tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
16.02.2009
Chế Lan Viên
Nói chuyện thơ đầu xuân

Tôi đã ngồi vào bàn viết, viết bài trả lời cuộc phỏng vấn của các bạn, thì phải bỏ đấy, vì B52 đánh vào Hà Nội. Lúc này mà vẫn ngồi đấy, nói chuyện thơ, thì kỳ quá. Nhưng diệt xong được cái giặc “B khổng lồ” này lại là một sự kiện khác trăm lần lớn hơn: hòa bình trong thắng lợi và thắng lợi vì giành được hòa bình. Ôi, lúc này chỉ có là phỗng đá mới có thể ngồi yên tại chỗ.


Đến hôm nay thì tôi phải buộc chân tôi vào bàn vậy. Nhưng nghĩ cho cùng chậm đi một tháng ấy rồi mới nộp bài cho các bạn, cũng có cái hay. Nó bắt tôi phải trả lời: “Trước tội ác hủy diệt của đế quốc Mỹ, trước máu của nhân dân, thơ phải làm gì?”. Rồi lại phải trả lời: “Nay hòa bình, thơ vẫn như thế chứ?”. Thơ qua thử thách lớn lao nhất của chiến tranh rồi lại qua thử thách đột ngột của hòa bình, hai cái thử thách thường làm đơn giản hóa hay “vàng hóa” thơ đi, bây giờ trả lời cho các bạn, dễ chính xác hơn trước đây.


Hôm còn B52, đứng ở Khâm Thiên, Bạch Mai, An Dương, Mai Hương… tôi tự hỏi: “Trị tội ác giặc Mỹ, thơ có ăn thua mùi mẽ gì không? Thơ làm sao cứu được những người chết hết cả cha mẹ, vợ con trong cơn bom ấy?”. Tôi nghĩ: “Thơ có ích còn chửa ăn thua gì, huống nữa là thơ vô ích”. Suýt nữa thì tôi nghi ngờ hiệu lực của thơ ca nói chung chứ chưa nói của chính mình, nó có là cái thá gì, xin lỗi bạn! Nhưng nghĩ như thế này cũng chỉ để xác định thêm rằng cuối cùng thơ cần phải có ích hơn nữa mà thôi. Xác định rằng cuối cùng những đề tài về sống chết, mất còn của con người vẫn là cơ bản hơn các đề tài về buồn vui, sướng khổ. Rằng đề tài về số mạng của từng khối người, tập thể người, nhân loại cần phải đặt cao hơn đề tài về thân phận một con người… Năm nào, tôi có sắp xếp trật tự các đề tài, nó cũng là trật tự tình cảm trong lòng mình lúc ấy. Đầu tiên là các vấn đề cơ bản. Rồi đến các vấn đề cần thiết. Rồi đến các vấn đề hữu ích. Và sau cùng mới đến các vấn đề thoải mái nhẹ nhàng([1]).


Đấy là năm 1966, lúc còn có chiến tranh. Bỗng hôm nay hòa bình, mọi người rời bỏ các căn hầm. “Cái hầm cơ bản” giá hàng vạn đồng, từng quan hệ đến sống chết của hàng trăm người ở cơ quan tôi ấy, hình như bây giờ không ai thèm vãng lai, ngó ngàng đến nữa. Hàng vạn người xô nhau đến chợ Đồng Xuân, ra các cửa ô, cầm về những nhánh đào, nhánh mận, cành hoa “thoải mái nhẹ nhàng”. Sắp đến thời của những cành hoa rồi đấy chắc? Hình như có kẻ ngay từ trong lúc ta đang đổ máu đánh giặc đã rắp ranh cầm lấy những nhành hoa thoải mái này, mong suy tôn nó lên thành đề tài cơ bản ngự trị ngày mai?


Không thể như thế được. Không thể “máu người đẻ ra thơ, nhưng thơ lại hòng quên”. Không ai quên, dù là dài lâu trong tháng năm, trong thế kỷ những máu này. Hãy đến Khâm Thiên, xúc động biết chừng nào! Hàng vạn đồng bào ta ở khắp các nơi, ở tận các tỉnh đi chơi Xuân ở đâu, cũng về nghiêng mình trước đài kỷ niệm ở miếng đất bị hủy diệt này. Từ một miếng đất Khâm Thiên, ta nghĩ đến miền Nam, nghĩ ra cả nước. Từ những vệt máu chưa khô ấy, ta nghĩ ra máu cả dân tộc ta đổ ra trong phần tư thế kỷ vừa qua. Vâng, ta sẽ làm cho hoa trở nên “người yêu thường nhật” trong nhà của mỗi con người. Nhưng cho dù đến ngày ấy, thì ngay giữa ngày ấy đi nữa, hoa vẫn chưa phải là điều cơ bản đâu. Vì dầu không còn đổ máu nữa, ngày ấy, nhưng phải đổ ra bao nhiêu mồ hôi, sức lực để giữa những ngày thường ta có những ngày hoa, để những ngày thường hóa những ngày hoa cho nhân loại.


Các bạn đặt ra khá nhiều câu hỏi hóc búa. Thơ là gì? Thơ thế nào? Điện là gì ư? Tình yêu thế nào ư? Chả lẽ tôi hì hục làm thơ mấy chục năm trời lại trả lời là thơ cũng khó định nghĩa như điện, như tình yêu ấy. Thế thì “điệu” quá, làm bộ làm tịch quá. Nhưng thực ra tôi chưa hiểu hết thơ đâu. Tôi cũng có định nghĩa nhiều lần đấy, nói hẳn hoi viết hẳn hoi. Nhưng lần này định nghĩa thì lần sau nắn lại, chỗ này định nghĩa thì chỗ khác bổ sung. Vẫn còn nghĩ tiếp, nghĩ tiếp mà. Tốt nhất là nhờ các bạn đọc thơ tôi. Những câu nào, bài nào được, chính là lúc ấy tôi đã sống đúng, nghĩ đúng, “nghĩ về thơ đúng”. Còn chỗ nào dở, hỏng thì tức là có cái gì trục trặc đấy rồi. Tôi chưa hoàn chỉnh sự suy nghĩ của mình, nhưng cũng khá sốt ruột về những suy nghĩ của bạn bè bên cạnh. Có lẽ nói cái sự bất đồng ý của mình với anh em, cũng là một cách nói lên ý của mình chăng?


Có quan niệm nói: “Thơ là hoa, mà tiểu thuyết là quả”. Tôi không đồng ý lắm. Nó không đúng về triết học, về sinh vật học, và về văn học. Hình thái bên ngoài của các tác phẩm dài ngắn khác nhau, nhưng đâu có phải do ý thức bên trong cái này là thấp, cái kia là cao đâu. Nói thế khác nào bảo rằng điện ở đèn bao giờ cũng mạnh hơn điện ở máy, vì đèn sáng, còn máy thì tối vậy. Thể loại nào mà không có khả năng khái quát, chỉ có người sử dụng thể loại có thể khái quát hay không. Một bức tượng câm có khi còn nói nhiều hơn một bộ phim nói. Và một bài báo của A-lanh (Alain) bé bằng bàn tay còn khái quát hơn cả một bài thơ dài kia. Trong văn học đừng lấy dài ngắn ra làm kích tấc đo lường. Tác phẩm còn có chiều cao và chiều sâu nữa. Quy luật sự sống là đi từ đơn giản đến phong phú chứ không phải đi từ nhỏ bé đến kềnh càng. Lịch sử tiến từ loài giao long khổng lồ đến con người, chứ không phải ngược lại, và bên loài giao long thì con người bé tẹo làm sao! Bất cứ tác phẩm nào, thể loại gì, miễn nó sống, miễn cấu trúc sự sống bên trong của nó không đơn giản như cơ thể xoang tràng, mà phong phú, mà tinh vi, thì đều thuộc vào “sinh vật cao cấp”. Nếu có người nói thế kỷ 20, tiểu thuyết mới là thể loại chính, thì cũng có nhiều người hơn nói là ở thế kỷ 20 mọi sự cần gọn nhẹ này (khi cái đồng hồ quả lắc hóa ra quả quýt, và cái nhà máy xi măng đồ sộ xếp sau cái nhà máy nguyên tử bé hơn) tiểu thuyết đã hết thời! Có một người hỏi: “Ai là những nhà thơ giỏi nhất thế kỷ 21?”. Và một nhà thơ đã phải trả lời: “Các nhà toán học!”. Ôi, nói chuyện xếp thứ bậc các thể loại thì chẳng cùng. Trở lại thơ cho dễ. Ở Pháp chẳng hạn, thế kỷ 19 mặc dù có các nhà tiểu thuyết Ban-dắc (Balzac) vĩ đại, có Xtăng-đan (Stendhal), Phờ-lô-be (Flaubert), có Dô-la (Zola), nhưng nhiều người vẫn gọi đấy là thế kỷ của Huy-gô (Hugo), La-mác-tin (Lamartine), Muýtxê (Musset), Vi-nhy (Vigny) đều thi sĩ. Ở một tuyển tập về thế kỷ 20 thì trong năm người chủ lực là Va-lê-ry (Valery), Cơ-lô-đen (Claudel), Pe-guy (Péguy), Pơ-rút (Proust), Gi-đơ (Gide) ba người đầu đã là thi sĩ rồi.


Nhà thơ Sóng Hồng nói rất đúng: “Thơ cũng như nhạc, có thể trở thành một sức mạnh phi thường, khi nó chinh phục được trái tim quần chúng nhân dân”. Lại nói: “Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng. Nhưng thơ có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian mà nhiều nghệ thuật khác không có”. Tôi hiểu vì sao Lê-ô-na đơ Vanh-xi (Léonard de Vinci), Mi-ken Lăng (Michel Ange) cũng có làm thơ.


Một quan điểm khác, tôi cũng không đồng ý mấy, đã định nghĩa thơ là phái “thật, thật, thật, chân, chân, chân” Người ta có thể định nghĩa thơ như thế, nhưng cũng có thể định nghĩa sử học, triết học, toán học như thế cả. Đấy là chỗ chúng giống nhau. Nhưng phải có cái gì khác nhau giữa các ngành hoạt động ấy chứ? Mục đích của múa rối có thể là thật thật thật, chân chân chân như của toán vậy. Nhưng để đạt được mục đích ấy, người ta không đưa các con người thật lên sân khấu đâu, đưa thế thì hỏng mất! Lại phải đẽo ra những con rối giả, vừa giống, vừa không được giống lắm, như thực mà như mơ thì mới nói được cái thật và cái chân kia! Thơ cũng thế. Có lúc phải nói thực, và có lúc phải nói hư! Có khi nói thẳng, mà có khi nói quanh cũng rất cần thiết. Khi Bác viết: “Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới”, khi nhà thơ Sóng Hồng viết: “Trăng xuống làm gương em trải tóc… Chìm xuống cho ta còn mượn cánh…”; đều là lúc các nhà thơ thấy không thể cứ dùng chân chân thật thật mà được. Sóng Hồng nói: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng”. Tiếc thay, lâu nay, lấy cớ là phải hiện thực, ta đã quá coi nhẹ hư cấu, tưởng tượng, cứ nghe các chữ ấy là đã ngại rồi. Mai đình mộng ký viết: “Chỉ những kẻ đại giác mới có đại mộng”. Cố nhiên, có nhiều người vì không có thực tế nên đâm ra hư cấu ẩu, nhưng quy luật là chỉ ai giàu thực tế, thì mới có thể hư cấu, tưởng tượng được mà thôi.


Nhân đây cũng bàn thêm một tí về hiện thực. Thế nào là hiện thực ngày nay? Với chúng ta, phải có một chiếc máy bay địch, thấy cụ thể bằng mắt thật thì mới được gọi là những chiếc máy bay; nhưng với các đồng chí ở ra-đa, thì máy bay chỉ là một chấm trên màn hiện sóng. Và các đồng chí ấy cũng xúc cảm, căm giận, reo mừng trước chấm sáng đó. Chúng ta xúc cảm trước các sự vật có thực, nhưng các bác sĩ, các vị tư lệnh chỉ huy, các nhà khoa học, các nhà chính trị lại xúc động trước các mật mã, các tín hiệu, các định luật, các chính kiến, các luận điểm có thực với họ mà, chúng ta cho là rất khô khan. Những người xét lại tiên phong chủ nghĩa cứ mong rằng mỗi phát hiện khoa học của thế kỷ 20 sẽ đảo lộn, lật ngược tất cả vốn cảm xúc cố hữu cổ truyền của nhân loại. Nhưng những người giáo điều, bảo thủ thì nghĩ rằng chẳng có cái gì đem thêm lại cái gì! Ngày nay con người có thể trực tiếp thấy cụ thể một vết lõm trên mặt trăng xa bốn mươi vạn cây số, đồng thời lại có thể thấy khái quát một vật rất gần cầm trên tay qua những tín hiệu, công thức, định luật, gián tiêp. Điều ấy đem lại gì cho thơ chứ? Đem lại gì cho thơ cái việc con người không chỉ thấy nước mà thấy H2O, thấy lá mà còn cả chất diệp lục, thấy quả táo đồng thời với định luật Niu-tơn (Newton), thấy ngôi sao (ôi ngôi sao như mắt em) và quá trình hình thành các thiên hà. Tóm lại, thấy không những sự vật mà thấy cả các yếu tố cấu thành ra sự vật, quá trình hình thành của nó, liên hệ dọc ngang, qua lại giữa các sự vật cùng nhau. Con mắt, “con mắt thơ” đã hưởng được thêm gì của hàng vạn năm tìm tòi của nhân loại?


Có quan niệm là thơ cần phải “mộc”, phải “trần trụi”. Ai chả đồng ý với quan niệm ấy? Nhưng khi các bạn bảo “chỉ thơ mộc mới là thơ, chỉ trần trụi mới là thế kỷ 20” thì lại phải bàn rồi! Cái gì cũng thế kỷ 20 cả, nguy quá! Nhưng quả là các bạn ấy chưa được thông tin đầy đủ về vấn đề này. Họ không đọc kỹ Thủ tưởng Phạm Văn Đồng khi Thủ tướng nói về câu ca dao “mộc”: “Hỡi cô tát nước bên đàng…”, và về câu thơ “Long lanh đáy nước in trời” điêu luyện. “Một hòn ngọc hãy còn mộc mạc của dân gian và một hòn ngọc đã qua tay người thợ thiên tài”. Họ quên rằng họ đang ở Việt Nam, ca dao mộc mạc được đề cao mà Truyện Kiều điêu luyện được Ban Bí thư Đảng kỷ niệm trong toàn quốc. Trong mỗi tác giả đều có hai bút pháp Ôn Như Hầu đẽo gọt: “Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ”. Lại cũng “mộc”: “Lau rau ríu rít cò con cũng tình”. Hàn Mặc Tử viết như nói: “Trời hỡi làm sao cho khỏi đói. Gió trăng có được làm sao ăn”. Lại cũng viết như viết: “Bỗng hôm nay trước cửa bóng trăng quỳ, Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”. Xuân Diệu viết không tí văn chương: “Hỡi xe đang chạy với bu gà”. Lại cũng văn chương tuyệt vời đẹp đẽ: “Ngày hóa bếp hồng em chụm thổi. Đêm thành lụa tuyết để em thêu”. Nhìn ra thế giới thì cũng thế. Người ta bảo Hích-mét (Hikmet) mộc, Bơ-rếch (Brecht) trần trụi. Nhưng A-ra-gông (Aragon), Ê-lu-a (Eluard), Rít-xốt (Ritsos), Xanh Giôn Péc-xơ (Saint John Perse), Nê-ru-đa (Nêruda), Vô-dơ-nhet-xen-xki (Voznessenski) mộc ở chỗ nào? Trần trụi mà thế ư? Đừng lẫn lộn mộc, trần trụi với trong sáng, dễ hiểu. Cũng Nguyễn Đình Chiểu đấy, như có khi ông mộc thì lại khó hiểu hơn khi ông điêu luyện. “Vợ Tiên là Trực chị dâu” sao rõ nghĩa cho bằng: “Hỏi thì ta phải nói ra. Ba ngàn thế giới ta là vô danh”. Phải điêu luyện cật lực mới trở nên trong sáng. Và muốn trần thì cũng phải kỳ cọ tắm rửa sạch sẽ rồi mới ở trần.


Quan niệm mộc mạc và trần trụi đi đôi với một quan niệm “hồn nhiên, tự nhiên”. Đúng, không hồn nhiên, tự nhiên sao còn là thơ nữa? Nhưng thế nào mới là hồn nhiên thì ta phải bàn. Khi ta nói cô diễn viên kia đóng kịch rất hồn nhiên, nhờ cô đã tập rất vất vả hàng trăm lần, thì ai cũng đồng ý. Nhưng khi nói về thơ, thì người ta cứ muốn nhà thơ, mở miệng ra là thành thơ… vọt một cái thành thơ. Đó là nói về cách viết. Nhưng tôi muốn đi xa hơn, nói về quan niệm hồn nhiên, tự nhiên. Con lợn lai kinh tế mà ta đang phát triển đấy là một con lợn chả hồn nhiên tí nào! Nếu tự nhiên, hồn nhiên thì đâu nó có bộ sườn như thế. Và cái tên lửa bay lên quãng không một cách thoải mái kia cũng chả hồn nhiên, tự nhiên nào. Cứ để cho nó tự nhiên nó sẽ rơi tòm xuống đất, theo sức hút trái đất. Chúng ta phải thắng một cái hồn nhiên thấp để đến một cái hồn nhiên cao hơn, thắng một cái hồn nhiên cũ để đến một cái hồn nhiên mới, và đó là tiến bộ, tiến hóa, đó là cách mạng! Chứ hồn nhiên đâu có phải là có sao trong lòng, thì cứ tự nhiên nhi nhiên, mặc nó vọt ra ngoài. Và hễ có ai đào xới, tìm tòi gì thì cho đấy là không hồn nhiên, không thật. Nhưng hồn nhiên gì thì hồn nhiên, mộc gì thì mộc, không được lẫn lộn, đồng nhất các quan niệm ấy với cẩu thả, nhác lười. Một nhà thơ lớn đã nói “Thà tôi khổ công mà làm được một câu thơ dở, còn hơn tình cờ mà bắt được một câu thơ hay”. Trong thơ có hứng cảm, nhưng trong thơ có lao động, cật lực, đổ mồ hôi, sức lực ra mà lao động. Cái hồn nhiên cũng phải chiến đấu mà giành lấy, nhất là với các người lớn tuổi, tế bào không còn trẻ nữa, như lớp chúng tôi.


Tôi có “điệu” không, có kiểu cách không, nếu một mặt biết ơn nhiều bạn đã có ý tốt xếp tôi cùng vài anh em khác vào loại làm thơ trí tuệ, một mặt lại không đồng ý với những ai quá đề cao thơ trí tuệ, coi nó mới là cái gì tiêu biểu cho tương lai. Khi có ai bảo: anh ấy làm thơ trí tuệ, tôi cứ ngượng, cứ như người ta nói: kìa anh ta đeo kính gọng vàng. Giá đừng đeo kính, mà có một đôi mắt đẹp thì có hơn không? Vì sao tôi không thích được gọi là làm thơ trí tuệ? Thứ nhất, khi tôi làm thơ “ấy”, tôi thấy mình không có gì khác trong người cả, như khi tôi làm thơ về tình yêu, về cháu bé con tôi học nói hay tập đàn! Mà làm cho được một bài thơ tình yêu, một bài thơ về con trẻ, về liễu mùa xuân, nào có dễ gì! Thứ hai, đã là thơ hay, thì thơ nào mà chả đáng yêu. Vì nhu cầu của con người là rất phong phú! Người ta thích những bài thơ làm suy nghĩ, nhưng cũng thích những bài thơ sau đó ru mình đi. Tôi thích “Ôi, thời đại…” nhưng “Bống bống bang bang”, tôi cũng thích. Cố nhiên tôi sẽ tiếp tục làm thứ thơ… ừ thì gọi nó là thơ trí tuệ đi, nhưng thèm muốn của tôi là với tuổi lớn dần, sẽ làm được cả các bài ca, bài ru nữa! Tôi thường đùa với Tế Hanh: “Mình quen làm triết nhân nửa mùa đến quên làm tình nhân và hay hét quá đến không hát trầm được nữa”.


Đề cao quá đáng thơ trí tuệ xem như đó là cái gì thời đại nhất, thật không ổn! Nhưng đừng đối phó lại nó bằng cách ca tụng thơ… không trí tuệ, hễ thấy một tia trí tuệ, một tia suy nghĩ gì vào thơ đã vội kêu lên đấy không phải là thơ rồi. Trí tuệ làm cho thơ khô đi ư? Anh ngỡ chất liệu sống mà nhồi nhét không đúng cách vào thơ, không làm chết thơ đi đấy chắc? Tôi đọc nhiều bài thơ trí tuệ của Ê-lu-a, của Bơ-rếch còn rung động hơn nhiều bài cảm tình sướt mướt hay rề rà tả cảnh, tả cành! Đừng có nói trái tim cao hơn bộ óc! Không khéo thì ta rơi vào chủ nghĩa phi lý lúc nào cũng nên. Ở cái thời đại mà trí tuêj con người đã thám hiểm các thiên hà, tưởng cũng nên nói xấu nó vừa vừa chứ! Thực ra khi đã là thơ, thì khó phân biệt đâu là tim, đâu là bộ óc. Trong cuộc gặp gỡ các nhà văn Tây Đức ở Hà Nội, tôi đã nhắc lại một ý của nhà thơ Tố Hữu về Bơ-rếch và Hích-mét: “Đốt cháy trái tim lên đến thành trí tuệ, đó là Hích-mét. Đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim là Bơ-rếch đấy rồi”. Các nhà trí thức Tây Đức hôm ấy đã đánh giá cao sự nhận xét đó.


Tôi cũng muốn thảo luận thêm với các bạn một số quan điểm về dân tộc, về hiện đại. Hình như một số bạn chỉ thích hiện đại, và hiện đại theo các bạn ấy là phải đi kèm với cái gì của Tây phương thôi. Các bạn ấy hẳn đã biết Pi-cát-xô có chuyển biến lúc tìm ra một tác phẩm dân gian của châu Phi, và nhìn kỹ thì kịch hiện đại của Bơ-rếch có chịu ảnh hưởng của tuồng cổ Đông phương đấy. Nhà thơ Ép-tu-sen-kô khi đến thăm Hội nhà văn đã nói anh rất thèm các bài thơ tứ tuyệt của phương Đông. Những nhà thơ yêu Bô-dơ-le (Bau-delaire) và thuyết correspondances của ông chắc cũng đồng tình với tôi khi tôi nói rằng “Mái nhà dài như một tiếng chiêng”, “miệng cười như thể hoa ngâu”, thậm chí “rét ngọt” “đá quả bóng này ngon quá”, “tôi nghe thấy lạnh” đều là xa gần của sự “tương giao”. Ôi, tôi thèm biết mấy - dù tôi không hiểu gì về hội họa, viết một bài ca tụng những tượng và khắc gỗ dân gian các thế kỷ 17-18 của ta, trưng bày năm ngoái! Tinh thần dân tộc biết chừng nào, mà phong cách lại hiện đại biết chừng nào. Cám ơn Huy Cận đã làm điều đó, như anh đã ca tụng các vị La Hán chùa Tây Phương - những pho tượng từng làm sững sờ nhiều họa sĩ lớn từ châu Âu đến. Tôi thèm biết mấy viết lời ca tụng những câu ca dao rất là Việt Nam, mà mới sao là mới: Sầu đâu mà chẳng sầu đây. Sầu cá dưới nước sầu mây trên trời. Cá sầu ai cá chẳng quật đuôi. Như lan sầu huệ như tôi sầu chàng.


Những:


Hai bên giấy phất tư lường


Ai cầm lấy quạt thì vương lấy sầu


Những:


Cầm trang sách đọc quên đầu quên đuôi


Cầm cân quên giá quên lui


Cầm tiền mà xỉa không biết mấy mươi một tiền


Những:


Em như Tố Nữ trong tranh


Anh như thuyền ván lên ghềnh được chăng?


Những:


Chờ anh tháng tám đã qua


Tháng mười đã lụn, tháng ba đã rồi


Những:


Thương anh không biết mán răng


Đi mười cửa biển chắn đăng cả mười


Hàng nghìn, vạn câu như vậy. Những A-pô-li-ne-rơ (Apollinaire) vô danh nào của xã hội Việt Nam xưa đã viết nên các câu ấy, những nhà thơ tình yêu phi thường nào đã viết nên các câu ấy, mà trong đó bao gồm rất nhiều lý thuyết hiện đại của thơ ngày nay? Tôi thèm có dịp viết bài ca tụng Tiếng hát làm dâu của người Mèo, Bài ca núi Làn Ai của người Mường, Đam San của người Tây Nguyên, Khảm Hải của người Tày, Hạn Khuống và Xống chụ xon xao của người Thái, những tác phẩm của các anh em sống chung cùng chúng ta trên dải đất này, những tác phẩm vô danh, nhưng thực ra dám đọ với bất kỳ tác phẩm lớn lao nào trên thế giới. Còn gì Thái hơn Xống chụ, Tày hơn Khảm Hải, Tây Nguyên hơn Xinh Nhã, Đam San… các tập thơ ấy không những mang tâm hồn, tính cách của con người các dân tộc anh em, mà còn là bộ toàn thư về đời sống phong tục tập quán các dân tộc ấy. Ấy, ấy thế mà lối biểu hiện lại hiện đại làm sao! Sao ta chỉ học lối biểu hiện Tây phương mà không học lối biểu hiện Kinh, lối biểu hiện Tày, Nùng, Mán, Mèo, Ra-đê, Thái, Xá, Puộc? Trong thơ có điều lạ này: Những dân tộc có nhiều văn hóa, tìm ra cái mới, nhờ có nhiều văn hóa. Nhưng ngay những dân tộc xưa kia không có chữ, bị bọn đế quốc gọi là “ít văn hóa” thì họ cũng tìm ra cái mới, có khi lại là cái mới độc đáo hơn cũng nên, nhờ không có cái gánh nặng văn hóa nào đè lên trên lưng, không có cái quá khứ chủ nghĩa nào ngăn cản họ, khi họ đi đến cái mới sáng tạo.


Ngày nay nhiều bạn nói về hiện đại, về mô-đéc mộ cách ba vạ quá. Nào là “liên hệ rối rắm”! Nào là “phá vỡ câu thơ”! Nào là “cấu trúc, điệp trùng”! Này, một sợi chỉ có khi lại rối rắm đấy, mà cả bộ óc điện tử lại trật tự vô cùng, như cơ thể của các sinh vật cao cấp! Và phá vỡ câu thơ để làm cái gì? Nếu để làm một câu khác hay hơn, lạ hơn, mới hơn thì được, nhưng phá vỡ để cho “cú bất thành cú, thơ bất thành thơ”, thì phá để làm gì, vỡ để làm gì… Đừng lòe chúng tôi bằng chủ nghĩa siêu thực.


Vợ tôi có lông mi như nét bút trẻ con


Có lông mày như vành tổ chim én


Có răng như dấu chân chuột bạch ở trên đất trắng


Vợ tôi có mắt như nước để uống trong tù…


Thơ của Ra-xin (Racine) đấy chắc? Không, của Brơ-tông (Breton), ông tổ siêu thực. Nhưng hễ nó hay thì nó thành câu, có khi cổ điển nữa, chứ phá vỡ câu gì!


Gần đây lại hay nói đến cấu trúc. Tôi không muốn làm những ông đồ cổ tân thời, cứ cái gì Tây phương có thì đều bảo rằng cái này Đông phương đều có tự xưa rồi, và đem cái pháo thăng thiên cũ ra để xóa nhòa cái tên lửa mới. Nhưng ai đọc các bộ thi pháp đời Đường, các thế võ của thơ Đường, các thi thoại cũ mà không thấy người xưa cũng đã nghĩ nhiều đến cấu trúc bài thơ, cấu trúc từng vế, từng câu, phân công và nhiệm vụ từng chữ một trong toàn bài thơ! Cấu trúc quá đi chứ! Đến giết chết cả chất thơ là đàng khác kia mà! Cố nhiên đó không phải là chủ nghĩa cấu trúc ngày nay. Và may thay điều ấy, cố nhiên.


Thật ra một bài thơ hiện đại phải là một sự hiện đại hoàn chỉnh toàn diện. Sự sống hiện đại. Cách xúc cảm hiện đại trước cuộc sống ấy. Rồi mới đến cách biểu hiện hiện đại về cuộc sống, và xúc cảm này. Và trong cách biểu hiện ấy có từ cái hệ thống toàn thể đến các bộ phận, có từ cái ngầm ở sau bài đến cái cụ thể nổi lên trên từng chữ từng câu. Chứ có phải đâu hiện đại chỉ là phá vỡ vài câu cho nó lạ kỳ, liên hệ dăm chữ lạ cho nó rối rắm. Thế thì khác nào muốn mặc Tây, nhưng chỉ ra chợ giời để mua vẻn vẹn một cái cà vạt mà thôi. Nhưng đối lập với quan niệm hiện đại kỳ cục này, lại có một quan niệm dân tộc kỳ cục không kém. Hẹp hòi. Bảo thủ. Hễ có ai làm một cái gì mới, thì khéo léo bảo: “Cha ông xưa đã từng làm như thế rồi, có gì là lạ”, hay cay nghiệt hơn thì bảo: “Cha ông xưa không làm như thế đâu”. Cha ông xưa đã viết cái mới, thế thì sao lại ngăn cấm con cháu viết mới hơn. Và nếu như cha ông chưa làm thì phải cho cháu con làm chứ. Con hơn cha là nhà có phúc kia mà. Về vấn đề dân tộc phải bàn kỹ với nhau một chút. Ngay trong bữa ăn dân tộc ngày nay, cũng đã có lắm thứ lạ rồi: trứng gà Hung, đường Cu-ba, thịt lợn lai kinh tế, mì sợi Đông Âu. Và lúa mì Tây cũng đã thành cây trên đất ta rồi. Ở dàn nhạc dân tộc, có cây nhị Hồ, người Trung Quốc gọi nó là Hồ Cầm vì nó từ đất Hồ vào chứ không phải của Trung Quốc. Nhưng giờ nó lại thành nhạc cụ dân tộc của ta. Nhiều bạn xem câu thơ 7 chữ viết theo luật thơ Đường là dân tộc hơn câu 8, 9 chữ. Nào biết đâu câu 8, 9 chữ là ở trong bài ca trù hát nói dân tộc, còn câu 7 chữ là theo luật nước ngoài.


Khi bàn về vấn đề dân tộc, tôi muốn ta trước tiên hãy đi vào vấn đề nội dung, vào tâm hồn và tính cách của con người Việt Nam, rồi sau hãy bàn đến hình thức. Cũng cây nhị Hồ đấy thôi, người Trung Quốc dùng thì nó hóa ra Trung Quốc, nhưng nếu vào tay một người Việt Nam nó sẽ bật lên tâm hồn tính cách Việt Nam. Cũng câu thơ Đường ấy, đến tay Yên Đổ, đến “một đèo, một đèo, lại một đèo” của Hồ Xuân Hương thì nó khác hẳn rồi. Xuân Diệu đã nhận xét rất tinh điểm ấy.


Thế thì tại sao cây dương cầm, câu thơ 8, 9, 10 chữ bây giờ hay ngày kia lại không dân tộc? Miễn là người dùng nó giữ được bản sắc dân tộc mình. Chỉ có đi sau vào tâm hồn và tính cách của con người, thì ta mới thấy hết các nét độc đáo của dân tộc ta, không giống các dân tộc khác, ném vào bất cứ một nước anh em nào cũng không thể lẫn được([2]) chứ chỉ chú ý nhiều về hình thức thì thêm rắc rối vấn đề. Tiếc thay khi phê bình một nhà thơ, một bài thơ nào đó có dân tộc hay không, thì đôi bạn lại chỉ chú ý cách xếp chữ bỏ vần, cách làm bài đặt câu coi đó là cái chính. Một lẽ nữa phải quan niệm dân tộc ngay cả về tâm hồn và tính cách như một cái vốn (dù không để lẫn) nhưng là một cái vốn giàu thêm lên mãi chứ không phải như một cái gia tài bỏ vào tủ, khóa kín, không đổi chác, giao lưu gì, ngõ là để giữ vốn, hay đâu có ngày hút cả vốn đi. Dân tộc phải biến chuyển - đúng hơn, phải tiến hóa, qua các thời đại. Dân tộc phải gắn liền với từng thời đại một đến không gỡ ra được. Việt Nam nhưng là Việt Nam của thế kỷ 20 không thể giống in thế kỷ 19. Thậm chí Việt Nam đầu thế kỷ 20 khác với giữa và cuối thế kỷ kia. Nếu chỉ chú ý đến thời đại mà quên dân tộc, sẽ rơi vào chủ nghĩa thế giới, tiên phong. Nhưng nếu chỉ biết dân tộc mà quên thời đại, thì phi lịch sử. Trong một lần nói chuyện thơ cùng chúng tôi. Tố Hữu nói: “Chỉ hiện đại mà không dân tộc, thế là mất gốc. Nhưng chỉ dân tộc mà không hiện đại thì cũng không… dân tộc”.


Các vấn đề trí tuệ hay không trí tuệ, hiện đại và dân tộc trên đây dính líu nhiều đến một số quan niệm về sáng tạo trong thơ mà tôi muốn đề cập luôn một thể.


Tôi muốn học đòi các nhà khoa học, nhìn vào các hình thức, cấu trúc của sự sống, vẽ nên các mô hình máy của mình. Tôi cũng muốn tìm các quy luật thơ từ sự sống.


Tôi nhìn vào sự sống, nhìn những cây loại tre thôi mà đã có gần 30 loại khác nhau, từ loại to như cột nhà, đến loại bằng cây tăm, trồng trong chậu cảnh. Thế thì sao có người chỉ chịu được có một loại thơ thôi, hoặc là thơ cây tăm hay thơ loại cột nhà? Nếu anh xuống Hải Phòng, nhìn ra các con tàu anh sẽ thấy từ tàu cuốc đến tàu chở dầu, từ tàu chờ khách đến tàu rà mìn, đều là tàu cả đấy thôi, nhưng chả có gì giống nhau tất cả. Từ đầu loại thơ đến cuối loại thơ cũng khác nhau như vậy. Thơ Việt khác thơ Pháp, thơ thế kỷ 20 khác thế kỷ 19, thơ tình yêu khác thơ chính luận, thơ chữ tình khác thơ ru em… Cái giống của nó là ở nhiệm vụ, là chức năng, như bất kỳ con tàu nào cũng là để vận chuyển trên nước, dưới nước, bất cứ thơ nào cũng là để đi đến trái tim người. Chứ thơ cũng như mọi sinh vật, mọi dụng cụ, qua các biên giới trong không gian, qua các biến chuyển của thời gian, tùy từng công việc, khuôn theo từng tạng người nó phải thay đổi chứ. Không thể cứ lấy cái tạng riêng của từng người làm định luật chung cho sự thưởng thức của mọi người.


Bài đã quá dài! Nhìn lại nhiều câu hỏi của các bạn, tôi chưa kịp trả lời. Tôi mong sẽ trả lời trong một dịp khác. Nhưng… nhưng, các bạn có thông cảm cho điều này chăng? Đỗ Phủ hay ai nhỉ, bảo rằng: “Năm mươi tuổi, tinh thông các luật thơ”. Tôi vào tuổi ấy. Mà các luật thơ thì vẫn đang còn mò mẫm, tìm tòi. Chỉ sợ khi tìm ra luật, thì không còn lực nữa, khi đã biết cách nhóm lửa thì củi mình lại không còn được bao lăm. Tôi tin ở thời đại lắm chứ, tin ở sự bồi dưỡng của Đảng của nhân dân lắm chứ! Nhưng tôi không tin ở tôi đâu. Tôi không còn trẻ nữa, trẻ để nhận thâu thế giới, không còn khỏe nữa, khỏe để có thể ngồi lâu trước trang giấy như buổi hai mươi, để dưới một vỉa đào thêm vỉa nữa vỉa nữa. Vì thế còn được chút thì giờ nào vẫn là để cay cú làm thơ hơn là làm các việc khác, kể cả việc viết lý luận. Về thơ, tôi xin cố gắng, như đã từng hứa trong một bài thơ xuân năm trước, mặc dù biết rằng cố gắng của mình là một chuyện, kết quả của cố gắng ấy lại là một chuyện khác kia.


Đời vào tuổi năm mươi


Mong gì hương sắc lạ


Mọc chùm hoa trên đá


Mùa xuân không chịu lùi


Tôi biết anh Tú Mỡ sẽ mắng tôi, anh ấy năm nay bảy mươi mà còn rất trẻ. Lưu Trọng Lư cũng sẽ mắng tôi, anh đang thấy mình ở “tuổi hai mươi”. Tôi cố gắng và mong rằng sự thắng lợi vĩ đại của Đảng, của nhân dân, của Tổ quốc Việt Nam ta vừa qua và sắp đến sẽ làm cho đá cũng hóa mỡ màu, đá cũng thành hoa, và hoa sẽ lại càng ra hoa hơn nữa.


Năm 1973


Nguồn: Rút từ tập Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Văn học, 1981


Bản điện tử của trieuxuan.info


 







([1]) Tại hội nghị bàn tròn quốc tế về thơ họp ở Liên Xô, 1966.




([2]) Lời nói của đồng chí Trường Chinh.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »