1. Ở Pháp có thời loại truyện dài thịnh hành hơn cả là tiểu thuyết tâm lý. Có người
hỏi nhà văn Alphonse Daudet về hiện tượng ấy. Ông đáp: “Tiểu thuyết tâm lý ư? Tôi
không biết. Nó không tồn tại. Ở đâu có nhiều tâm lý hơn trong Manon Lescaut của Abbé
Prévost? Đó có phải là tâm lý tiểu thuyết? Có đúng là rất nhiều tâm lý nơi Tolstoi, mà tác
phẩm của ông ngồn ngọn chi tiết đời thường? Ở đâu có nhiều tâm lý hơn Macbeth hay
Hamlet của Shakespeare, mà đấy lại là những kịch bản. Nếu tiểu thuyết tâm lý tồn tại thì
mọi tiểu thuyết trên đời đều là tiểu thuyết tâm lý tất”.
Cho dù nhà văn chấp nhận hay không, mỗi nhà khoa học hiểu một cách, thể loại tiểu
thuyết mới vẫn ra đời, được nhiều nhà sáng tác thực hiện và đông đảo công chúng đón
chào. Tiểu thuyết tư liệu là trào lưu thời thượng trên thế giới ngày nay.
Trong văn chương, việc xếp một tác phẩm vào loại này loại kia chẳng có ý nghĩa gì
đối với giá trị đích thực của nó, nhưng tại thương trường, bất cứ cái gì góp phần làm nên
thương hiệu, giúp cho việc quảng bá cuốn sách làm ra được các thượng đế độc giả quan
tâm hơn thì các nhà xuất bản, phát hành không bỏ lỡ cơ hội.
Hãy mở mạng điện tử ra, bấm nhẹ một cái vào một địa chỉ thương mại văn hóa
phẩm, chưa kịp chớp mắt đã thấy hiện ra 24 cuốn sách chào mời, có ảnh bìa, có số trang,
có thể thức: khổ sách bao nhiêu, bìa cứng hay bìa mềm, sách mới tranh hoặc sách người
khác đã dùng qua, và dĩ nhiên giá cả từng loại, vv. Di con chuột sang một địa chỉ phân
phối khác, lập tức hiện lên 25 cuốn, cùng một điểm nhấp nháy phía dưới: cần xem nhiều
hơn nữa, xin nhấp vào đây!
Liếc qua các tên sách, có thể hiểu tiểu thuyết tư liệu ngày nay đề cập những chủ đề
gì, các câu chuyện xảy vào thời điểm nào: Ba tháng trong nhà tù, Ngà voi và thuốc phiện,
Thượng Hải ngày nay, Ấn Độ hôm nay, Người con của Ramses (Hoàng đế Ai Cập thời cổ
đại)... Đến một nhà xuất bản sách văn học lâu năm như Gallimard (Pháp) cũng nhạy bén
với thương vụ. Hiện đang quảng cáo rầm rộ một cuốn sách ra mới mấy tháng nay, dịch từ
nguyên tác tiếng Croatia, đề sách là một địa danh: Sonnenschein, còn danh tính nữ tác gia
không biết đọc cách nào cho đúng theo âm tiếng Việt: Dasa Drndic.
Chuyện kể về một cô gái người Do Thái yêu một sĩ quan Đức quốc xã, có với y một
đứa con. Sau chiến tranh, trở thành giáo sư toán học, chị muốn tìm lại giọt máu của mình
và cũng muốn hiểu thực tế những gì đã xảy ra trong thế chiến tại một vùng bị các nhà sử
học hoàn toàn quên lãng. Nhà xuất bản Gallimard giới thiệu: “Tác phẩm không mang đến
cho chúng ta các đấng anh hùng hay sự cứu rỗi, nó là con số cộng nhiều đến kinh hoàng
những câu chuyện nhỏ liên quan đến số phận biết bao người bị chà nát bởi sự đớn hèn
của số đông im lặng cũng như sự tàn bạo của những kẻ sát nhân. Tác giả Dasa Drndic
đã thực hiện thành công một tiểu thuyết lớn về những hệ quả của cái ác”.
Cuốn sách hiện đang được bày bán tại nhiều nước Châu Âu và Canada. Nó lớn hay
nhỏ, thành công đến mức độ nào, hẳn còn phải chờ sự thẩm định của công chúng và tác
động thời gian, nhưng bán chạy với giá đắt thì quá hiển nhiên.
2. Tiểu thuyết tư liệu, còn gọi là tiểu thuyết không hư cấu, hình thành sau chiến
tranh thế giới thứ hai. Những bí mật về chiến tranh, diễn biến các chiến dịch lớn quyết
định thắng bại, số phận các điệp viên huyền thoại, các đài phát thanh bí mật... Tư liệu
kín, hồ sơ mật sớm muộn rồi cũng được giải mã, tuy nhiên nhà văn nhà báo cứ bê nguyên
như thế mà bày ra trang giấy thì quá khô khan, hơn nữa hàng ngàn hàng vạn nhân chứng
còn kia, sao không đoái hoài đến họ. Chiến dịch, hành quân, điệp báo, thành công, tan
nát... rốt cuộc đều gắn với số phận con người. Vậy là rộ lên một loạt tác phẩm có thể gọi
“xuyên quốc gia” bởi ăn khách và sớm được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Tại Pháp,
Nhà xuất bản Flammarion phát hành một Tủ sách sáng tác có dịch thuật có mang tiêu đề
chung chung nhưng thời thượng hồi bấy giờ: Leur aventure (Cuộc phiêu lưu của họ)
Đại chiến thế giới qua đi, chiến tranh lạnh xuất hiện. Bức tường Berlin sụp đổ, Liên
bang Nam Tư tan nát thì có vụ đánh sập Tòa tháp đôi New York biểu tượng sức mạnh
Hoa Kỳ. Tiếp đến, chiến tranh Afganistan và Irac, thế cuộc Iran và Xiri, giao tranh tại
dải Gaza, nội tình Tunisie, Lybie, Ai Cập... Xung đột, đối đầu không lúc nào ngơi. Thêm
vào đó, sự hoành hành của các mafia xuyên đại dương. Những số phận khổ đau, những
chứng nhân thấp cổ bé miệng. Lệ thường, vấn đề thời sự đã có các phương tiện truyền
thông. Nhưng những việc đã qua mà lịch sử chưa kịp vào cuộc? Nói theo cách của tạp chí
Le Magazine Littéraire: “Bằng cách nào tường thuật cái quá khứ không chịu đi vào quá
khứ? Văn học phải vào cuộc thôi”.
Thoạt đầu tiểu thuyết tư liệu được coi như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh
thám. Năm 1950, một cuốn sách mới phát hành ở Anh làm xôn xao dư luận nước ấy. Tại
một phiên họp Hạ viện, trả lời chất vấn của nghị sĩ, ngoại trưởng Anh Aneurin Bevin
thừa nhận: “Nói những gì viết ra trong sách đều là tư liệu nguyên xi đánh cắp từ Đại sứ
quán Anh tại Ankara (thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ) trong thời kỳ chiến tranh là không chuẩn xác.
Tuy nhiên, một cuộc điều tra đã phát hiện, thực tế có một người hầu phòng của đại sứ ta
ở Ankara từng dùng máy ảnh chụp được nhiều tài liệu tuyệt mật rồi mang bán cuộn phim
cho bọn Đức. Tên gián điệp chắc chắn không thể làm được chuyện đó nếu đại sứ ta tuân
thủ nghiêm ngặt chế độ bảo quản tư liệu mật đã ban hành”.
Lời tuyên bố của ngoại trưởng làm cho cuốn sách dịch từ nguyên bản tiếng Đức,
tác giả là một cựu tuỳ viên Đại sứ quán Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ tên L.C.Moyzish ngay lập
tức “cháy hàng” trên thị trường sách. Nó được dịch tiếp sang nhiều thứ tiếng khác, trong
đó có tiếng Pháp. Tuy nhiên, nhiều nhà xuất bản cứ ngần ngại không muốn ấn hành, bởi
tác giả không rõ do sơ xuất hay cố tình đã không cho biết thủ phạm vụ gián điệp ấy (xảy
ra từ tháng 10/1943 đến tháng 4/1944) cuối cùng có bị trừng phạt hay vẫn đang nhởn
nhơ ngoài vòng pháp luật; người liên quan là ngài đại sứ có phải chịu kỷ luật gì không;
và phát xít Đức sử dụng các tư liệu mật ấy đã thu được hiệu quả như thế nào… Nói cách
khác, tác phẩm đắt hàng ấy chưa hoàn chính, bởi chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bắt
buộc phải có ở một tiểu thuyết trinh thám là: tội ác (có thực hay hư cấu), động cơ, thủ
phạm, nạn nhân, tác nghiệp (của thám tử), và cuối cùng kết luận (giải mã vấn đề nêu từ
đầu truyện).
Ngần ngại một chút nhưng rồi các nhà làm sách vẫn tới tấp cho ra mắt bạn đọc, bởi
theo lời Nhà xuất bản Julliard, “câu chuyện này, không có gì còn phải nghi ngờ, là vụ
gián điệp giật gân nhất trong chiến tranh chống phát xít, nó hé ra cho chúng ta thấy lắm
điều kỳ lạ về hoạt động của các điệp viên trong cuộc chiến đấu ngầm của họ”.
3. Tường thuật là nghề nghiệp báo chí. Nói văn học là nói tưởng tượng. Làm sao
kết nối cái thực trên đời và cái thực trong đầu tác giả, bằng cách nào trần thuật cái hiện
hữu, những sự kiện làm rúng động hoàn cầu qua nỗi đau thường nhật của những người
không tên tuổi với những nỗi đau tang tóc, lưu đày chẳng ai biết được ngoài người trong
cuộc? Vậy là mở ra thêm một lãnh địa nữa cho báo chí, văn học giao thoa. Tiểu thuyết tư
liệu đàng hoàng tự khẳng định chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều cuốn truyện hút khách,
mang lại lợi nhuận cao cho nhà làm sách và tên tuổi, tiền bạc cho tác gia. Nửa thế kỷ qua,
không ít tác phẩm thuộc thể loại này nếu chưa hẳn là tuyệt tác, là phi thời gian thì ít nhất
cũng đã để lại dấu ấn trong văn học - báo chí đương đại.
Ở tiểu thuyết trinh thám thông thường diễn biến sự kiện (từng có thật hoặc được hư
cấu) là chính, con người làm vai trò dẫn dắt câu chuyện, trong khi tiểu thuyết tư liệu chú
trọng nhiều hơn đến cuộc sống nội tâm của nhân vật, và tư liệu dùng thì nhất thiết phải
xác thực, đã từng có thực trên đời. Truyện trinh thám người ta đọc lúc đợi tàu xe hay thời
gian chuyển dịch trên đường, lưu trú nơi đất khách; chúng góp vui trong chốc lát, đọc
xong có thể quên luôn, trong khi những cuộc sống nội tâm và diễn biến sự kiện tại một
tiểu thuyết tư liệu hay sẽ còn đeo bám độc giả dài lâu.
Cuốn tiểu thuyết tư liệu nổi tiếng nhất thế giới trong nửa thế kỷ lại đây là In Cold
Blood (tạm dịch Máu lạnh) của nhà văn Mỹ Truman Capote (1924 - 1984) do Nhà xuất
bản Randon House ấn hành lần đầu năm 1966. Nó đã mang lại cho tác giả vầng hào
quang chói lọi, tiếng tăm lừng lẫy toàn cầu với tám bản in lần đầu cùng sáu triệu đô la
tiền nhuận bút (giá trị đô la 50 năm về trước). Khởi nguồn là một tin vặt 300 từ đăng trên
nhật báo The New York Times ngày 16/11/1959 về vụ một gia đình nông dân gồm hai vợ
chồng và hai con nhỏ bị hai người lạ mặt sát hại vô cớ xảy ra tại một làng quê hẻo lánh
bang Kansas, Hoa Kỳ. Tác giả Truman Capote lúc này đã nổi tiếng với hơn hai chục tác
phẩm ăn khách, đã cùng một người bạn về tận nơi quan sát hiện trường, tìm hiểu bối
cảnh, phỏng vấn dân địa phương, cảnh sát hình sự... , và sau khi hai tên sát nhân bị bắt
giam chờ xét xử, nhà văn được phép vào trại giam hỏi chuyện nhiều lần đến nỗi người
làm văn và hai hung thủ gần như trở thành bạn. Hóa ra những con người có lý trí, thường
nhật không phải không biết điều lại có thể làm những chuyện tồi tệ nhất. Phải đợi sau
khi hai thủ phạm bị tòa án địa phương bắt đền tội, những gì Truman Capote thu thập và
viết ra mới công bố được. Trước sau mất bốn năm thu thập tư liệu để làm nên cuốn tiểu
thuyết và tiếp đó dựng thành bộ phim cũng hốt bạc tỉ. In Cold Blood thoạt tiên in nhiều
kỳ trên báo The New Yorker, cơ quan tài trợ tác giả, sau mới xuất bản thành sách. Tựa
đề, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. “Máu lạnh” ở hai tên giết người hay là “máu lạnh” của
cả cái xã hội dửng dưng với tội ác? Gần 40 năm sau khi In Cold Blood trình làng, báo
London Sunday Times (Anh) vẫn khẳng định, cho đến lúc bấy giờ thế giới chưa có ai tạo
nên được một tác phẩm không hư cấu nào qua mặt Truman Capote về chất lượng và mức
độ thành công. Nhà văn Mỹ Norman Mailer (1923-2007) nhận xét: “Ông là nhà văn hoàn
hảo nhất thế hệ chúng tôi. Ông viết những câu văn hay nhất, mỗi từ ngữ mỗi tiết tấu đều
được ông cân nhắc thật kỹ càng”.
Truman Capote ghi tại bìa sách: “Tiểu thuyết không hư cấu” (nonfiction novel), vì vậy ông tự cho mình là nhà văn đầu tiên khởi xướng và thành công với thể loại tiểu thuyết sử dụng tư liệu và thủ pháp báo chí trong lịch sử văn chương thế giới. Trong khi đó, Bách khoa toàn thư danh tiếng của Anh Encyclopedia Britanica lại lặng lẽ xếp tác
phẩm nhiều nhà văn lớn tuổi hơn Truman Capote và mắt bạn đọc sớm hơn In Cold Blood
nhiều, như Chúa Cứu thế dừng chân tại Eboli của Carlo Lévi người Ý (1902 - 1975),
từng được dịch sang 37 ngôn ngữ, hay Một ngày của Ivan Denissovich (1952), Quần đảo
Gulag (viết 1958 - 1957)… của nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne (1918 - 2008) v.v...
Học giả Pháp Philippe Dulac còn đi xa hơn. Qua Bách khoa toàn thư Encyclopedia
Universalis ông ngược lên tới Bí mật thành Paris của Eugène Sue (1804-1857), cuốn
truyện đăng nhiều kỳ trên báo Le Journal des Débats từ 19-7-1842 đến 15-10-1843 và
đã gây nên một cơn sốt chưa từng có trong văn chương Pháp lúc bấy giờ. Philippe Dulac
quả quyết Eugène Sue mới đích thực là thủy tổ của thể loại tiểu thuyết tư liệu, bởi tác
phẩm của ông “dành ưu tiên cho thông tin trước cách viết” - cách nhìn này khác quan
niệm của Truman Capote, Gabriel Marquez và nhiều tác giả khác. Philippe Dulac thậm
chí còn cho Bí mật thành Paris là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử tạo nên hiện tượng nay
gọi là “tương tác”, tức giao lưu trực tuyến giữa tác giả và người đọc. Ông dẫn chứng,
nhiều độc giả hồi bấy giờ bị tác phẩm hút hồn, nôn nao chờ đợi kết cục câu chuyện, đã
kiến nghị với tác giả Bí mật thành Paris nên kết thúc cuốn tiểu thuyết theo “kịch bản” do
chính họ nghĩ ra.
Xem ra người ta đang tranh nhau làm căn cước cho tiểu thuyết tư liệu. Cứ đà này,
chắc chắn Trung Quốc sẽ vào cuộc, giành ngôi đầu bảng cho bộ Đông Chu liệt quốc 108
chương hồi của họ kể chuyện thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cách chúng ta hai ngàn mấy
trăm năm.
4. Một cuốn tiểu thuyết tư liệu thành công vài chục năm lại đây là của văn hào
người Colombia Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel văn học 1982. Tác phẩm Nhật ký
một cuộc bắt cóc nguyên tác tiếng Tây Ban Nha in lần đầu năm 1996, dịch sang tiếng
Pháp cùng năm, tiếng Anh năm 1997, v.v...
Báo chí Pháp dành cho sự kiện này nhiều giấy mực và cảm tình. Kênh truyền hình
văn hóa Pháp - Đức Arte dành trọn một buổi tối giới thiệu tác phẩm với sự có mặt của
tác giả được mời bay từ Mexico sang Paris chỉ để giao lưu một tối cùng khán giả truyền
hình. Chương trình mang tên: Gabriel Garcia Marquez, nhà thuật sĩ vùng Caraibes. Tôi
tình cờ có mặt tại Paris có xem buổi truyền hình ấy.
Báo Le Monde đưa lên tít: “Gabriel Marquez pha lẫn ngòi bút tiểu thuyết gia với
ngòi bút ký giả để viết nên câu chuyện bắt cóc”. Báo Libération: “Nhật ký một cuộc bắt
cóc là tác phẩm thách thức sự phân loại. Nó là một thiên phóng sự, với nhiều tư liệu dày
dặn, mạnh mẽ và trang nhã làm ta ngây ngất, nhưng là một thiên phóng sự giống tiểu
thuyết hơn nhiều tiểu thuyết đích thực”. Người dẫn chương trình truyền hình kết thúc
buổi giao lưu: “Gabriel Marquez không viết sử ký. Cuốn sách của ông là thiên phóng sự
của một tiểu thuyết gia. Vậy mà nó vẫn là món quà đẹp cống hiến cho lịch sử ».
Trong Lời cảm ơn in ở đầu cuốn sách, Gabriel Marquez cho biết: Ông làm tác phẩm
này do yêu cầu của một số người trong cuộc. Nhiều người muốn nhà văn dùng uy tín và
ảnh hưởng của mình góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh loại trừ các mafia buôn ma tuý.
Ông đã viết được khá nhiều trang, chợt nhận ra cách làm này không ổn : « Tôi đã hủy bản
thảo đi và làm lại từ đầu. Tôi đã tiến hành phỏng vấn trong mức độ có thể tất cả những ai
có dính vào các sự kiện, và mọi người đều độ lượng vì tôi mà khuấy động những nỗi đau
ai cũng muốn cho chìm sâu vào quá khứ và kể lại cho nghe toàn bộ những gì họ đã sống.
Nỗi đau, sự kiên nhẫn và lòng phẫn nộ của họ truyền cho tôi nghị lực để, vào mùa thu của
cuộc đời, hoàn thành được nhiệm vụ buồn bã nhất, khó khăn nhất chưa từng được giao
phó”.
Cuốn sách nói về các vụ bắt cóc một số nhà báo và chính khách tên tuổi nước
Colombia do mafia ma tuý quốc tế Medellin tổ chức. Với 330 trang in (bản tiếng Pháp)
sách chia làm 11 chương và một vĩ thanh. Độc giả thưởng thức vừa tiểu thuyết vừa phóng
sự. Những chương mang số lẻ mô tả cuộc sống và tâm trạng các con tin trong nhà giam.
Các chương mang số chẵn đề cập khung cảnh chính trị, các cuộc vận động ở hậu trường,
cuộc thương thuyết tối mật giữa nhà đương cục với bọn mafia...
Cuốn sách vào chuyện như một tiểu thuyết trinh thám bậc thầy. Căng thẳng hiện ra
ngay từ trang đầu, dòng đầu: “Trước khi bước lên xe, nàng (bà chủ bút một tờ báo lớn ở
Bogota) hơi nghiêng đầu nhìn lại xem có ai bám theo mình hay không. Lúc này là mười
chín giờ năm phút, đêm đã sụp xuống trùm phủ thành phố Bogota chừng một tiếng đồng
hồ rồi...”.
Chiếc xe hơi chở bà chủ bút và cô trợ lý chạy qua những con đường hẹp trong khu
phố cổ, khi chỉ còn cách nhà riêng của bà chừng vài trăm mét, xe lên dốc thì một chiếc
taxi từ đâu vọt tới ép nó vào sát vỉa hè và chặn luôn trước mũi. Chiếc Mercedes nãy giờ
vẫn bám sát xe bà chồm lên khóa đuôi. Ba tên cao lớn nhảy ra khỏi chiếc taxi. Một tên
bắn một phát súng vào đầu tài xế, đẩy xác xuống đường, còn bồi thêm một phát nữa
vào đầu. Một tên khác từ chiếc Mercedes xộc tới mở cửa xe bà chủ bút: “Bà là người
chúng tôi tìm hôm nay. Mời bà xuống xe cho”. Bà chưa kịp phản ứng, hai bàn tay thép
của nó đã thít chặt luôn đôi cánh tay liễu, kéo lê bà mấy bước trên hè phố, ẩy vào chiếc
Mercedes phóng đi luôn...
Mở đầu dữ dội vậy song kết khúc lại yên bình như tiểu thuyết đồng quê. “Trưa chủ
nhật, Maruja (tên nhà báo vừa được trả lại tự do sau sáu tháng biệt giam) cùng chồng
chuẩn bị dùng bữa thì có tiếng chuông bấm gọi cửa. Tưởng cậu con trai vừa đi ra bỏ quên
chìa khóa xe hơi quay trở lại tìm, nhà lúc này không có ai, ông chủ thân hành ra mở cửa.
Xuất hiện một chàng trai ăn mặc lịch sự, cúi đầu chào và lễ phép trao ông gói tặng phẩm
có thắt dải nơ lụa vàng. Mở gói, hiện ra một cái túi nhỏ bằng da mềm đựng chiếc nhẫn
vàng đặt trên nền lụa. Đấy chính là chiếc nhẫn vàng gắn kim cương bọn hung thủ đã tước
đoạt của Maruja hôm chúng bắt cóc nàng. “Maruja không thể nào tin nổi. Nàng luồn
chiếc nhẫn vào ngón tay và nhận ra (sau mấy ngày được trả tự do) mình đã mau chóng
lấy lại cân, chiếc nhẫn khít ngón tay nàng vừa vặn như nàng vẫn đeo ngày trước”.
Tác phẩm kết thúc ở đây.
Gabriel Marquez không ghi chú cuốn sách của ông thuộc thể loại nào. Lời cảm
ơn ba lần nhắc tới tác phẩm, ba lần ông đều gọi trống không “cuốn sách này”.
5. Một bộ tác phẩm ba tập nổi đình đám nữa là viết về cuộc tàn sát diễn ra tại nước
Rwanda, miền Đông châu Phi năm 1994 của nhà văn, nhà báo Pháp Jean Hatzfeld
vốn làm phóng viên chiến tranh cho nhật báo Libération từ năm 1976. Trong gần một
phần tư thế kỷ, nhiều lần có mặt tại các cuộc xung đột đẫm máu ở Trung Đông, Châu Phi,
Nam Tư, Sarajevo...
Năm 1994 xảy ra cuộc tàn sát diệt chủng kéo dài ba tháng, từ đầu tháng tư đến
tháng bảy năm ấy giữa người sắc tộc Hutu giết người sắc tộc Tutsi, do sự xúi giục của
những phần tử chính trị kỳ thị sắc tộc và thực dân nước ngoài, làm chấn động dư luận
toàn cầu. Ước lượng trong ba tháng có đến 800.000 người thuộc sắc tộc Tutsi (cũng có
cả một số người Hutu ôn hòa phản đối diệt chủng) bị giết hại hết sức dã man bằng vũ khí
thô sơ.
Nghị quyết Hội đồng Bảo an lên án nhưng không dùng từ “diệt chủng”, Liên Hợp
Quốc không can thiệp, nước Pháp phải đưa quân vào châu Phi. Jean Hatzfeld đi theo
quân đội với tư cách phái viên báo chí. Ngày 4/7/1994, quân Pháp kiểm soát được thủ đô
Rwanda, song lại để cho phần lớn những kẻ sát nhân Hutu chạy sang bên kia biên giới
giữa Ruwanda với Zaire (Congo).
Tình hình rối tung rối mù, phóng viên cảm thấy bất lực không thể làm tròn nhiệm
vụ được giao. Nhưng ông không trở về Pháp mà xin nghỉ việc tòa soạn, ở lại Rwanda
sống cùng những người vừa thoát chết khỏi cuộc thảm sát đang chui lủi giữa các đầm
lầy ven con sông lớn, lặng lẽ nghe, lặng lẽ ghi tiếng ghi lời những gì họ kể lại. Ông dành
bốn năm, tập trung thời gian và sức lực thu thập tư liệu. “Tác giả có biệt tài hết sức hiếm
hoi là giúp cho những con người đã sụp đổ hoàn toàn khôi phục lại lời nói” - tuần báo
L’Express viết.
Cuốn sách đầu tiên về vụ thảm sát, Trong sự trần trụi của cuộc sống xuất bản năm
2001, được Giải thưởng France - Culture trong năm.
Tác giả vẫn ở Rwanda, tiếp tục lắng nghe và ghi chép. Lần này là tiếng nói của một
toán đao phủ người sắc tộc Hutu vừa ra khỏi tù nhờ ăn năn thú tội. Cuốn thứ hai, Một
mùa gặt bằng dao rựa, 2003, giành một lúc hai Giải thưởng văn học Pháp: Giải Femina
và Giải Joseph - Kessel.
Mở đầu tác phẩm, nhà văn chép lại máy câu đã in ở tập I: Năm 1994, từ sáng sớm
thứ hai 11-4 đến cuối chiều thứ bảy 14-5, trừ chủ nhật nghỉ, trong hơn một tháng người
sắc tộc Hutu ở xã Nyamoto đã cầm dao rựa lùng xục, rượt đuổi và chém chết những
người hàng xóm láng giềng của mình thuộc sắc tộc Tutsi. Có tới 50 000 người trong tổng
số 59 000 dân Tutsi xã ấy bị tàn sát. Đó là xuất phát điểm của cuốn sách này. Cái khác là
tập I gom lời kể của những người Tutsi thoát chết, còn tập II là lời những hung thủ người
Hutu.
Một cuốn sách đọc lạnh xương sống. Các chương dẫn, là lời tác giả trình bày bối
cảnh, diễn biến… xen kẽ các chương ghi những câu nói lạnh lùng của những người trong
cuộc. Tác giả cho biết, xong việc ghi chép, ông đề nghị mọi người chụp chung tấm ảnh
nói trước sẽ dùng in vào sách. Những tưởng bị phản đối, không ngờ mọi người chấp
thuận dễ dàng - trừ một, anh không cãi, chỉ lãng tránh và biến mất luôn. Chín người to
lớn khỏe mạnh ngồi sát vào nhau trên tấm phản kê bên gốc cây, tán lá cây xõa xuống sát
đầu, người nào cũng thanh thản trong bộ áo sơ mi cộc tay trắng quần soọc trắng, thoạt
nhìn tưởng một đội tuyển thể thao. Có một người đeo kính trắng, mặc quần dài trắng, đi
xăng đan trắng - nghe nói anh từng làm giáo sĩ trong nhà thờ!
Tình hình chẳng bao lâu có sự thay đổi. Chính phủ Rwanda với sự ủng hộ của nhiều
tổ chức quốc tế, chủ trương tái hòa hợp dân tộc, đã ra lệnh ân xá cho tất cả những kẻ sát
nhân người Hutu còn bị giam giữ trong các nhà tù hoặc đang trốn tránh ở nước ngoài, cho
trở về làng cũ sống cuộc sống bình thường. Jean Hatzfeld trình tiếp bạn đọc tác phẩm thứ
ba: Sách lược những con linh dương, 2007. Cuốn này được độc giả đón nhận còn nồng
nhiệt hơn hai cuốn trước, giành Giải thưởng Pháp Médicis năm 2007 và Giải thưởng Ba
Lan Ryszard Kapuscinski năm 2010 khi được dịch sang tiếng nước ấy.
Năm giải thưởng danh giá cho một bộ tiểu thuyết! Tiếp tục rộ lên những lời phẩm
bình, từ các nhà phê bình tên tuổi viết trên các báo lớn đến cư dân mạng qua các trang
báo điện tử, mạng xã hội và blog cá nhân.
Tiểu thuyết Sách lược những con linh dương mô tả cuộc sống hôm nay của những
nhân vật đa số có mặt ở hai tập trước. Qua lời kể của họ, hiện lên cuộc đối thoại bất khả
giữa những người thoát chết và những kẻ giết người, nỗi ám ảnh cùng những bóng ma
lãng vãng đeo bám, sự ngờ vực lẫn nhau, cái bế tắc chẳng có cách nào hiểu nhau, tin
nhau nổi giữa những người hàng xóm lâu đời nay bên này là nạn nhân bên kia là hung
thủ…
Claudine: “Ông muốn biết nhiều hơn nữa? Ông chưa chán sao! Rốt cuộc rồi tôi
cũng bắt buộc phải tin rằng cuối cùng cái Thiện đã thắng, nhờ vậy tôi mới có cơ hội
chạy thoát thân, tôi mới còn lại đây để kể cho ông nghe. Nhưng bố mẹ tôi, các em gái tôi,
những người hàng xóm của tôi, họ còn đâu nữa mà kể chuyện cho ông nghe?
Dạo ấy còn là thiếu nữ, tôi đã hiến dâng trọn vẹn niềm tin cho cuộc đời. Cuộc đời
đã phản bội tôi. Những người hàng xóm, các nhà chức trách, những người da trắng đã
phản bội tôi. Bị tất cả mọi người phản bội, ai mà chịu đựng nổi? Giờ tôi đã lấy chồng,
anh ấy là người biết điều, vợ chồng tôi đã có với nhau hai con, chúng tôi sống cũng tàm
tạm cái hiện tại, còn tương lai thì đã mất hẳn từ lâu rồi”.
Những kẻ sát nhân nghĩ gì? Pancacre: “Mình đã phạm bấy nhiêu tội ác, mà vẫn có
người thương hại sao? Đó là ý nghĩ đầu tiên đến với tôi khi nghe qua đài phát thanh tin
mọi tù nhân đều được chính phủ đại xá. Tôi bị cáo buộc, tôi bị kết án, tôi được ân xá. Tôi
chưa bao giờ xin ân xá cả. Xin làm gì cho tốn công, khi đã cầm chắc chẳng bao giờ có ai
tha thứ cho mình!”
Claudine: “Tuyệt nhiên chẳng có chi là nhân đạo trong việc ân xá cho chúng nó. Đó
có thể là ý muốn Thượng đế, không phải ý muốn của tôi”.
Trên báo La Cour Dieu (Tòa án Thượng đế), bà Viviane Montalembert, người tự
giới thiệu là “một phụ nữ ngày nào cũng đọc Kinh Thánh suốt ba mươi năm nay”, viết
sau khi xem Sách lược những con linh dương: “Chính phủ Rwanda đã ra lệnh ân xá hoàn
toàn. Biết làm sao! Đất nước đang cần những người Hutu chuyên nghề canh tác để cung
cấp lương thực cho toàn dân, lại cũng cần những người Tutsi quen công việc quản lý,
thành thạo tại các văn phòng, trường đại học. Cuộc sống vẫn phải sống... Vậy Thượng đế
đã làm gì tại đất nước mà tuyệt đại đa số dân chúng là tín đồ đạo Thiên chúa này? Ồ, thì
Thượng đế cũng phải xử sự giống như Boniface thôi, một người sống sót nay đang làm
linh mục chánh xứ Kibungo xã Nyamata, Boniface nói: “Tôi giảng đạo tại nhà thờ. Lẽ
đương nhiên tôi phải tự kiềm chế. Tôi phải chịu đựng mỗi khi nhìn thẳng vào mặt những
người từng săn đuổi mình, con dao bổ củi lăm lăm trong tay. Đức tin dù đã mờ nhạt thì
tôi vẫn cứ còn đây. Nếu tôi đã không tin rằng, trong cảnh huống lúc bấy giờ, đến Đức
Chúa Trời rồi cuối cùng cũng phải tìm mọi cách để tháo thân, thì tôi đã chẳng phải chạy
trốn làm chi”.
6. Ở nước ta, Ông cố vấn của Hữu Mai là bộ tiểu thuyết không hư cấu sáng giá đầu
tiên trong văn học Việt Nam. Nó hội đủ mọi yêu cầu, đặc điểm của thể loại tiểu thuyết
này. Tại lời “Trước khi vào chuyện”, tác giả cho biết: “Cuối năm 1969, cả Sài Gòn xôn
xao vì mới tìm ra một bước tình báo quân sự của Việt Cộng ngay trong những cơ quan
đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (...) Ngày 28/11/1969, chính quyền Sài
Gòn đã cho mở phiên toà xét xử những bị can (...) Bản cáo trạng dài 23 trang đọc hết một
tiếng rưỡi đồng hồ (...) Không một bị cáo nào chống án (…) Vụ án trở thành một vấn đề
thời sự sôi nổi (...) Sau ngày giải phóng Sài Gòn, chúng ta đã tìm được toàn bộ những hồ
sơ đó tại Tổng nha cảnh sát của chính quyền Sài Gòn...
Tác giả quả quyết: “Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp
tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử tại nước ta cũng như ở đâu đó một
số nước ngoài. Nếu có những sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến
để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó”.
Tuy nhiên, nhà văn Hữu Mai gọi bộ sách của mình là tiểu thuyết, tiểu thuyết không
thôi. Tại sao? “Tập hồ sơ này... được trình bày dưới dạng tiểu thuyết để cho về hình thức
đỡ khô khan” - ông lý giải. Và tác giả đã thành công. Chỉ cần đọc chừng mấy chục trang,
ta đã gặp luôn những con người sống động như Ngô Đình Cẩn tên lãnh chúa miền Trung
thời Ngô Đình Diệm trò chuyện với ông cố vấn Hai Long, và nhiều người khác nữa.
Ông cố vấn từng được đông đảo độc giả đón xem và đã tái bản nhiều lần, nay vẫn
có không ít người muốn đọc. Tuy nhiên, ai muốn xem qua các mạng điện tử, phải bấm
vào mục “Tiểu thuyết trinh thám”! Vậy ra Ông cố vấn là tiểu thuyết trinh thám?
Lịch sử nước Việt Nam ta riêng một thế kỷ gần đây có biết bao kỳ tích, đó là nguồn
chủ đề vô tận mở ra miền đất hứa cho tiểu thuyết tư liệu. Tại sao chưa có nhiều nhà văn,
nhà báo làm như Hữu Mai? Phải chăng tiểu thuyết không hư cấu chưa định hình? Hay là
tại những khó khăn ít tác giả dám đương đầu?
Có một thực tế là viết tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết
hình sự... tác giả tha hồ tưởng tượng. Muốn làm tiểu thuyết tư liệu, trước hết phải có tư
liệu. Tạp chí Pháp Le Magazine Littéraire nói về cuốn tiểu thuyết của nữ tác gia người
Croatia: “Đó là một bản họa đồ về cái ác. Để dựng nên bức họa đồ ấy, tác giả dựa vào hư
cấu nhưng cũng căn cứ vào các chứng cứ lịch sử qua nhiều tấm ảnh, nhiều tư liệu chân
xác cài xen vào các trang sách. Và, tựa một tấm bia đá sừng sững dựng lên tại chính trung
tâm cuốn tiểu thuyết, bản danh sách chín nghìn người Do Thái bị thảm sát tại thành phố
này trong chiến tranh”. Nhà văn, đạo diễn điện ảnh Canada Jean Daniel Lafond: “Tiểu
thuyết và tư liệu - hai từ ấy thoạt nghe đối nghịch nhau nhưng lại hòa hợp với nhau nhờ
nội lực của tác giả muốn đưa lên sân khấu những con người, những câu chuyện, những
địa danh có thực trên đời…”.
Khi tác nghiệp, nếu Jean Hatzfeld dùng máy ghi âm nguyên văn lời kể của các nhân
vật thì Truman Capote cố nhớ vào đầu rồi chép lại sau (ông tự hào, nhiều lần trắc nghiệm
đều cho kết quả ông nhớ đúng 90% những điều nghe kể). Nhiều nhà nghiên cứu xăm xoi
đã phát hiện có không ít chi tiết trong truyện tác giả hư cấu nên - “có hề hấn chi, bởi rốt
cuộc đây là tiểu thuyết!”
Sưu tầm tư liệu, một công đoạn tốn vô vàn công sức, trí tuệ mà không chắc nhà văn,
nhà báo nào cũng có điều kiện và đủ tài năng, nghị lực để tiếp cận, hoàn thành.
Hay là cũng có nhiều người e ngại, nếu gọi tác phẩm của mình là tư liệu tức là vô
hình trung coi nhẹ giá trị của nó, là mời độc giả đẩy nó xuống văn chương loại ba, loại tư,
thậm chí như tiểu thuyết ba xu? Chợt nghĩ đến câu của tác giả Nhật ký của một cuộc bắt
cóc trả lời khán giả truyền hình: “Trong văn chương, không có thể loại lớn thể loại nhỏ,
chỉ có tác giả tài cao hay sức mọn mà thôi”.
10-2013
PQ.
Tác giả gửi wwww.trieuxuan.info
|