TẤM LÒNG NGƯỜI CÔNG NHÂN ĐƯỜNG SẮT
Đồng chí Chư, công nhân Đường sắt
Nhiều người quen tên và biết mặt
Quê hương, một mảnh trời Quảng Nam
Mười chín năm trông mòn cả mắt
Tuổi trẻ cầm súng đi đánh Tây
Chín năm không nghỉ lấy một ngày
Tập kết, trẩy qua làng xóm cũ
Không kịp dừng hỏi tin mẹ, thầy
Ra Bắc, Chư đi học lái tàu
Đốt than, giữ lửa, quản gì đâu
Trước, nay, lòng chỉ một mơ ước
Lái tàu về đúng chỗ đưa nhau
Ba năm học việc, tám năm làm
Ga, cầu, bom giặc phá tan hoang
Mười mấy lần lái tàu tiên tiến
Cộng lại bao nhiêu là gian nan?
Vinh dự được thành người Đảng viên
Lòng càng thao thức chẳng nguôi quên
Ôi, Quảng Nam! Quê đầy máu lửa
Ngoài Bắc, đêm nào Chư ngủ yên?
Giữa lúc say mê việc lái tàu
Bỗng trên có lệnh gọi: về đâu?
- Nhà ăn thiếu một người lo liệu
Đồng chí về làm cho ít lâu!
Chư nảy người lên, thét, rụng rời:
- Lái tàu, xin chỉ lái tàu thôi
Chư này lánh bỏ nơi giông bão
Với Quảng Nam, sao đáng mặt người?
Đồng chí bí thư nghiêm nét mặt
Bỗng choàng vai Chư, ghì rõ chặt:
- Chư ơi, nếu thật vì Quảng Nam
Sao chối việc này đương khó nhất?..
Tháng, năm gian khổ vẫn bay mau
Lo chuyện cơm, canh, nào dễ đâu
Xa lửa nồi hơi, ôm lửa bếp
Mới đấy mà nay bạc trắng đầu!
Một lòng nuôi dưỡng sức anh em
Vừa bữa chiều xong lại bữa đêm
Trọn sáu năm dài lo chạy bữa
Bữa nào cũng sẵn món ăn thêm
Giặc phá ga xa, phá đoạn gần
Đường ray vẫn rộn bánh xe lăn
Anh em cả tuyến đều tin chắc
Về quán ông Chư là có ăn!
Tôi gặp Chư bên bếp lửa ròng
Sau ngày Hà Nội lập kỳ công
Chư cười hể hả: - Quê trong đó
Giải phóng hung hè! Sướng, sướng hung!
Chư sẽ ôm xoong bế chảo về
Quảng Nam lâu chỉ gặp trong mê
Con tàu Tự Lực mai qua đấy
Sẽ ngạt ngào thơm trăm vị quê!...
Đồng chí Chư không phí tháng năm
Chạy tàu rồi chạy bữa nhà ăn
Lòng yêu lớn ấy như trăng sáng
Hòa với tình quê như sáng trăng.
Yên Bái, ngày 24 -02-1973
CA NGỢI
Thuở mịt mù cõi Việt
Người về rạng ánh dương
Ba Đình sấm Xuân động
Cả trời Thu lên đường!
Cứu đói, lòng làm biển
Cứu Nước, thân làm tường
Gạt Nhật, bầy mưu lạ
Đánh Tây, nuôi sức trường
Sét nổ Điện Biên Phủ
Sập sụp trời Tây phương
Sửng sốt bao hồn nước
Nghe vang kèn tự cường
Nhục của viễn chinh Pháp
Chẳng chữa Mỹ sói lang
“Dân tộc ta là một !...”
Tâm hồn Người lại vang
Đường Lối lớn, Nghĩa lớn
Dồn ác thú vào hang
Đông, Tây chẳng nghĩ khác
“Mỹ thua đã rõ ràng”
Đương thắng, sẽ toàn thắng
Là dân nước Việt Nam!
Lẫm liệt đời con Người
Giản dị mà vinh quang
Một chiếc dép lốp đạp
Ba đế quốc tan hoang
Rừng, cây, sông, núi mới
Tay Người trồng sởn sang
Rễ sâu liền gốc cứng
Cành Bắc nối cành Nam!
Trái tim lớn nhân loại
Bảy chín Xuân rộn ràng
Đồng chí khắp Nam Bắc
Bác, cháu, đầy giang san
Nghĩa bốn phương vô sản
Trong trẻo tấm gương vàng
“Không có gì hối hận!...”
Ai cùng Người sánh ngang?
Cảm động lời Di Chúc
Nghìn thu trời đất vang
Vằng vặc lòng để lại
“Tình thân yêu muôn vàn…”
Lồng lộng suốt xưa nay
Một con người Việt Nam
Ca ngợi Người như Người
Thơ nào không gian nan?
Tiếc Nguyễn Trãi, Đỗ Phủ
Chẳng sống cùng thời gian
Đức Người muôn thuở nhớ
Ơn Người muôn thuở mang
Cúi đầu trước linh cữu
Nước mắt thành đá vàng!
Thu 1969
TIẾNG THU
Ba Đình, tháng Chín hương bay
Năm xưa Bác đứng nơi này Tuyên ngôn
Việt Nam, từ đáy hoàng hôn
Bỗng nghe bay bổng tâm hồn: Việt Nam!
Nắng Thu, lời Bác rực vàng
Mênh mông sáng khắp không gian: Tiếng Người
Nắng thu… Lời Bác… Lâu rồi
Cáng nghe lồng lộng đầy trời: Tiếng Thu.
Ba Đình, đêm 03-9-1971
ĐÊM ĐẶC CÔNG
Vượt vòng canh của giặc rất khó
Trườn, nấp, lăn, bò, gian khổ
Đôi khi địch bước ngay sát đầu
Cứ sợ nó nghe ngực mình thở
Hành quân hàng dọc có hai người
Đội trưởng bò sau tôi
Bàn bạc thầm qua ngón tay bấm
Suốt đêm không một lời
Đặt mìn, đặt thật nhẹ:
- Đừng nghịch “chú em mìn” nhé!
Chốc nữa cười khà khà
Cho bầy Mỹ - Ngụy thấy cha
Ra khỏi trùng vây, vẫn nín thở
“Thằng em” ngủ quên sao” ?
Thắc thỏm lo từng phút
Bỗng một tia vàng lóe cao
Kho bom đạn giặc thành kho lửa
“Thằng em” cười đó rồi!
Bẻ đôi điếu thuốc chia nhau hút
Nghe lửa và bom réo động trời.
Tháng 9-1971
ĐẸP MỘT TRỜI XUÂN
Kỷ niệm ngày Hiệp định Pa-ri
Chim xuân lảnh lót gọi bình minh
Ôi, sướng vui sao: giặc cúi mình!
Khắp đất pháo ran xuân đại thắng
Cờ bay hào khí thuở bình Thanh
Dân tộc anh hùng, gương sắt son
Nghe rung trái đất ngợi ca dồn
Nước non ngàn thuở cha ông đó
Thưa Bác, giờ thêm rạng nước non!
Xuân ngút xanh màu xanh Điện Biên
Phút vui còn gợn nỗi hai miền
Trường Sơn xẻ dọc, nguyền không nghỉ
Cho đóa sen tròn trăm cánh sen!
Khúc hát xuân chung đã hẹn hò
Hồng, Lô, thân thiết gọi Hương, Trà
Cửu Long ơi, vút muôn tầm sóng
Cho đẹp trời xuân một nước ta.
Thăng Long, Xuân Kỷ Sửu, 1973
GỬI ANH TÙ BINH MỸ
ĐƯỢC THA CUỐI CÙNG
Anh giã từ đất nước tôi
Đất nước mà anh có công tàn phá
Anh từng muốn biến đất nước tôi thành mảnh vụn
Nhưng đất nước tôi lại chắp những mảnh vụn anh
thành lại con người.
Anh đã ở tù và nay được thả
Anh may hay không may?
Với lương tri anh và với nhân dân Mỹ
Trái tim anh phải tự trả lời
Riêng tôi phải nhắc anh:
Anh không thành công trong việc biến đất nước tôi
thành mảnh vụn
Nhưng chúng tôi đã thành công trong việc chắp
mảnh vụn anh thành lại con người
Đó là cái khác Mỹ- Việt Nam.
Và đó cũng là điều nước Mỹ anh không nên lặp lại.
Tháng 3-1973
ĐÊM RỐT-XTỐC
Đêm Rốt-xtốc đầu tiên tôi ngủ
Tàu bạn đung đưa bên gối tôi nằm
Sao tôi thèm nghe sôi sóng biển
Hòa nhịp tim tôi sóng dậy khôn cầm
Tôi biết cảng này có nhiều thủy thủ
Cùng Việt Nam chung gội đạn bom
Tình vô sản nuôi trong máu lửa
Trên đời này vàng ngọc nào hơn?
Như Nép-tuyn phóng đinh ba dẹp sóng
Vào mặt quân thù, Rốt-xtốc phóng những
chuyến tàu “Vì bạn Việt Nam đi”.
Nhưng đón bạn, lại hóa nàng ý-nhị
Tôi sống từng giây phút mê ly.
Chim hải âu khi vượt trùng dương
Có tàu bạn, chim bay vững cánh
Yêu Rốt-xtốc, lòng ta thêm mạnh
Đủ sức ngàn lần bay vượt trùng dương.
Biển Ban-tích, đêm 8-10-1973
QUÁN TRÀ THÊ-PỐT
Quán trà Thê-pốt trà ngon
Kính gương bốn mặt quây tròn quán vui
Hải âu lượn sát ghế ngồi
Gió thơm, sóng biển say người như vang
Biết bao vẻ đẹp cách sang
Bạn bày sẵn để chờ mang tặng mình
Nước trà với mắt cùng xanh
Uống hoài chưa nói hết tình mến thương.
Rốt-xtốc, 12-10-1973
TRĂNG ĐÊM BAN-TÍC
Vừng trăng Ban-tíc bất ngờ
Gương treo ngọn sóng như chờ khách xa
Hải âu đêm chẳng quên ta
Lượn quanh bè bạn xòe hoa đón mừng.
Bạn cùng tiếng biển hát chung
Thơ ta phút cũng vang rung biển đầy
Mai sau nhớ phút vui này
Thì vin cánh sóng theo bầy hải âu.
Biển Ban-tíc, đêm 11-10-1973
Ở BÉC-LIN
Chị bạn chỉ một khu phố lớn
Và nói: - “Năm chục năm xưa
Béc-lin từng được đón
Bác Hồ
Khi Người đến với Lê-nin
Cái năm hai mươi tư giá rét”
Nghe bạn kể Béc-lin thân thiết
Càng trở nên thân thiết ngàn lần
Tôi kéo tay, đòi đến thật gần
Nhìn tận mắt
Nơi Bác Hồ đã ở
Nhưng chị bạn lắc đầu
Đau khổ:
- “Dấu vết xưa tan tác sạch rồi.
Sau những trận
Bom Anh
Bom Mỹ!”…
Tôi tần ngần nhìn nơi bạn chỉ
Rồi nhìn ra khắp Béc-lin:
Điện đỏ, xanh, vàng sáng rực trời đêm
Tàu, xe chạy như những dòng suối lửa
Tôi siết chặt bàn tay xinh nhỏ:
- Chị bạn ơi,
Tôi đã thấy rồi
Phòng Bác Hồ
Nay ở khắp nơi
Trong mọi phố Béc-lin sầm uất
Và ở mỗi xóm mỗi nhà
Nước Cộng hòa Dân chủ Đức.
Béc-lin, 22-10-1973
HOA ĐANG NỞ
Tặng Trần Đắc Thọ
Hoa đẹp nhất là hoa đang nở
Như triều dâng lên của một bài ca
Không ai thấy được hoa đang nở
Nếu không phải là người trông hoa
Chúng ta là hoa đang nở
Mang màu sắc mặt trời
Mà hương hoa là hương của cuộc đời
Vươn cao thành chất mới
Hoa đang nở, ta gửi hương ca ngợi
Đảng, người trồng cái đẹp cho Hoa.
Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng
Nguồn: Bầu trời. Thơ Huyền Kiêu. NXB Văn học, 1976.
Bản điện tử của www.trieuxuan.info
|