IV. Dựa theo cảm thức chủ quan để “sáng tác” nghĩa cho các từ tố
Có một số chữ Hán được người Trung Quốc đặt ra để phiên âm các từ nước ngoài. Lại có những chữ Hán khác chỉ có thể ghép với những chữ nhất định nào đó để tạo thành một từ có nghĩa cụ thể. Bản thân các chữ (hay các từ tố) đó nếu đứng một mình thì chẳng có nghĩa gì cả. Vì không hiểu điều này nên soạn giả cứ ra sức cắt nghĩa hết mọi từ tố cho bằng được, và phải bịa cho chúng những cái nghĩa mà chúng không có. Ngoài ra soạn giả cũng mạnh dạn bịa ra nghĩa cho các từ tố trong một số trường hợp khác.
Ở phần trên, độc giả đã thấy soạn giả giảng sai nghĩa của hơn 50 từ tố, vì ông không đọc được chữ Hán mà chỉ đoán mò. Về thực chất, đó cũng là sự bịa đặt nghĩa cho các từ tố, nhưng vì các nghĩa đó thường là nghĩa của các chữ đồng âm với từ tố đang xét nên ta có thể biện bạch rằng, đó là sự “nhầm lẫn rất đáng tiếc”. Nhưng ở các trường hợp dưới đây thì đúng là soạn giả đã hoàn toàn bịa đặt, dẫu rộng lượng đến mấy cũng không thể dùng từ nào khác để gỡ tội cho ông. Xin kể ra vài chục trường hợp bịa đặt trắng trợn như thế mà chúng tôi đã phát hiện được.
1. anh vũ 鸚鵡
Theo soạn giả, anh nghĩa là tên chim, vũ nghĩa là con vẹt, và anh vũ nghĩa là con vẹt. Rồi ông nêu thêm từ cá anh vũ và cho biết rằng, đó là một giống cá nước ngọt ở ngã ba Hạc. Quả thật, anh vũ 鸚鵡 nghĩa là chim vẹt, nhưng các từ điển chữ Hán từ xưa đến nay đều không hề giải thích nghĩa của các từ tố anh 鸚 và vũ 鵡 , vì nếu chúng đứng tách khỏi nhau thì không có nghĩa gì cả, và chỉ khi đi liền với nhau mới có nghĩa là con vẹt. Soạn giả đã quá mạnh dạn gán cho mỗi từ tố ấy một nghĩa. Ngoài ra, nếu trong tiếng Hán cũng có từ anh vũ để chỉ một loài cá nước ngọt thì dạng chữ Hán của hai từ tố này cũng khác hẳn với hai chữ anh vũ trên đây, và tất nhiên, trong trường hợp này, vũ không thể có nghĩa là con vẹt.
2. bàn hoàn 盤桓
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã hai lần sử dụng từ bàn hoàn 盤桓 với hai nghĩa khác nhau. Ở câu 711-712:
Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn/ Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
thì bàn hoàn nghiã là vương vấn khôn nguôi, không dứt bỏ được. Nhưng ở câu 2399-2400:
Nàng rằng: “Thiên tải nhất thì/ Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn...”
thì bàn hoàn lại có nghĩa là quấn quýt bên nhau. Từ bàn hoàn 盤桓 có hai nghĩa như vậy.
Theo soạn giả, từ bàn hoàn có hai nghĩa: a) quanh quẩn không dứt ra được; b) quấn quýt với nhau. Giải thích như thế cũng tạm được. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nên nói là “vương vấn không dứt ra được”, bởi vì “quanh quẩn“ thì có vẻ hữu hình quá, mà từ bàn hoàn thì chủ yếu là để diễn tả một trạng thái tâm lý, tình cảm.
Nhưng khi cắt nghĩa các từ tố thì soạn giả đã trổ tài bịa đặt cho ăn khớp với định nghĩa của ông.Theo ông, bàn là quanh co, hoàn là uốn éo. Thật liều lĩnh và vô trách nhiệm. Bàn 盤 nghĩa là vòng vèo (nếu nói là quanh co thì cũng tạm được), nhưng soạn giả đã hoàn toàn bịa ra nghĩa cho từ tố hoàn. Chữ hoàn 桓 này có các nghĩa như sau: a) cột gỗ dựng bên cạnh các dịch trạm (tức là trạm chuyển công văn) hoặc các công thự để quy định vị trí đứng đợi; b) tên một loài cây thuộc họ bồ hòn; c) to lớn. Như vậy, từ bàn hoàn 盤桓 có nghĩa ban đầu là đi lại quanh quẩn cái cột mốc để mong ngóng. Về sau, nó có nghĩa mở rộng là bồi hồi, vương vấn, và quấn quýt.
3. bàng hoàng 彷徨
Theo cách dùng của chúng ta ngày nay, bàng hoàng nghĩa là choáng váng, không ổn định tâm thần. Soạn giả đã nêu được định nghĩa đúng cho từ bàng hoàng theo cách hiểu của người việt Nam hiện nay. Nhưng khi giải thích nghĩa của các từ tố bàng và hoàng thì soạn giả lại suy luận một cách tuỳ tiện, vì không biết mặt chữ nên không hiểu nghĩa của chúng. Theo ông, bàng = ở bên, bất định; và, hoàng = nghi hoặc. Nhưng trong tiếng Hán, từ bàng hoàng được viết là 彷徨 và có nghĩa là đi tới đi lui, bồi hồi do dự. Chữ bàng 彷 trong bàng hoàng 彷徨 khác hẳn chữ bàng 旁 nghĩa là ở bên cạnh; nó chỉ có thể đi theo chữ hoàng 徨 để tạo nên từ bàng hoàng 彷徨. Cả hai từ tố này đều không có nghĩa nào giống như lời giảng của soạn giả.
4. bàng quang 膀胱
Cả hai từ tố bàng và quang đều không có nghĩa là bọng đái. Chỉ khi chúng đi đôi với nhau để tạo thành từ bàng quang 膀胱 mới có nghĩa là bọng đái. Soạn giả vốn là bậc đại tài trong nghề nói mò, nên đã đoán liều rằng, bàng là bọng đái, và quang cũng là bọng đái. Quả là “điếc không sợ súng”.
5. biên đình 邊庭
Biên đình là miền biên giới. Nhưng soạn giả giảng giải rằng, đình nghĩa là cách xa. Chữ đình 庭 có nghĩa là cái sân, là nơi xử án, là công thự. Ngoài ra, trong hơn một chục chữ Hán có âm là đình thì không một chữ nào có nghĩa là cách xa cả, cho nên ở đây không thể có sự nhầm lẫn mà chỉ có sự bịa đặt liều lĩnh. Các từ điển của Trung Quốc giải thích rằng, biên đình có hai nghĩa: a) cơ quan nhà nước ở biên giới; b) biên cương. Trong tiếng Việt, biên đình thường mang nghĩa thứ ha, nghĩa là biên cương.
6. cà sa 袈裟
Cà sa là áo của các nhà sư tu đạo Phật, may bằng nhiều mụn vải màu khác nhau. Ðịnh nghĩa như vậy thì đúng, nhưng soạn giả lại giải thích rằng, cà = áo thầy tu; và, sa = áo thầy tu. Sự thực thì hai chữ cà sa 袈裟 này được đặt ra chỉ để phiên âm chữ kasaya trong tiếng Phạn (nghĩa là áo của nhà sư). Nếu đứng tách rời nhau thì cà 袈 và sa 裟 đều không có nghĩa gì cả.
7. diêm vương 閻王
Diêm vương là vua của địa ngục, là thần chết. Ðiều này thì hầu như mọi người đều biết, nhưng diêm là gì? Diêm là lối gọi tắt của từ Diêm la, mà Diêm la trong tiếng Hán là phiên âm từ Yama trong tiếng Hindu, nghĩa là vua của địa ngục. Nhưng soạn giả lại cho rằng,"yama" là hai vua, tức là hai anh em coi địa ngục. Chúng tôi đã tra cứu các từ điển lớn của Trung Quốc, Pháp và Anh, Mỹ, đâu cũng diễn giải rằng, yama là vị thần chủ quản địa ngục trong tín ngưỡng của người Ấn Ðộ.
8. do dự 猶豫
Có lẽ mọi người Việt Nam, ai cũng hiểu rằng, do dự nghĩa là ngần ngại, trù trừ, không quyết tâm. Nhưng giải nghĩa từ này theo các thành tố của nó (do và dự) là một việc không dễ. Theo từ điển Từ nguyên, từ này "lấy âm làm nghĩa", tức là nghĩa của từ này vốn do âm của nó gợi nên, bởi vậy, cách viết của nó không thống nhất, ví dụ, có thể viết 猶豫 ﹐ 由預 v.v., vì các cách viết này đều được đọc là do dự. Trong cách viết của chúng tôi (và cũng là cách viết chính thống), chữ do 猶 vốn là tên một loài khỉ có chân ngắn, và dự 豫 vốn là tên một loài voi lớn. Bởi vậy, cũng có thuyết cho rằng, từ do dự 猶豫 là chỉ hai loài thú đó, chúng có tính đa nghi nên luôn luôn rụt rè ngần ngại trước mọi hành động. Riêng soạn giả thông thái của chúng ta thì cắt nghĩa rằng, do = cũng còn, cũng như; dự = từ trước. Các nghĩa này không ăn nhập gì với nghĩa chung của từ do dự. Ðó là một sự bịa đặt tuỳ tiện, thô bạo.
9. lâu la 嘍囉
Soạn giả nêu định nghĩa: lâu la là bọn tay sai của những kẻ tướng cướp trong chế độ phong kiến (cũ). Thực ra, chỉ cần nói rằng, lâu la là bọn tay sai của tên tướng cướp, thế là đầy đủ và chính xác hơn. Nhưng điều đáng nói ở đây là, ông đã tự ý bịa ra rằng, lâu nghĩa là cướp bóc, và la nghĩa là ăn cướp. Trong tiếng Hán, nếu chữ lâu 嘍 và chữ la 囉 tách rời nhau thì chẳng chữ nào có nghĩa riêng cả. Chữ lâu 嘍 không hề có nghĩa là cướp bóc, và cũng chẳng có nghĩa gì khác. Chữ la 囉 cũng vậy. Khi chúng ghép với nhau thành từ lâu la thì mới có nghĩa là tay sai của tên tướng cướp (không nhất thiết là trong chế độ phong kiến).
10. mã não 瑪瑙, agate
Soạn giả giải thích: mã = thứ đá quý; não = thứ đá; và, mã não = thứ đá quý rất cứng, có nhiều lớp màu khác nhau. Giải nghĩa các từ tố như vậy quả là tuỳ tiện. Bản thân chữ mã 瑪 và chữ não 瑙 nếu đứng riêng rẽ thì chẳng có nghĩa gì cả chứ không hề có những nghĩa như soạn giả đã nêu. Ngoài ra, định nghĩa về mã não do soạn giả đưa ra cũng rất mù mờ. Mã não là một loại đá rất cứng, có thành phần chủ yếu là oxit silic SiO2, là một loại thạch anh có những dải hoa văn màu sẫm (chứ không phải có nhiều lớp màu khác nhau).
11. mạt sát 抹殺, 抹煞
Theo các từ điển của Trung Quốc, trong từ mạt sát, chữ sát có hai cách viết là 殺 và 煞. Soạn giả giảng giải rằng, mạt nghĩa là xoá bỏ, sát nghĩa là rất; và, mạt sát nghĩa là chỉ trích mạnh mẽ để làm mất phẩm giá người ta. Giải nghĩa từ tố mạt và định nghĩa từ mạt sát như vậy thì được, song, cho rằng, sát nghĩa là rất thì không đúng. Tuy mỗi chữ sát trên đây đều có nhiều nghĩa nhưng cả hai đều có một nghĩa giống nhau là làm tổn thương, là gây tổn hại. Vì vậy, mạt sát nghĩa là dùng lời lẽ thậm tệ để làm tổn hại danh dự và xoá bỏ giá trị của người khác. Ðành rằng chữ sát 煞 có một nghĩa là rất, nhưng trong từ mạt sát thì nó không mang nghĩa như vậy.
12. phổ quát 普括
Soạn giả giải thích rằng, phổ = rộng, khắp; quát = rộng ra; và, phổ quát là phổ biến rộng khắp. Ðịnh nghĩa từ “phổ quát” như vậy có thể coi là đúng, nhưng giải thích từ tố quát thì sai. Quát là bao gồm chứ không phải là rộng ra như lời giảng của soạn giả. Phổ quát nghĩa là bao trùm một phạm vi rộng rãi.
13. sa đà 蹉跎
Theo soạn giả, sa nghĩa là cát sỏi, đà nghĩa là lần lữa, và, sa đà nghĩa là mất thì giờ vô ích. Vì không biết chữ Hán nên ông cho rằng, sa là cát sỏi, đó là một sự bịa đặt liều lĩnh không có căn cứ. Các từ điển đáng tin cậy đều cho biết rằng, sa 蹉 nghĩa là ngã, đà 跎 thì không có nghĩa riêng mà chỉ có thể ghép với sa 蹉 để tạo thành từ sa đà mới có nghĩa. Từ sa đà 蹉跎 trong tiếng Hán thường có 3 nghĩa: 1) lỡ bước (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng); 2) bỏ phí thì giờ vô ích; và 3) buồn nản. Nghĩa thứ ba hầu như không có trong tiếng Việt.
14. thường xuyên 常川
Thường xuyên nghĩa là luôn luôn và đều đặn. Thường nghĩa là không lạ, là diễn ra luôn luôn. Nhưng, xuyên nghĩa là gi? Theo soạn giả thì xuyên nghĩa là thường đến, là không ngừng. Chúng tôi không có gan suy đoán liều lĩnh và coi thường độc giả như ông, nên phải tra cứu sách vở. Theo các từ điển của Trung Quốc, trong từ thường xuyên 常川, chữ xuyên 川 nghĩa là dòng sông. Nghĩa đen của từ thường xuyên là dòng sông chảy không ngừng.
15. Xa cừ 硨磲 giant clam, tridacna
Theo soạn giả: xa = ốc to; cừ = vỏ ốc dày; và, xa cừ có hai nghĩa: 1) loài trai vỏ long lanh; 2) mặt trong của trai. Ở đây, ông cũng phạm sai lầm là bịa ra nghĩa cho chữ xa và chữ cừ. Cũng giống như các trường hợp ở ngay trên đây, hai chữ này chỉ dùng để tạo nên từ xa cừ, còn nếu đứng riêng rẽ thì chúng chẳng có nghĩa gì cả. Ngoài ra, khi viết rằng, xa cừ là mặt trong của trai, có lẽ soạn giả đã quá tiết kiệm lời nên chưa làm rõ nghĩa, hơn nữa, đó chưa phải là nghĩa đúng. Theo cách hiểu thông thường của người Việt Nam thì xa cừ (thường gọi là xà cừ) là lớp chất ngọc trai, có màu sắc óng ánh, ở mặt trong của vỏ trai. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, chất này được gọi là nacre, còn người Trung Hoa thì gọi là trân châu chất, tức là chất ngọc trai. Phải ghi nhận rằng, việc soạn giả nêu ra nghĩa thứ nhất (xa cừ = loài trai vỏ long lanh) tuy còn mù mờ nhưng cũng là một ưu điểm mà ta rất ít khi gặp trong quyển từ điển của ông, vì nhiều người chỉ biết xà cừ là vỏ trai óng ánh để khảm lên các đồ gỗ chứ không biết rằng, xa cừ là tên một loài trai. Nhưng, ở đây soạn giả cũng không biết loài trai ấy sống ở đâu, to lớn ra sao. Xa cừ là tên một loài trai rất to (có con nặng tới 250 kg), sống trên các đảo san hô ở Ấn Ðộ Dương và Thái Bình Dương, có tên bằng tiếng Anh là giant clam hoặc tridacna.
V. Không biết các trường hợp biến âm và nhớ sai âm đọc của các từ tố nên đã đoán sai nghĩa của chúng
Trong những từ tiếng Việt gốc Hán, có một số (rất ít) trường hợp, trong đó, một từ tố bị biến âm, được phát âm khác với âm Hán Việt thông thường của nó. Tiếc thay, soạn giả không hề biết điều đó, nên đã bịa đặt ra nghĩa khác cho các từ tố bị biến âm ấy. Lại có những từ tố mà soạn giả không hiểu, vì nghe người ta đọc sai nên ông đã chép sai rồi bám theo đó mà giải thích, và thế là giải thích sai. Những sai phạm như vậy chứng tỏ rằng, soạn giả chỉ hoàn toàn dựa vào trí nhớ không chính xác của mình mà không hề có khả năng và phương tiện tra cứu. Dưới đây là 13 trường hợp như thế. Ở những từ hoặc thành ngữ không có thật vì bị tác giả nhớ sai, chép sai, chúng tôi không được phép ghi chữ Hán.
1. ác ôn 惡棍
Theo soạn giả thì ác nghĩa là làm điều xấu với người khác, và ôn là bệnh dịch; và, ác ôn là kẻ hung dữ gây nhiều tội ác với nhân dân. Có thể chấp nhận định nghĩa như vậy về từ ác ôn, nhưng giảng giải rằng, 棍 là bệnh dịch thì sai nghiêm trọng. Bởi vì, từ mà chúng ta ngày nay gọi là ác ôn chính là ác côn 惡棍, do sự biến âm chút ít mà thành ra ác ôn. Chữ côn 棍 có nghĩa gốc là cái gậy và nghĩa mở rộng là kẻ vô lại; nó có mặt trong các từ du côn, côn đồ.
2. châu lỵ 州治
Ðó là nơi đặt cơ quan hành chính của một châu. Ðúng thế. Nhưng soạn giả giải thích rằng, lỵ là đến nhậm chức. Thật là sai lầm, bởi vì âm lỵ ở đây vốn là trị 治 nhưng do bị đọc chệch đi rồi trở thành thói quen, nay người ta thường gọi là lỵ. Nơi đặt cơ quan hành chính được gọi là trị sở 治所, hoặc chỉ gọi là trị 治, nhưng thường vẫn quen gọi là lỵ sở hoặc lỵ. Châu lỵ, huyện lỵ, quận ly, tỉnh lỵ vốn là châu trị, huyện trị, quận trị, tỉnh trị.
3. độc đắc 獨特
Từ này trong tiếng Hán vốn là độc đặc 獨特, trong đó, độc 獨 nghĩa là riêng một mình và đặc 特 nghĩa là một mình duy nhất. Hai từ tố này ghép với nhau để làm nổi rõ nghĩa riêng một mình duy nhất. Vì không biết chữ nên soạn giả đã giảng giải rằng, đắc nghĩa là được, và độc đắc là số lớn nhất trong một cuộc xổ số. Ðã cố ý cắt nghĩa từng từ tố mà lại cắt nghĩa sai thì còn gì là từ điển nữa?
4. đồng loã 同伙
Có lẽ ai cũng biết rằng, từ đồng loã có hai nghĩa: 1) người trong cùng một nhóm làm ăn với nhau (danh từ), và 2) cùng tham gia một nhóm làm ăn (động từ). Cả hai nghĩa này thường mang ý xấu. Soạn giả dạy rằng, loã nghĩa là cái bọc. Nhưng đó chỉ là sự suy đoán chủ quan của ông chứ trong ngôn ngữ Trung Hoa và Việt Nam chỉ có từ đồng loã 同伙, với dạng chữ Hán như chúng tôi đã viết, trong đó, loã là âm đọc chệch từ âm hoả 伙. Hoả nghĩa là lửa, là bếp. Theo binh chế ngày xưa, mười người thì nấu một bếp, tạo thành một hoả. Ðồng hoả nghĩa là người trong cùng một hoả, mở rộng ra, có nghĩa là bạn cùng làm việc. Chữ "hoả"火 ở đây thường được viết là 伙 (để chỉ người), và người Việt Nam ta thường đọc là loã. Ngoài ra, đồng loã còn được dùng như một động từ, với nghĩa là câu kết, là cùng nhau kiếm lợi. Ðó là nghĩa thứ hai, như trên đã nói.
5. Hợp chủng quốc 合眾國
Từ này đáng lẽ phải đọc là hợp chúng quốc (chúng 眾 nghĩa là nhiều), nhưng chữ chúng thường bị đọc sai thành chủng và trở thành thói quen. Soạn giả không vạch rõ được điều đó. Rồi ông giải thích rằng, chủng nghĩa là nhiều. May thay, vì chữ chủng ấy chính là chữ chúng, nghĩa là nhiều, nên lại không sai. Nếu là người biết chữ hẳn hoi thì phải nêu rõ sự biến âm rồi mới cắt nghĩa từng từ tố.
6. lãng công
Theo soạn giả thì ở đây, lãng là sóng nước, là phóng túng; công là công việc; và, lãng công là hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân trong chế độ tư bản, bỏ việc làm, để yêu sách hoặc phản kháng điều gì. Chúng tôi đã xem xét kỹ chữ lãng thì thấy ngoài nghĩa phóng túng còn có nghĩa là phung phí, nhưng dẫu có thêm nghĩa ấy nữa thì cũng không thích hợp với định nghĩa của soạn giả về lãng công. Hơn nữa, với định nghĩa như thế thì công nghĩa là “làm việc” chứ không phải là “công việc”. Trong hầu hết các từ điển tiếng Việt, chúng ta đều gặp từ lãn công chứ không hề thấy có từ lãng công. Lãn 懶 nghĩa là lười nhác. Lãn công là làm việc một cách lười biếng để biểu thị sự bất bình. Ðó là một biến tướng của đình công. Cũng xin nói thêm rằng, chúng tôi đã tra cứu khá nhiều từ điển của Trung Quốc nhưng chưa gặp từ lãn công, mà chỉ thấy có từ đãi công 怠工 với nghĩa như từ lãn công của ta. Ðiều đó không hề làm cho chúng ta nghi ngờ về từ lãn công, bởi vì chữ đãi 怠 cũng có nghĩa là lười biếng, gần như đồng nghĩa với chữ lãn 懶 , mà người Việt Nam ta rất quen với chữ lãn nhưng ít người dùng chữ đãi, cho nên các cụ ngày xưa đã dùng từ lãn công để thay cho từ đãi công, hẳn đó cũng là điều hợp lý. Ngoài ra, hiện tượng lãn công có thể diễn ra ở mọi thời đại chứ không riêng gì trong chế độ tư bản.
7. lạc quyên 勒捐
Soạn giả cắt nghĩa rằng, lạc= vui mừng, quyên = giúp người. và, lạc quyên là yêu cầu những người có lòng tốt bỏ ra tiền, gaọ, quần áo... để giúp những người bị tai nạn như thiên tai, địch hoạ. Ông chỉ hiểu nghĩa của từ lạc quyên qua cách sử dụng từ này nhưng không biết nghĩa của các từ tố, đặc biệt là dựa vào âm lạc để đoán ra nghĩa vui mừng. Thực ra, từ này nguyên là lặc quyên 勒捐 trong đó, từ tố lặc có nghĩa gốc là cái dàm để chằng đầu và mõm ngựa, và có nghĩa bóng là gò ép, ép buộc; từ tố quyên có nghĩa là đóng góp. Như vậy, lặc quyên (mà nay ta quen gọi là lạc quyên) nghĩa là yêu cầu đóng góp tiền bạc, của cải... để làm một việc nào đó.
8. lưu chiểu 留照
Do không biết chữ Hán mà chỉ liều lĩnh đoán mò nên giải nghĩa sai là chuyện đương nhiên. Soạn giả giảng rằng, lưu = giữ lại; chiểu = văn bản; và, lưu chiểu là tác phẩm văn nghệ nộp cho cơ quan lưu trữ của nhà nước để làm tài sản chung. Nhưng, chẳng có chữ "chiểu' nào có nghĩa là văn bản cả. Hơn nữa, chúng ta biết rằng, chữ “chiểu” ở đây chính là biến âm của chữ chiếu 照, tức là đối chiếu, là so sánh để phát hiện thật hay giả hoặc đúng hay sai. Lưu chiểu là giữ lại bản mẫu của văn bản đã lưu hành để so sánh khi cần thiết. Mục đích chính của việc lưu chiểu là như thế chứ không phải để làm tài sản chung. Soạn giả đã không hiểu chữ chiểu và cũng không hiểu gì về từ lưu chiểu.
9. lỵ sở 治所
Soạn giả nêu được định nghĩa đùng: lỵ sở là trung tâm hành chính của một địa phương. Nhưng thật là sai lầm khi ông đoán rằng “lỵ” là đến nơi. (Chữ này có mặt trong từ lỵ nhậm 蒞任, nghĩa là đến nơi nhậm chức). Lỵ sở vốn là trị sở nhưng bị đọc chệch đi và đã trở thành thói quen. "Lỵ" ở đây chính là "trị" 治, nghĩa là cai quản, điều hành công việc, và cũng dùng để gọi tắt từ trị sở .
10. mại quốc cầu danh
Chúng tôi tưởng mình hoa mắt nên đã đọc nhầm mại quốc cầu vinh thành ra mại quốc cầu danh. Nhưng xem lại thì thấy rằng, chính soạn giả đã viết “mại quốc cầu danh”. Sau khi cắt nghĩa: mại = bán; quốc = nước; cầu = mong; danh = danh lợi, ông giảng giải rằng, đó là bán nước để mong được danh lợi. Rồi ông đưa ra một câu ví dụ: Lịch sử đã lên án những kẻ mại quốc cầu danh. Chúng tôi thấy thật buồn và xấu hổ thay cho ông, vì ở bất cứ sách nào (dĩ nhiên là trừ sách của ông), bao giờ cũng phải là nhóm từ “mại quốc cầu vinh”. Phải chăng, vì nghĩ rằng, làm điều xấu cũng có thể vừa thu lợi, vừa nổi danh nên mới có kẻ vứt bỏ lương tâm và danh dự hòng lừa bịp thiên hạn để cầu danh?
11. nữ sinh ngoại tộc
Nếu chúng tôi nhớ không nhầm thì câu này phải là “nữ nhân ngoại tộc” mới đúng. Câu này thường được hiểu rằng, đàn bà hoặc con gái là người của họ khác, tức là của họ nhà chồng, chứ không có vai trò và quyền lợi đáng kể trong gia tộc của bố mình. Soạn giả vốn quen dựa vào trí nhớ kém cỏi của mình mà không có khả năng tra cứu nên đã chép chữ “nhân” thành chữ “sinh” và giải thích rằng, ”sinh” nghĩa là “đẻ ra” rồi giảng giải: câu này nói về quan niệm phong kiến cho rằng con gái đẻ ra là thuộc bên ngoại và không có quyền lợi như con trai. Một lời giải thích thật tối nghĩa. Xin hỏi ông rằng, bên ngoại là bên nào vậy?
12. toạ sơn khan hổ đấu
Thành ngữ rất quen thuộc này đã bị chép sai. Ðáng lẽ phải là toạ sơn quan hổ đấu 坐山觀虎斗 nghĩa là: chờ cho hai kẻ thù tiêu diệt nhau, đến khi chỉ còn một kẻ thù đã suy yếu thì mới ra tay diệt nốt. "Quan" 觀 nghĩa là quan sát, là theo dõi, còn "khan" 看 chỉ có nghĩa là “xem". Soạn giả còn giảng giải rằng, thành ngữ này chỉ thái độ bàng quan của kẻ ngồi nhìn hai phía đánh nhau, hòng tìm cách có lợi cho mình. Thực ra, kẻ này chẳng hề bàng quan, mà đang theo dõi rất kỹ diễn biến của trận đấu. Chính vì soạn giả chỉ biết mang máng, không đọc được mà chỉ nghe lõm bõm nhưng đã vội lên mặt dạy đời rồi chép chữ "quan" thành ra chữ "khan" cho nên mới hiểu sai và giải thích sai như thế.
13. tông tích 蹤跡
Tông 蹤 nghĩa là dấu vết (đọc là tung thì đúng hơn), tích 跡 nghiã là vết chân. Nghĩa chung của tung tích 蹤跡 là dấu vết của một hành động, và có thể hiểu là lai lịch, là nguồn gốc của một sự việc hoặc của một nhân vật. Vì không đọc được chữ Hán, do đó không thể biết rằng, “tông” ở đây chính là do chữ “tung” 蹤 bị biến âm mà ra nên soạn giả đã giảng giải rằng, tông nghĩa là dòng họ. Chúng tôi đã tra cứu ở các từ điển Từ nguyên và Từ hải thì chỉ thấy từ 'tung tích" 蹤跡 với nghĩa như chúng tôi vừa giải thích, trong đó, chữ tung 蹤 có nghĩa là dấu vết (mà có khi được đọc là tông) chứ không phải chữ tông 宗 nghĩa là dòng họ.
14. tự lực cánh sinh 自力更生
Ở đây đã xẩy ra hiện tượng biến âm, chữ canh 更 (nghĩa là thay đổi) đã được đọc là cánh. Soạn giả đã không biết điều đó nên cứ điềm nhiên giải thích vu vơ rằng, cánh nghĩa là lần lượt. Ðây vốn là một câu khẩu hiệu của Trung Quốc, kêu gọi “hãy tự gắng sức thay đổi cuộc sống cho mình, hãy dùng sức của mình đểtự giải quyết mọi vấn đề của mình”. Các từ điển của Trung Quốc đều giải thích thành ngữ này như vậy. Soạn giả cho rằng, tự lực cánh sinh là tự mình mưu cuộc sống cho mình, không ỷ lại vào người khác. Lời giải thích này tuy không sai lắm nhưng không sát với tinh thần của câu khẩu hiệu.
VI. Không phân biệt được các từ gốc Hán đã Việt hoá và các từ “thuần Hán”
Trong tiếng Việt, số từ gốc Hán chiếm tỷ lệ rất lớn, được ước tính vào khoảng trên dưới 60%. Chỉ riêng trong phạm vi những từ thông dụng, số từ Việt gốc Hán lên đến vài vạn. Chúng tôi đưa ra con số đó là dựa trên cuốn từ điển đang được nói tới ở đây. Dung lượng của cuốn này vào khoảng 15 000 từ, đúng là gồm những từ thông dụng nhưng còn thiếu rất nhiều. Nếu kể đến hệ thống thuật ngữ trong các khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kỹ thuật thì số từ gốc Hán có lẽ lên đến con số 5, 6 vạn hoặc hơn nữa. Tuyệt đại đa số các từ gốc Hán đã được cha ông ta và chúng ta ngày nay sử dụng theo nguyên nghĩa trong tiếng Hán, nghĩa là, chúng cũng có mặt trong vốn từ của người Hán với cùng nghĩa như chúng ta đang dùng. Chúng tôi tạm gọi đó là những từ “thuần Hán”. Ngoài ra, có một số ít từ ngữ gốc Hán đã được Việt hoá mà ta có thể gọi là “nửa Hán nửa Việt”. Chúng tôi tạm chia làm nhóm theo các đặc điểm như sau:
a. Các từ tố đều có gốc Hán nhưng nghĩa của từ (hoặc thành ngữ) đã khác khá xa so với nghĩa trong tiếng Hán, ví dụ như từ khốn nạn, thành ngữ lang bạt kỳ hồ
b. Các từ tố đều có gốc Hán nhưng được sắp đặt theo thứ tự của tiếng Việt, tức là ngược với thứ tự trong tiếng Hán, ví dụ như các từ án mạng, án thư, môi sinh, ngoại lệ, v.v.
c. Một từ tố gốc Hán ghép với một từ tố “phi Hán” mà chúng tôi tạm coi là có “gốc Việt”, ví dụ như từ năng khiếu, phục hoá.
Các cuốn từ điển Hán Việt thường bao gồm các từ (hoặc thành ngữ) thuộc nhóm thứ nhất. Khi chúng được giải nghĩa theo cách dùng trong tiếng Việt thì các soạn giả đều nêu nghĩa ban đầu của chúng. Các từ hoặc thành ngữ thuộc nhóm thứ hai và thứ ba thì không soạn giả nào đưa vào từ điển Hán Việt vì chúng không có mặt trong vốn từ ngữ của người Hán. Nhưng, trong một cuốn từ điển tiếng Việt hoặc từ điển về những từ Việt gốc Hán thì sự có mặt của chúng là cần thiết. Chỉ có điều là, khi gặp những trường hợp như vậy, soạn giả không thể điềm nhiên cắt nghĩa từng từ tố rồi giảng nghĩa của cả từ là xong. Cần phải nêu rõ đặc điểm của các loại này, bởi vì, chúng chỉ chiếm chừng 0,1% trong tổng số những từ gốc Hán nhưng có đặc điểm khác hẳn so với 99,9% số từ gốc Hán còn lại. Nếu không, người đọc sẽ thấy có điều mâu thuẫn và có thể hiểu sai hoặc sử dụng sai nhiều từ khác. Ví dụ, sau khi đọc các mục từ nội chiến (nghĩa là chiến tranh giữa những người trong cùng một nước), nội hoá (nghĩa là hàng hoá sản xuất ở trong nước), và nội thành (nghĩa là khu vực bên trong thành phố), người đọc hẳn sẽ thấy có sự đổi ngược vai trò của từ tố nội ở từ nội thành. Nguyên nhân của sự đổi ngược đó là ở chỗ, các từ nội chiến, nội hoá được cấu tạo theo đúng cách thức của người Hán, còn từ nội thành tuy cũng gồm hai từ tố gốc Hán nhưng lại được cấu tạo theo cách thức của người Việt. Nếu người biên soạn từ điển không lưu ý người đọc trong những trường hợp “Việt hoá” như vậy thì nhất định sẽ dẫn người đọc đến nhiều điều lầm lẫn. Chính vì không phân biệt được cách cấu tạo từ theo kiểu Hán hay Việt nên rất nhiều người, kể cả soạn giả, đã đánh đồng giữa “nhân chứng” và “chứng nhân”, như đã phân tích ở mục từ II. 11. Dưới đây, chúng tôi nêu ra hầu hết những từ thuộc loại này mà soạn giả đã đưa vào cuốn từ điển của mình nhưng không nêu được tính chất “Việt hoá” của chúng, tổng số là 29 từ. Ở những từ thuộc nhóm b) và c), chúng tôi không thể ghi chữ Hán kèm theo.
1. ám ảnh
Theo soạn giả, từ ám ảnh có hai nghĩa: a) lởn vởn luôn trong trí óc, khiến cho phải lo lắng không yên; b) quấy rầy ở bên cạnh. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận nghĩa thứ nhất nhưng khó chấp nhận nghĩa thứ hai. Tuy ám ảnh là một từ gốc Hán, nhưng nó đã được “Việt hoá” nên mới mang nghĩa thứ nhất như vừa nêu, và ta hiểu rằng, đó là một động từ. Cứ cắt nghĩa theo các từ tố thì “ám” nghĩa là mờ tối, “ảnh” nghĩa là cái bóng, và “ám ảnh” nghĩa là cái bóng mờ. Quả thật, đó là nghĩa của từ này trong trong tiếng Hán từ xưa đến nay. Soạn giả không nhận ra rằng, đây là một từ gốc Hán đã bị thay đổi nghĩa, nghĩa là nó đã bị “Việt hoá”. Ngoài ra, ông còn gán cho nó một nghĩa mà người đọc khó chấp nhận là quấy rầy ở bên cạnh.
2. án mạng
Chúng ta thường dùng từ án mạng để chỉ vụ án giết người. Từ này gồm hai từ tố gốc Hán nhưng được liên kết theo kiểu tiếng Việt. Các từ tố ở đây đã trở nên “Việt hoá” và được đặt theo trật tự trong tiếng Viêt. Nó tương đương với từ mạng án trong tiếng Hán. Người giảng dạy tiếng Việt cần phải nêu rõ điều đó.
3. án thư
Theo cách nói đã quen thuộc của chúng ta thì án thư là cái bàn để đặt sách vở, đúng như soạn giả đã giải thích. Nhưng cái bàn thờ, tức là cái bàn để thắp hương thì chúng ta phải gọi là cái hương án chứ không thể gọi là cái “án hương”. Án thư cũng là một trường hợp "phá lệ" như ở từ án mạng, không theo đúng trật tự của các từ tố trong tiếng Hán. Người Trung Quốc vẫn gọi cái án thư của ta là thư án.
4. ca trù
Ca là hát, trù 籌 là cái thẻ (có thể bằng tre, bằng gỗ hoặc bằng các vật liệu quý hơn). Theo những tài liệu đáng tin cậy thì ca trù (cũng gọi là hát ả đào) là lối hát bỏ thẻ, trong đó, người nghe cảm thấy chỗ nào hát hay thì ném thẻ thưởng cho người hát (gọi là cô đào). Ðịnh nghĩa của soạn giả về từ “ca trù” quả là không có gì sai. Tuy vậy, ông cứ điềm nhiên coi từ này như mọi từ “thuần Hán” khác, không nêu được tính chất “nửa Hán nửa Việt” của nó. Ðó là một thiếu sót không nhỏ.
5. diêm sinh
Nghe qua từ này, hẳn nhiều người nghĩ rằng, đó là một từ trong tiếng Hán hoặc ít ra thì các từ tố cũng bắt nguồn từ tiếng Hán. Cũng từ dự cảm đó nên soạn giả đã nghĩ ra rằng, diêm là muối, sinh là sống, và giải thích rằng, diêm sinh là lưu huỳnh Chúng tôi đã tra cứu khắp các bộ từ điển lớn nhất của Trung Quốc, nhưng không hề thấy nơi nào có từ diêm sinh, trong đó, diêm là muối (鹽) và sinh (生) là sống, mà cũng không hề gặp từ nào tuy viết khác hẳn nhưng vẫn có âm là diêm sinh. Hẳn đây là một từ chỉ có trong tiếng Việt. Thật vậy, trong các từ điển như Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Sài Gòn, 1895) và Dictionnaire Annamite-Francais của J. F. M. Génibrel (Sài Gòn, 1898) đều có từ diêm sinh. Ở hai bộ từ điển này, chữ diêm 焰 trong tiếng Hán (nghĩa là ngọn lửa) được dùng để thể hiện chữ diêm trong tiếng Việt, còn chữ sinh thì được ghép từ chữ thạch (石) và chữ sinh (生) để nhắc rằng, đây là một chất khoáng chứ không hề có nghĩa là “sống”. Theo Huỳnh Tịnh Của thì diêm = vật dẫn hoả, giống như muối; và sinh = vật vàng vàng có mùi hôi khét, hay cháy, vật để làm thuốc súng; vị thuốc trị sang độc; lưu huỳnh. Génibrrel thì viết: diêm = sel de nitre, salpêtre (một chất muối khoáng có công thức hoá học là KNO3, thành phần chính của thuốc nổ thông thường); sinh = souffre (lưu huỳnh), và diêm sinh = nitre et souffre. Như vậy, cả hai học giả này đã giải thích giống nhau, và từ đó, chúng ta đủ căn cứ để khẳng định rằng, soạn giả hoàn toàn phạm sai lầm khi giảng nghĩa các từ tố diêm và sinh, như đã nêu trên đây. Theo soạn giả của chúng ta thì diêm sinh = lưu huỳnh. Quả thật, trong dân gian, người ta vẫn dùng từ diêm sinh để chỉ lưu huỳnh, đó cũng là một cách dùng theo thói quen, chúng ta không bác bỏ nó nhưng cũng phải lưu ý đến lời giải thích trong hai bộ từ điển của thế kỷ 19 kể trên.
Một điều thú vị là, trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã có từ hộp diêm. Rõ ràng, từ này không hề chịu ảnh hưởng của tiếng Hán, bởi vì, hiện nay, người Trung Quốc gọi que diêm là hoả sài, và trước đây họ còn gọi bằng nhiều từ khác như hoả thốn, lân thốn, toại mộc, dương hoả, dương viêm đăng.
6. do thám
Theo soạn giả, từ tố do có các nghĩa: từ đó, bởi đó; noi theo; nguyên nhân. Còn từ tố thám có nghĩa là thăm dò, mà nghĩa đen là thăm dò nguyên nhân. Và, do thám nghĩa là thăm dò tình hình đối phương một cách lén lút. Với cách hiểu và cách giải thích của soạn giả thì từ tố do vốn có gốc Hán, và từ do thám là một từ gốc Hán hoàn toàn.
Mặt khác, chúng ta hiểu rằng, từ do thám gần như đồng nghĩa với các từ trinh sát hoặc thám thính, bởi thế, các từ tố do và thám đều có vai trò của động từ và có nghĩa gần giống nhau, cho nên từ tố do không thể có những nghĩa như soạn giả đã nêu. Khi xem xét tất cả những chữ Hán có âm Hán Việt là do, chúng tôi không thấy có chữ do nào là động từ và có nghĩa là trinh sát, và trong các bộ từ điển lớn nhất cũng không tìm thấy từ do thám. Nhưng, theo các từ điển Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Sài Gòn,1895) và Dictionnaire Annamite-Francais của J. F. M. Génibrel (Sài Gòn, 1898) thì trong chữ Nôm, ngoài chữ do 由 mà cha ông chúng ta mượn từ chữ Hán (để chỉ quan hệ về nguồn gốc hoặc nguyên nhân, mà nhiều khi có thể thay bằng bởi hoặc vì), còn có chữ do nghĩa là dò xét (được dịch sang tiếng Pháp là explorer). Ðó chính là nghĩa của từ tố do trong từ do thám. Hai bộ từ điển này còn cho biết, từ tố do với nghĩa như thế còn có mặt trong các từ (mà ngày nay không dùng nữa) như canh do (=trông coi và tuần tra ban đêm), đi do (=đi tuần tra), quân do (= quân đi thám thính). Vì từ tố do này không có gốc từ chữ Hán nên cha ông chúng ta phải mượn chữ du 游 của Trung Quốc để ghi âm một cách gần đúng và để phân biệt với chữ do 由 ở trên. Như vậy, trong từ do thám, chỉ có từ tố thám (nghĩa là theo dõi để biết tình hình) mới có gốc Hán, còn từ tố do thì không có gốc Hán, và tất nhiên, nó không có nghĩa là từ đó hay bởi đó... như soạn giả đã giảng giải. Ông hoàn toàn không biết rằng, từ tố do không có gốc Hán và đã liều lĩnh gán cho nó một cái nghĩa sai.
7. đô hộ 都護
Ðô nghĩa là thâu tóm, hộ nghĩa là che chở. Soạn giả định nghĩa rằng, đô hộ là thống trị và áp bức bóc lột một nước. Ðó là cách hiểu thông thường của chúng ta hiện nay về từ này, coi như một từ đã “Việt hoá”. Ðáng lẽ soạn giả phải nêu được nghĩa ban đầu của từ này. Ðối với người Trung Quốc, đô hộ không có nghĩa là thống trị hoặc áp bức một nước khác. Ðô hộ vốn là chức trưởng quan cai trị tại các thuộc quốc của các triều đình phong kiến Trung Hoa, được thiết lập từ thời Hán đến thời Ðường. Sau đó, người Việt Nam chúng ta mới gán cho từ đô hộ cái nghĩa là thống trị hoặc áp bức.
8. hoá giá
Chúng ta vẫn dùng từ hoá giá với nghĩa là định giá một cách chính thức đối với những hàng hoá đã cũ hoặc đang tồn đọng. Như vậy, hoá giá có thể là một động từ, hoặc là một danh từ chỉ hành động, trong đó, hoá có nghĩa là làm thành. Nhưng, soạn giả lại giải thích rằng, hoá = của cải, đồ buôn bán; giá = giá cả; và, hoá giá = thuộc về giá cả hàng hoá. Cách giải thích như vậy là hoàn toàn sai và còn khiến người ta tưởng rằng, hoá giá là một tính từ.
9. hậu môn 後門
Chúng ta thường dùng từ hậu môn để chỉ lỗ đít. Ðó chỉ là cách dùng và cách hiểu của người Việt Nam. Trong tiếng Hán, từ hậu môn thường được dùng với nghĩa là cửa sau, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và rất ít khi được dùng với nghĩa là lỗ đít. Từ hậu môn của chúng ta được dịch sang tiếng Hán là giang môn 肛門. Hậu môn là một từ gốc Hán đã được Việt hoá để mang một nghĩa khác với nghĩa của nó trong tiếng Hán.
10. hậu sản
Hậu là sau, sản là sinh đẻ. Người Việt Nam thường dùng từ hậu sản để chỉ bệnh của phụ nữ sau ngày sinh nở. Nhưng hậu sinh lại có nghĩa là sinh sau chứ không phải là sau khi sinh đẻ hoặc sau khi ra đời Vậy thì hẳn là có sự mâu thuẫn giữa các trường hợp này mà chưa được giải thích. Chúng tôi nghĩ rằng, đây là hiện tượng Việt hoá một phần, bằng cách đặt các từ tố gốc Hán theo thứ tự của tiếng Việt. Theo tiếng Hán thì sản hậu mới là bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, và trong tiếng Việt, người ta vẫn còn dùng từ này.
11. khang trang 康莊
Theo soạn giả, khang nghĩa là yên vui, mạnh khoẻ; trang nghĩa là trau chuốt, tức là trang điểm; và, khang trang nghĩa là rộng rãi và đẹp đẽ. Như vậy, các từ tố đã được giảng chưa đúng. Khang còn có nghĩa là rộng lớn (đó mới là nghĩa của từ tố này trong từ khang trang), trang 莊 nghĩa là nghiêm chỉnh, nghiêm túc (chứ không phải trang 妝 là trau chuốt). Chữ trang 莊 trong từ khang trang cũng có mặt trong các từ trang nghiêm, trang nhã, trang trọng. Trong tiếng Việt, từ khang trang thường được dùng để chỉ nhà cửa rộng rãi đẹp đẽ, nhưng trong tiếng Hán, nó được dùng để chỉ đường sá rộng rãi bằng phẳng và toả ra mọi hướng. Ðây cũng là một điều cần lưu ý.
12. khốn nạn 困難
Soạn giả cho biết, khốn nghĩa là cùng khổ, là khó khăn; nạn là tai vạ nguy hiểm; rồi ông nêu ra hai nghiã của từ này: 1) tội nghiệp, đáng thương; và 2) hèn mạt, đáng khinh bỉ. Ðó là những nghĩa mà người Việt Nam đã gán cho nó và đã quen dùng, hầu như chẳng dính dáng gì với nghĩa của các từ tố. Trong một cuốn từ điển lấy mục đích chính là giải nghĩa các thành tố Hán ngữ thì giải thích như trên là chưa đủ, vì chưa nêu rõ hiện tượng Việt hoá và không nêu nghĩa ban đầu của từ này (là nghĩa do các từ tố tạo nên). Trong tiếng Hán, khốn nạn nghĩa là vô cùng khó khăn cực nhọc.
13. kinh nguyệt
Từ này được soạn giả định nghĩa không sai. Nhưng, không thể bỏ qua một điều là, trật tự các từ tố ở đây ngược với cách cấu tạo của các từ gốc Hán khác. Theo tiếng Hán thì phải gọi là nguyệt kinh. Phải chăng, soạn giả không nhận thấy điều đó nên mới điềm nhiên giải nghĩa mà không nêu nhận xét gì cả? Từ này đã được Việt hoá, các từ tố được sắp đặt theo thứ tự trong tiếng Việt.
14. lang bạt kỳ hồ 狼跋其胡
Ðây là một thành ngữ Trung Quốc. Soạn giả cho biết: lang = chó sói; bạt = chạy qua, nhảy qua; kỳ = cái ấy; hồ = phần dưới cằm; và, nghĩa đen của thành ngữ lang bạt kỳ hồ là: con chó sói nhảy qua cả cằm nó. Cứ theo cách giải thích của ông thì người ta ngỡ rằng, người Trung Hoa diễn đạt sao mà lúng túng, khó hiểu đến thế, và thành ngữ này có nghĩa gì? Sự thực thì không phải như vậy, mà lỗi là do soạn giả quá thông thái của chúng ta. Nay chúng tôi xin giải nghĩa lại như sau. Lang = chó sói; bạt = nhảy qua, bước qua; kỳ = của nó; hồ = cái yếm thịt ở dưới cằm và dưới cổ của con vật. Vậy, lang bạt kỳ hồ có nghĩa đen là: con sói bước qua (hay giẫm lên) cái yếm thịt dưới cổ nó, và nghĩa bóng là: lúng túng, vướng víu không gỡ được. Người Trung Quốc sử dụng thành ngữ này với nghĩa như thế. Chúng tôi chưa biết tại sao người Việt Nam chúng ta lại sử dùng thành ngữ lang bạt kỳ hồ với nghĩa là đi xa và không có chỗ ở nhất định. Soạn giả không hiểu thành ngữ này trong tiếng Hán, tuy nhiên, ông đã nêu được cái nghĩa mà người Việt Nam thường dùng.
15. môi sinh
Chúng ta thường dùng từ môi sinh với nghĩa là môi trường sống của sinh vật. Trật tự các từ tố ở từ này không bình thường như ở các từ gốc Hán khác. Khi đã đưa những từ như vậy vào một quyển từ điển gồm tuyệt đại đa số những từ “thuần Hán” thì phải nói rõ nguyên nhân của sự khác biệt như vậy. Ðó là việc mà soạn giả phải làm. Từ môi sinh chỉ có thể dùng trong tiếng Việt mà thôi, bởi vì các từ tố của nó được đặt theo trật tự của tiếng Việt.
16. mưu chước
Chúng ta có thể đồng ý với soạn giả rằng, mưu là kế hoạch, là lo liệu, và tạm chấp nhận định nghĩa dài dòng của ông: mưu chước = cách lo liệu để giải quyết khó khăn. Nhưng soạn giả giảng giải rằng, chước = liệu cho ổn, thì thật khó đồng tình. Chước nghĩa là kế, là cách xử sự. Chẳng thế mà cụm từ tam thập lục kế đã được Nguyễn Du chuyển thành ba mươi sáu chước đó sao? Một điều đáng lưu ý nữa là, trong các bộ đại từ điển chữ Hán, không hề có từ mưu chước và cũng không hề có chữ chước nào có nghĩa là kế hoặc liệu cho ổn. Các bộ từ điển Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Sài Gòn, 1895) và Dictionnaire Annamite – Francais của J. F. M. Génibrel (Sài Gòn, 1898) đều có chữ chước 斫 với nghĩa là kế, là mưu mẹo. Chữ chước 斫 này cũng có mặt trong văn bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm, ở các câu thơ như “Chước đâu có chước lạ đời” hoặc “ba mươi sáu chước, chước gì là hơn”. Nó vốn là một chữ Hán, có âm là chước, nghĩa là chém, là chặt, nhưng nó đã được dùng như một chữ Nôm để thể hiện âm chước trong tiếng Việt, với nghĩa là kế. Soạn giả cứ tưởng đó là một từ tố gốc Hán, và đã bịa đặt cho nó một cái nghĩa hoàn toàn sai.
17. mưu cơ
Mưu là mưu mẹo, cơ là khéo léo; mưu cơ là mưu mẹo khéo léo. Soạn giả đã giải thích như vậy, tuy đúng với cách hiểu và cách sử dụng từ này trong tiếng Việt nhưng chưa nêu được điểm khác thường trong cách cấu tạo của nó. Từ này chỉ tồn tại trong tiếng Việt, vì nó có trật tự ngược với từ cơ mưu trong tiếng Hán. Khi giảng giải những từ như vậy, nếu không nêu được sự khác thường của chúng thì người đọc sẽ cảm thấy có nhiều mâu thuẫn về cấu tạo của các từ gốc Hán và dễ hiểu sai các từ khác.
18. năng khiếu
Mới nhìn qua, nhiều người nghĩ rằng đây là một từ gốc Hán hoàn toàn. Hẳn là soạn giả cũng nghĩ như thế nên ông chỉ việc giải nghĩa các từ tố rồi nêu định nghĩa của từ mà không cần nói gì thêm. Theo ông, năng là sức làm việc; khiếu là năng lực hiểu biết; năng khiếu là khả năng hiểu biết nhanh chóng một ngành nghề. Thực ra, khiếu là biệt tài gần như bẩm sinh đối với một loại hoạt động nào đó. Từ tố khiếu này không có trong tiếng Hán. Trong số những chữ Hán có âm là khiếu, không có chữ nào mang nghĩa như thế. Các từ điển Việt Hán đều dịch: khiếu = thiên tài, tức là tài năng “trời cho”. Như vậy cũng phù hợp với cách hiểu mà chúng tôi vừa nêu, và cũng chứng tỏ nguồn gốc phi Hán của từ tố khiếu. Nên định nghĩa lại như sau: năng khiếu là tổng thể những phẩm chất sẵn có ở một số người, giúp họ hoàn thành tốt một loại hoạt động nào đó ngay cả khi chưa được học tập và rèn luyện trong hoạt động ấy. Vì không biết chữ Hán nên soạn giả đã coi khiếu là một từ tố gốc Hán và gán cho nó một nghĩa chưa thật xác đáng.
19. ngải cứu 艾灸
Soạn giả cho biết, ngải là tên cây, cứu là đốt bột lá ngải để chữa bệnh, và, ngải cứu là loài cây thuộc họ cúc, lá dùng làm thuốc. Giữa nghĩa của các từ tố và nghĩa của từ ngải cứu, có một điều gì đó hơi khác thường mà ta không thể làm ngơ, bởi vì ở đây, từ tố cứu có tác dụng làm rõ nghĩa cho từ tố ngải nhưng lại đứng ở sau, một điều không thể có ở các từ thuần Hán. Thật vậy, đối với người Việt Nam, ngải cứu là tên một loài thực vật rất quen thuộc, thuộc họ Cúc, có tên khoa học là Artemisia vulgaris, dùng để làm thuốc chữa bệnh. Người Trung Quốc gọi cây này là ngải 艾 còn từ ngải cứu 艾灸 thì được họ dùng để chỉ việc cứu (tức là đốt tại một huyệt trên cơ thể người bệnh, để chữa bệnh) bằng một mồi lá ngải. Phải chăng, cha ông chúng ta đã hiểu từ ngải cứu là cây ngải để cứu nên đã Việt hoá từ này và dùng chỉ nó để gọi loài thực vật ấy mà thôi.
20. ngoại lệ, ngoại ngạch, ngoại thành
Ngoại lệ là ở ngoài lệ luật quy định, ngoại ngạch là ở ngoài mức quy định, ngoại thành là ngoài thành phố. Người Việt Nam thường dùng các từ này với nghĩa như vậy, và soạn giả đã giải thích đúng. Nhưng, người đọc cẩn thận và có suy nghĩ sẽ hỏi rằng, vậy thì tại sao ngoại bang lại là nước ngoài chứ không phải là ngoài nước; ngoại cảnh là hoàn cảnh hay môi trường bên ngoài chứ không phải là ngoài hoàn cảnh hay ngoài môi trường. Ðáng lẽ soạn giả phải nói rõ rằng, trong các từ ngoại lệ, ngoại ngạch, ngoại thành, trật tự các thành tố của từ không còn đúng như trong tiếng Hán nữa, mà đã thay đổi theo kiểu Việt Nam, đó là những từ của Việt Nam.
21. nhãn quan
Mọi người thường cắt nghĩa rằng, nhãn nghĩa là mắt; quan nghĩa là nhìn kỹ; và, nhãn quan nghĩa là tầm mắt, với nghĩa bóng là tầm hiểu biết. Soạn giả cũng giải thích như vậy. Nhưng trong mọi bộ từ điển chữ Hán của Trung Quốc và cả trong các quyển từ điển Hán Việt, chỉ có từ nhãn quang 眼光 nghĩa là tầm hiểu biết, chứ không hề có từ nhãn quan. Nhãn 眼 không những có nghĩa là mắt, mà còn có nghĩa là nhìn; quang 光 nghĩa là sáng, là ánh sáng, và còn có nhiều nghĩa khác, trong đó có nghĩa là cảnh sắc, cảnh vật. Nghĩa đen của nhãn quang là cảnh vật nhìn thấy được, và nghĩa bóng là tầm hiểu biết. Lâu nay, đại đa số người Việt Nam thường nhầm lẫn, đều đọc là nhãn quan. Soạn giả vốn không biết chữ Hán nên không thể phát hiện được sự nhầm lẫn ở từ này.
22. nhân tình
Nhân tình nghĩa là tình cảm của con người. Ðôi khi người ta dùng từ nhân tình với nghĩa là người yêu, chủ yếu là trong ngôn ngữ thường ngày. Soạn giả cho rằng, nhân tình, trước hết, có nghĩa là người yêu. Thực ra, đó là cách hiểu và cách dùng của người Việt Nam, coi quan hệ giữa các từ tố ở đây giống như trong tiếng Việt. Người soạn từ điển phải chú ý giải thích trong những trường hợp như thế này. Trong tiếng Hán, tình nhân mới có nghĩa là người yêu.
23. nhất thiết 一切
Chúng ta thường dùng từ nhất thiết với nghĩa là nhất định, là dứt khoát, là không thể khác được. Soạn giả cũng định nghĩa như thế. Nhưng, trong tiếng Hán, nhất thiết nghĩa là tất cả, là mọi thứ. Vậy, từ nhất thiết trong tiếng Việt đã mang nghĩa mới, khác hẳn với nghĩa của nó trong tiếng Hán. Ðây là một điều cần chú ý nhưng soạn giả đã không đủ kiến thức để nhận thấy điều đó.
24. nội nhật
Soạn giả đã giải thích: nội là bên trong, nhật là ngày, nội nhật nghĩa là trong phạm vi một ngày. Ðó chính là cách hiểu từ này theo thói quen của người Việt Nam. Trong khi đó, nội chiến thì không phải là trong cuộc chiến tranh, nội khoá không phải là trong bài học, v.v. Nếu không nêu được nguyên nhân của sự khác biệt trong cách sử dụng từ tố nội trong các trường hợp này thì sẽ gây nhầm lẫn lung tung. Nội nhật là một từ gồm hai từ tố gốc Hán được ghép lại theo trật tự của tiếng Việt thì mới có nghĩa là trong phạm vi một ngày. Nếu nói theo kiểu Trung Quốc thì phải gọi là nhật nội.
25. nội thành, nội thị
Tuy soạn giả giải thích đúng nghĩa của các từ tố và nêu được nghĩa thường dùng của các từ này, nhưng ông không biết rằng, chúng là những từ đã được Việt hoá. Nhìn qua thì dễ nghĩ rằng, nội thành và nội thị là những từ gốc Hán. Thực ra, trong các tưf này, chỉ các từ tố là có gốc Hán, còn trật tự của các từ tố lại là của tiếng Việt, ngược với trật tự của tiếng Hán.
26. phục hoá
Phục hoá là một từ do người Việt đặt ra, có nghiã là trồng trọt lại ở những thửa đất đã bỏ hoang, trong đó, từ tố phục có nghĩa là khôi phục, phục hồi, và từ tố hoá nghĩa là ruộng bị bỏ không, chẳng trồng trọt gì cả. Chúng ta không bàn về nguồn gốc của từ hoá ở đây, nhưng nghĩa của nó là như thế. Tuy từ phục hoá được soạn giả định nghĩa đúng, nhưng giải thích rằng, hoá nghĩa là thay đổi, thì ông đã phạm một sai lầm hết sức nghiêm trọng.
27. sai nha
Soạn giả đã giải nghĩa đúng: nha là nơi làm việc của quan lại; sai nha là người hầu hạ ở các phủ huyện thời xưa. Từ này hẳn là đã được sử dụng trong tiếng Việt từ rất lâu rồi. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng từ này vài lần (Hàn huyên chưa kịp dã dề, sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao; Một ngày lạ thói sai nha, làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền). Nhưng khi giải nghĩa từ này với tư cách là một từ Việt gốc Hán, cần phải phải thấy ở đây có điều hơi khác thường. Chúng ta đều biết các từ nha lại, nha dịch, công sai... là những từ đồng nghĩa với sai nha, nhưng từ sai nha lại có trật tự ngược so với các từ vừa kể. Trong từ này, các từ tố gốc Hán đã được đặt theo trật tự của tiếng Việt. Người soạn từ điển phải nêu được nguyên nhân của sự đảo ngược đó để giúp người đọc tránh những lầm lẫn đáng tiếc.
28. thuỷ nông
Ðây là một từ gồm hai từ tố gốc Hán nhưng lại là một từ hoàn toàn của Việt Nam. Chúng ta đều hiểu rằng, thuỷ nông là công tác thuỷ lợi để phục vụ nông nghiệp. Soạn giả cũng hiểu như vậy. Ðiều cần chú ý ở đây là, từ này gồm hai từ tố gốc Hán, nhưng được cấu tạo theo kiểu của ta, và chỉ người Việt Nam mới hiểu theo nghĩa kể trên. Người Trung Quốc có thể hiểu thuỷ nông là làm ruộng nước. Khái niệm thuỷ nông của ta được gọi theo tiếng Hán là nông điền thuỷ lợi.
29. tiền khởi nghĩa
Từ tiền khởi nghĩa thường được hiểu là trước khởi nghĩa (tháng 8 năm 1945). Ngoài ra, từ tố tiền nghĩa là trước còn được dùng theo kiểu này trong một số từ khác như tiền cách mạng, tiền chiến, với nghĩa là trước cách mạng, trước chiến tranh (chống Pháp, ở Việt Nam). Tuy nhiên, trong đại đa số các trường hợp khác, như tiền án, tiền bối, tiền duyên, tiền đồ, tiền kiếp, tiền lệ, v.v. thì vai trò của từ tố tiền lại khác hẳn; chẳng hạn, tiền án không phải là trước vụ án, mà có nghĩa là bản án trước đó, v.v. Người soạn từ điển nên giúp độc giả phân biệt rõ những trường hợp khác thường để khỏi vận dụng sai.
30. tình chung
Ðọc đến từ này, kẻ viết bài này nhớ ngay đến câu thơ 791-792 trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Biết thân đến bước lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.
Chưa cần cắt nghĩa từng từ tố, âm hưởng của câu thơ cũng đã khiến người đọc cảm nhận rằng, “người tình chung” là người yêu chỉ có một ở trên đời, tình yêu đối với người đó như đã thấm vào máu thịt, không thể nào phai nhạt. Và như vậy thì từ tình chung không phải là một danh từ để chỉ mối tình bền chặt, thuỷ chung, mà đó là một tính từ.
Theo soạn giả thì tình là cảm xúc trong lòng, chung nghĩa là cuối, và, tình chung nghĩa là mối tình chung thuỷ. Nghĩ như vậy có lẽ chỉ vì ông vẫn thường nghe nói đến “mối tình chung thuỷ” nghĩa là mối tình trước sau như một (trong đó, chung 終 nghĩa là cuối, thuỷ 始 nghĩa là bắt đầu). Nhưng ông đã lầm to, mà lầm là phải, vì cứ dựa dẫm đoán mò thì thường chỉ có thể đúng ở những từ rất đơn giản.
Tình chung là một từ gốc Hán đã được Việt hoá, có lẽ nhờ ngòi bút của Nguyễn Du mà nó càng trở nên quen thuộc và có hồn hơn. Nó vốn là từ chung tình 鍾情 trong tiếng Hán, trong đó, chung 鍾 nghĩa là tụ lại, là đúc kết lại; tình 情 nghĩa là tình cảm, tình yêu, v. v., và, chung tình (là một tính từ) nghĩa là mang một tình yêu bền chặt như đúc thành một khối. Chúng tôi đã xem lại văn bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm (bản Liễu Văn Ðường) thì thầy răng, từ tình chung được viết là 情鍾 trong đó, chữ chung 鍾 nghĩa là tụ lại, là đúc kết lại chứ không phải chữ chung 終 là cuối như soạn giả đã đoán bậy. Xin lưu ý rằng, trong chữ Nôm, cha ông ta cũng phân biệt hai chữ chung này.
Ở các câu 389-390 trong Truyện Kiều: Duyên kia có phụ chi tình/ Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai?
Nguyễn Du đã sử dụng từ chung tình với nghĩa giống như từ tình chung ở trên.
31. trị số
Soạn giả giải thích rằng, trị nghĩa là đánh giá, số nghĩa là con số, và, trị số là giá trị bằng số. Nên hiểu chữ trị như một danh từ, nghĩa là giá trị, thì đúng hơn. Cần chú ý rằng, đây là một từ nửa Hán nửa Việt gồm hai từ tố gốc Hán được sắp xếp theo thứ tự của tiếng Việt, tương đương với từ số trị trong tiếng Hán.
32. viên chức
Viên nghĩa là người đảm đương một trách nhiệm nào đó, chức là phần việc phải làm. Ta thường hiểu rằng, viên chức là người làm việc trong một cơ quan hoặc đoàn thể. Soạn giả cũng nêu định nghĩa như thế nhưng không thấy được rằng, đây là một từ gốc Hán nhưng đã Việt hoá. Cả hai từ tố đều có gốc Hán, nhưng ở đây, chúng đã được kết hợp theo trật tự của tiếng Việt. Từ này tương đương với từ chức viên trong tiếng Hán.
33. vu khống
Chúng tôi đã xem hàng chục quyển từ điển Hán ngữ mà chưa hề gặp từ vu khống. Theo các quyển từ điển Việt Hán do người Trung Quốc biên soạn thì từ vu khống trong tiếng Việt được chuyển thành từ vu cáo. Vả lại, người Việt Nam cũng có thể dùng từ vu cáo để thay cho từ vu khống, và chính soạn giả của chúng ta cũng định nghĩa hai từ này giống nhau. Như vậy, có lẽ từ vu khống chỉ tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, hẳn đây không phải là một từ được đặt sai, bởi vì, quả là chữ khống 控 có một nghĩa là tố tụng, là vạch tội (các từ điển Hán Anh thường dịch là appeal, accuse), đồng nghĩa với chữ chữ cáo 告 trong từ vu cáo 誣告. Ðiều buồn cười ở đây là, vì không biết chữ Hán nên soạn giả đã đoán rằng, khống nghĩa là hư không, tức là không có gì.
Thực ra, chữ không 空 mới có nghĩa là trống không, trống rỗng, hư không. Chữ này còn có nghĩa là để trống, và trong trường hợp đó thì phải đọc là khống (tuy một số từ điển vẫn đọc là không, nhưng từ điển Từ nguyên chú âm là khổ cống thiết, khứ, tống vận, nên phải đọc là khống mới đúng).
LMC.
*talawas chân thành cảm ơn nhà văn Trương Thái Du đã giúp biên tập phần chữ Hán theo font Unicode để độc giả có thể thuận tiện theo dõi. |