mưa đường trơn
mẹ ngã vặn lưng
cọc cầu ao mục gẫy dưới bùn
con của mẹ
giọt sương
bốc hơi vào nắng
yếm mộc khăn gai
mẹ vắt dọc dây thừng phơi ngang sào nứa
chim lợn kêu đêm quạ khoang nhỏ dãi
sương độc thấm loang vạt yếm
tà khí nhàu khăn
sữa mẹ hoá nhựa xương rồng
tháng tám dốc bồ ngày ba úp thúng
cơm độn củ chuối cháo hầm sung non
mẹ ăn sắn độc xuyên rễ cỏ tranh
nuốt phải măng luồng mọc bên hang rắn
sợi khói
con của mẹ
bay theo mây trời !…
may mà cha nhồi rơm bện rạ chắn gió che mưa
bắc lại cầu ao
đóng lút cọc gỗ bạch đàn
ken dày tre đực
may mà đường trơn vãi tro ngõ lầy rắc trấu
mẹ bấm mười móng chân tứa máu
phập phồng cuống nhau khí huyết dồn về
con dày thịt xương nhô tai mọc tóc
Bà Mụ nhào nặn tò he
Đất Trời cho con tim óc
linh hồn kết tụ từ lòng yêu thương hi vọng của cha
tò he hóa thân
con biết ấm lạnh buồn vui cùng mẹ
đợi chín tháng mười ngày cha đón con ra
bì bõm lội ruộng chiêm tóc mẹ đẫm mưa
tàu bay Hencát, Đacôta xé gió trên đầu
mẹ nắm tay cha
lựa chân tránh từng rãnh cày gốc rạ
cả khi đã ngồi dưới hầm sâu bình yên trong lòng đất
mẹ vẫn giấu con vào góc hầm kín nhất
đêm mùa đông giá lạnh
con rúc đầu vào nách mẹ lòng bà
gác chân qua bụng cha
khói thuốc lào cay
quết trầu nồng
sữa ngọt
mỗi khi nhớ lại mắt cay mũi nghẹt
đêm tháng chạp mẹ quấn con bằng vạt áo bông đụp chằng mụn vá
giặc từ Bến Trại càn vào Đò Neo bủa qua Vô Hối
Tây trắng Tây đen cắt đường bịt lối
tao nôi cánh võng đầu tiên của con
cặp thúng cái tản cư
quang mây đánh võng lắc lư
hàng ngàn chiếc - nôi - thúng treo trên vai cha mẹ
từ Hà Nam, Hải Dương chạy vào Nghệ An, Thanh Hóa
đồng bằng thành phố ngược lên Phú Thọ, Thái Nguyên
đói khát sợ hãi kiệt sức đẹn sài
bao đứa trẻ không tỉnh lại
bánh mật tháng mười bánh ú tháng hai
cà niễng thằn lằn sâu chè ếch cốm
cua bấy giữ mai tôm càng tách vỏ
muồm muỗm nếp mùa chín vàng trên lửa…
hay ăn chóng lớn
chúng con tập lẫy tập đi
mẹ nhằn hạt na cha nhai dập mía
trứng rùa trứng rắn
mẹ ăn lòng trong phần con lòng đỏ
con nghẹn cá nạc bố nhằn xương vây.
III
Cha có niềm vui ngâm thơ hút thuốc uống chè
tết nhất tổ tôm hội hè cờ tướng
mẹ vào bếp ra đồng tứ thời bận rộn
ma chay cưới hỏi môi thắm quết trầu
đình đám giỗ chạp áo xống mới lành
ra sân chùa xem chèo khăn vấn khăn vuông mới nếp
nắng đội nón lá mưa quàng áo tơi
mùng một ngày rằm lên chùa lễ Phật
xoa chân xỏ dép mo cau
cơm chiêm niêu đất cà dừa dầm tương
bún riêu cua
rau ghém ngó cần sung nếp
mẹ ru con toàn những khúc ca buồn
“bước xuống vườn cà trèo lên cây bưởi”
ai về phố Suôi ai qua làng Hối
“chiều chiều ra đứng ngõ sau…”
cùng ngậm ngùi tuổi Thân cha mẹ nấp bóng nhau
con không biết ngày đẻ tháng sinh
mẹ mới chỉ kể “ngày ấy cha mẹ gặp nhau…”
con đã chìm vào giấc ngủ
nghe đi nghe lại con vẫn vô tâm không nhớ
cha mẹ gặp nhau thương nhau khi nào
ngày nào chạm ngõ giờ nào rước dâu
con chưa kịp hỏi bà trở dạ sinh mẹ ở đâu
có bao điều về ông bà cha mẹ con hoàn toàn không biết
những dữ liệu của một thời quá vãng
chưa kịp ghi vào ổ mềm trong lòng ổ cứng trong tim
thời gian xoá hết !
giấu thân gầy trong áo nâu yếm gụ
gậy tre vót nhọn mũi xuyên vào đất
chân mẹ vẫn xiêu lưng cha vẫn lệch
bao buồn lo nén chặt trong lòng
nhễ nhại trưa hè tái nhợt đêm đông
tóc rụng tóc rối quấn chuôi tram gỗ lược sừng
cuộn hình củ ấu trái cà treo ngọn na cành vối.
IV
Để lại những bài tập suốt tuần không ngó tới
mớ quần áo trai làng trai phố chật căng sứt chỉ mẻ khuy
dăm vần thơ ngớ ngẩn vài câu hát vu vơ
viết nguệch ngoạc trên cột nhà cánh cửa
nhưng lại hoàn toàn không hay biết
nỗi buồn lo nghẹn tim thắt dạ mẹ cha
từ lúc biết đứa con hứng hoa nâng trứng sắp đi xa
ăn bữa cơm cuối trong nhà mình
chỉ còn đêm nay ngồi trước ngọn đèn dưới mái nhà mình
đủ anh chị em
còn cha có mẹ
chỉ vài giờ nữa lên xe ra trận
chợt giật mình nhận ra những điều ngỡ xa lạ lắm
lưng cha còng bao giờ
sao mình không biết
cánh tay mẹ gầy guộc
mỗi ngày đơm sáu bát cơm độn khoai cho mỗi đứa con
ta cũng chẳng hay
đàn em thơ dại cao gầy lêu đêu
trái bếp gió lùa hắt nắng mủn mưa
đòn tay cột cái mối xông mọt nghiến
mười tám năm
sinh ra trong nhà mình lớn lên ở nhà mình
ta như người xa lạ !
không kịp nữa rồi
xe nhận quân đã sắp về làng
cờ, khẩu hiệu đỏ sân hợp tác
không còn kịp nữa
xe chật đường thôn trống giục ngoài đình
ta nào biết cha mẹ anh em không bao giờ còn đủ đầy như thế.
V
Cha chưa lên thủ đô
mẹ mới ra khỏi huyện
vẫn biết chúng con đói quay đói quắt ngoài trận mạc
nhiều lần dạt qua biên giới
lắm khi bị vây hãm trong hang
vẫn biết chúng con ngủ hầm sưng khớp nằm võng vẹo lưng
sốt rét vàng da sưng gan phù lách
lẫn trong lá xanh có loài rắn lục
cá sấu lặn dưới nước đục nhử người xuống tắm ở quãng nước trong
hổ báo rình mồi cạnh lối mòn
rừng cháy suốt đêm
những người lính chết trong cơn rét
tầm tã mưa rừng khốc hại mưa bom
dưới mỗi mái nhà những người mẹ người cha đều biết
dù thư gửi về cả năm chưa đến
thư nào chúng con cũng an lòng cha mẹ:
- quân ta toàn thắng, bọn giặc toàn thua !
chúng con bắn súng quen tay
mắt to mắt nhỏ má sạn vai u
vẫn không ngờ viên đạn sắc nhọn xuyên thủng
lỗ chỗ giấc ngủ của cha xé toạc giấc mơ của mẹ
cả khi đạn bom làm thủng thịt gãy xương
chúng con đau xé
trong cánh võng vải nhẹ bẫng ướt sũng mồ hôi
những người lính không tỉnh dậy sau cơn co giật
ở quê nhà hình như mẹ cha đều biết
đau nhói ruột gan nước mắt chảy ròng
cày rời khỏi tay cha
bò tế trâu lồng
đom đóm nổ trong mắt vàng lét xanh le
mẹ rùng mình như trúng gió …
những người mẹ người cha
có con ra trận có con tử trận
chết mòn chết dở bao lần
trước khi chết thật.
Khúc thứ Ba
HOÀ BÌNH CHIẾN TRANH
ĐÀN ÔNG & ĐÀN BÀ
NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ CHỒNG TRONG NHÀ
Sống với nhau mười mấy ngày anh vào Vệ quốc
xa cách chục năm chị đã ngót ba mươi
chiến thắng Điện Biên
sau vài lần “đi phép mười ngày” anh xuất ngũ về quê
người lính nào chẳng muốn “nghỉ phép” suốt đời như thế
thoả sức đắp bù
“ăn giả bữa” cả đêm
“ăn vã ăn vụng” suốt ngày
có khi mong trời mưa muốn cả làng đi vắng
vợ chồng nhìn nhau
xấu hổ…
không dám tin là thật
có chồng trong nhà
tháng trước tháng này tháng nữa
đêm nào cũng quấn lấy chồng
đêm nào cũng được chồng ôm
chị nói thầm hát thầm cười thầm thẹn thầm
rưng rưng nghẹn ngào…
mặc kệ chồng lo toan những điều to tát
chị quảy rơm gánh rạ
ngăn gió lùa máng lợn cũi trâu
không để tàn tro nguội lửa
vá buồm
se thừng
phơi chão
tát nước lòng thuyền
dây lèo bánh lái đá ngầm bãi cạn đã có chồng lo
chị chỉ biết làm vợ làm dâu làm mẹ
hương hoa trên ban thờ
gạo muối sẵn trong thưng …
tóc dài óng mượt bồ kết lá chanh
ngát dịu bạc hà hương nhu hoa bưởi
đằm duyên nhuận sắc
lắm khi chị giật thót nghi ngại chính mình
hơn hớn lúa chiêm tháng ba
rạo rực đê mê đón sấm
gió heo mật trèo ngọn mía
cuối thu trời lạnh se se
nắng hanh vàng rực ngọn cây
da dẻ đàn bà nứt căng đỏ lựng
anh dựng cày
buộc trâu
kéo rào dấp ngõ
lỡ buổi làm đồng…
chỉ đủ vợ đủ chồng ngần ấy tháng năm
kịp có ba con đủ cả gái trai
nhà lợp rạ ba gian vườn ba sào tươi tốt
mái ấm gia đình không nắng hắt gió lùa mưa dột
con
chụm chân kiềng chóng lớn mau khôn
vợ
thị thơm muỗm ngọt mơ chua
khoai mầm mật ứa thóc giống căng bồ
mít chín thơm đến cùng ớt ương cay tột độ
xanh mướt thài lài phân gio đủ độ
chồng
dẻo trâu lò mật dai sức bò cày hăng như ngựa kéo
hả hê mưa nhàu cỏ bợ
vợ chồng đầy dầu dài bấc
giếng đá ngọt lành dây gàu săn chắc
anh cày em cấy vui thú đến trăm năm…
như đàn kiến nhao nhác trước trận mưa giông
gió lệch hướng bợt da, mưa muối chanh xót dạ
mùa thu năm ấy qua nhanh
gió bấc lạnh ngắt tràn về
mưa phùn giấu nước vào mái rơm
không bay lay phay không ngưng thành giọt
khói bếp bay là ngọn cau chẳng chịu lên trời
tổng động viên !
tất cả cho tiền tuyến !
hồng chị cùng chồng những người đàn bà trong làng ngoài phố
chia tay vợ con cha mẹ họ hàng
chia tay những năm tháng chóng vánh hòa bình
hai lần ra trận cách nhau mười mấy năm
bỏ lại những người ruột thịt đông gấp mấy lần
đàn ông từ nay khát da thịt vợ
phụ nữ thiếu cơm thèm vải
nhịn đàn ông
đói cháu con…
“NGẢ LƯNG” GIỮA HAI CUỘC CHIẾN
I
Với nhiều người Việt từng sống
đang sống
Thế kỉ Hai mươi dài
cực dài
chỉ Thập niên Sáu mươi đã lâu như cả thế kỉ yên bình từng trôi qua lặng lẽ
Tây Ban cầm sáu dây
cây đàn huyền diệu của văn hoá văn minh nhân loại
không dễ độc tấu hoà tấu mười chương khúc của Thập kỉ Sáu mươi
người ta thửa cây đàn mười hai dây ghép bằng sắt gang tre nứa
chỉnh đàn đến không thể căng thêm
để dây khỏi đứt tung âm thanh không lạc
thấp hơn nửa cung cao hơn nửa nốt
năm tháng - hàng phím lõm !…
sau chín năm kháng chiến
những người lính Trung đoàn Thủ Đô, Đoàn quân Tây Tiến
tuổi nghấp nghé ba mươi bốn mươi
sung sức giữa thời trận mạc
đủ sức đuổi giặc đến mũi Cà Mau
bịt chặt cảng Đà Nẵng, Sài Gòn
không để giặc ngoại xâm đổ bộ lên đất liền lần nữa
những đại đoàn chủ lực
Quân Tiên Phong, Chiến Thắng, Đồng Bằng…
bừng bừng nhuệ khí
hạ trại ở Đồng Lê án binh quanh Nhật Lệ
dừng cuộc trường chinh trước Khu Phi quân sự Vĩnh Linh
những người lính từng trải im lặng nhìn nhau
đất nước phải chia đôi ?
không thể hiểu
không sao hiểu nổi !
Vĩ tuyến Mười Bảy
Vĩ
tuyến
Mười
Bảy
!!!
???…
(Ghi chú: năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam có đủ sức buộc Pháp rút
hoàn toàn để giải phóng cả nước, nhưng vì rất nhiều sức ép, phải kí hiệp định Giơnevơ chia đôi lãnh thổ)
II
Sau ba ngàn ngày chiến trận
những dàn đại bác nguội dần
vỏ đạn, xác ca nô đợi hoá thân
thành nồi đồng điếu chảo gang
trăm vạn chiến binh náo nức thay nhau nghỉ phép
bao cô gái quê xốn xang ngóng trông bộ đội về làng
mơn mởn con gái tỉnh Đông xứ Đoài đồng dâu bãi mía
vừa kịp dậy thì
những cô hàng xén hàng tấm Hải Dương, Bắc Ninh, Nho Quan, Phủ Lý
chải mượt tóc bồng lá bún
mơ làm con dâu Cụ Hồ, vợ vệ quốc quân
từ Thủ đô Gió ngàn, Sầm Nưa, Mường Lát
khoác áo trường chinh về lại kinh thành
những sĩ quan không cấp bậc quân hàm
oai hùng giầy đen
áo đại cán Tôn Trung Sơn bốn túi
lọt mắt xanh tiểu thư Hàng Bạc, Đồng Xuân
chiến binh của những trung đoàn thiện chiến Bắc Bắc, Thủ Đô, Tu Vũ
(Thuộc Đại đoàn 308)
hành quân ngang dọc giấc mơ thôn nữ
khăn nâu đồng tiền khăn đen mỏ quạ
Từ Sơn, Lục Ngạn, Canh Diễn, Nhật Tân…
mẹ chồng sinh thêm con út con thêm
nàng dâu hai năm ba lần vượt cạn
làng quê phố thị râm ran pháo cưới
những cô đỡ trẻ các bà mụ vườn
bao năm nhàn nhã chân tê tay dại
ngày ngóng người mời đêm chờ kẻ gọi
bây giờ tất bật đi sớm về khuya
“từ nay bom đạn hết rồi
con thuyền xuôi ngược thảnh thơi giữa dòng…” (Trích lời một ca khúc)
trẻ trồng na già giồng bạch đàn
xẻ đá nung vôi đắp lò nướng gạch
“Thẻ Nhận ruộng” trường tồn cùng phim ảnh
thành báu vật trong các viện bảo tàng
- kỉ niệm một thời gửi tới mai sau ?
ruộng mới nhận vừa chia lại gom vào hợp tác
“chiêm mùa cờ đỏ ven đê
sớm hôm tiếng trống đi về trong thôn” (Trích thơ Tố Hữu)
chỉ vài trăm người biết
bộ đội công binh sắp mở đường mòn dọc Trường Sơn
chỉ mấy chục người hay
những con tàu không số vẫn âm thầm rẽ sóng biển Đông
vạch Đường Hồ Chí Minh trên biển
cây dương cầm cũ dưới tán đại ngàn vang lên từng chùm hợp âm
kết thành giai điệu
Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết những nốt nhạc mở đầu
hành khúc Giải phóng miền Nam
lại có chiến tranh !
chiến tranh sắp nổ ra !
những người làm mẹ làm cha
giao thừa năm ấy vẫn không ngờ cuộc chiến khốc liệt đã rất gần
Tết ấy với bao cuộc đời đã là Tết cuối
“cả nước lên đường
xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục” (Trích thơ Chính Hữu)
con trai lớn nhập ngũ
bố hoãn phục viên
cỏ thao trường chưa kịp hồi sinh
lại dập nát dưới đế giày lính mới
chồng thôi làm nhà ngói
vợ bán bò chặt tre đong thóc trữ sắn khoai
con gái vội lấy chồng
gấp gáp đẻ con trai
cả những người dân thường cũng hiểu
chiến tranh lần này dằng dai khốc liệt
vợ chồng li tán gia đình nát tan
chục triệu người Việt Nam mang thương tích suốt đời
mấy triệu người sẽ chết.
NHỮNG ĐỨA CON KHÔNG THỂ TƯỢNG HÌNH
Ngay cả trong chiến tranh
mỗi khi ém quân trong rừng
lính khoẻ mạnh như đi an dưỡng
cá suối thịt rừng bột trứng lương khô
gạo nếp nấu chè đậu xanh ngâm giá
chiến dịch chưa mở màn
binh lính nhàn cư chỉ huy nhàn nhã
không sợ thồ balô nặng trĩu “xẻ dọc Trường Sơn”
không sợ hùm beo rắn rết
những cái chết đủ hình đủ dạng đeo bám rình rập đợi chờ
những người lính đàn ông con trai mạnh mẽ
mười chín, ba mươi
sinh lực căng tràn
công nhân khuân vác Bến Bính, Phà Đen
chân sào thuyền buôn
vai nổi u hằn vết thừng chão kéo thuyền
xuôi ngược sông Chu sông Mã
lực điền Quảng Bình, tráng đinh Thanh - Nghệ
thợ sơn trành Bình Định
trai Cầu Vồng Yên Thế…
lưng săn ngực nở vai đầy
đùi ếch chân dê tay càng cua biển
mụn trứng cá dày như kiến
không e ngại bất kể điều gì
khổ sở
dư thừa
năng - lượng - đàn – ông
Thập kỉ Sáu mươi
đã có mấy người biết khái niệm đồng tính đồng giới
lính trẻ chúng tôi chưa được ai bày vẽ cách “thỏa mãn” cho mình
chưa phải kiểm thảo không bị cản ngăn
cứ ngỡ đã phát kiến ra điều kì diệu !
dừng chân một đêm ở rừng tre
rừng chuối
mắc võng mấy ngày đợi hành quân tiếp
mưa đầu mùa
măng tre mập mạp tua tủa mọc lên
năm bảy chồi non chen chúc nẩy từ thân chuối mẹ
ông già Xêđăng bập thuốc rê sâu kèn nhả khói cười kha kha :
- chưa có khi mô… như thế !
quẳng balô xuống cỏ
dựng súng gốc cây
nằm lăn trên lá khô đá tảng duỗi chân dang tay
ăn dăm bảy bát cơm măng vầu mắm ruốc
lính phởn phơ sức lực lại ứ đầy
những chiếc võng lép kẹp vỏ đậu nhẹ bẫng tàu dừa
những chiếc võng nặng trĩu căng phồng
đố tục giảng thanh
chuyện tiếu lâm chuyện phòng the chăn gối
râm ran rôm rả rúc rích tiếng cười
những người lính da trần như nhộng
nằm ôm nhau ngủ chung võng suốt đêm
võng một hóa võng đôi
trĩu nặng dềnh lên dập xuống như thuyền
dây võng níu căng nghiêng cây tróc vỏ
sên vắt thức giấc tìm mồi rào rạo lá khô
dưới những tấm võng có từng đám kiến nâu kiến gió…
- không vậy
suốt đêm nhiều đêm chúng em mất ngủ
- không làm thế
có khi phải tìm vô bản, tụt lại dọc đường
vào rừng phát rẫy lấy vợ Vân Kiều
bám xe nhảy tàu về quê hương…
sau những cơn vật vã trăn trở bất an
được “giải tỏa”
những người lính ngủ ngon ngáy pho pho như sấm
gương mặt dãn chùng thảnh thơi mãn nguyện
nụ cười bí hiểm đậu khóe môi
bao bạn bè đồng đội
chỉ vậy
rồi thôi
mang đủ nỗi khát thèm xuống Đất
hương vị Đào Tiên chỉ có trên Trời
tình yêu tình dục
nghe kể rồi tưởng tượng
không sờ tay không nhìn tận mắt
bạn tôi em tôi chết trận
riêng điều ấy mười mươi có thật !
chôn vội lấp vàng những thi thể con trai
chưa từng cọ sát da thịt phụ nữ mỡ màu ấm nóng
chưa nhìn thấy ngồn ngộn thân hình đàn bà
không bị lá chuối áo tơi nón mê che khuất
những đứa con – một – nửa không thể tượng hình từ trăm ngàn người lính
thành máu thịt sên vắt kiến gió kiến nâu
đom đóm lập loè bay
hoang dại rừng xanh hun hút vực sâu…
Thập kỉ Sáu mươi Thập kỉ Bảy mươi
đêm dài như tháng
tháng bằng cả năm
đàn bà sợ tuần rụng trứng
đàn ông uổng phí tinh trùng.
(còn tiếp)
Nguồn: Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn. Nhà xuất bản Văn học, 2009.
www.trieuxuan.info |