tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
28.07.2018
Đào Thị Anh Lê
Thơ Nguyễn Bính và thơ Esenin – từ góc nhìn so sánh


Nguyễn Bính (1918 - 1966) là thi sĩ Việt Nam thành danh trong phong trào Thơ mới, Sergei Esenin (1895 - 1925) là nhà thơ Nga nổi tiếng đầu thế kỉ XX. Hai nhà thơ có sự gặp gỡ thú vị trong hồn thơ đồng quê, đậm đà tính dân tộc. Nguyễn Bính được mệnh danh là thi sĩ chân quê còn Esenin được biết đến như thi sĩ cuối cùng của làng quê Nga. Nhiều nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến về sự tương đồng giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Esenin và trên thực tế, hai nhà thơ có sự gặp gỡ ở rất nhiều bình diện. Trong bài viết này, bằng phương pháp so sánh, chúng tôi chỉ bàn về một số trong những bình diện đó. Một là, Nguyễn Bính và Esenin là những nhà thơ của làng quê muôn thuở, cả hai nhà thơ đều thể hiện sự mẫn cảm trước thời cuộc, tâm thế, nỗi buồn của kẻ tha hương luôn hoài nhớ quê hương phảng phất giống nhau. Hai là, Nguyễn Bính và Esenin đều có những chùm thơ viết dưới hình thức lá thư và ngẫu nhiên hai tác phẩm Thư gửi mẹ (Esenin) và Thư gửi thày mẹ (Nguyễn Bính) của hai nhà thơ có sự tương đồng rất thú vị….


1. Sự tương đồng giữa thơ Nguyễn Bính và thơ Esenin qua nghiên cứu, phê bình


Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định sự tương đồng của Nguyễn Bính với Esenin. Khởi đầu, Vương Trí Nhàn trong bài “Thâm Tâm - Trần Huyền Trân - Nguyễn Bính” hơn một lần gọi Nguyễn Bính là “chàng Esenin”: “giống như chàng Esenin, ông cũng lạc lên thành phố, song tâm hồn vẫn để ở cả mái đình, giếng nước, cái yếm lụa sồi và chỉ diễn tả cái đó mới hay”, “sau thời gian “dan díu với kinh thành”, nay chàng Esenin mới lại trở về với cái phần cội nguồn, chân chính của thơ mình”[1] nhưng Vương Trí Nhàn không phân tích sự tương đồng giữa hai nhà thơ. Phônhiacôp dẫn lời Vũ Quốc Ái trong bài “Sự trở lại của Nguyễn Bính”[2] cũng cho rằng “Nguyễn Bính có một cái gì đó rất gần với Esenin” và nói tới những “khoảng lặng” trong quá trình tiếp nhận thơ Nguyễn Bính và thơ Esenin. Văn Tạo trong “Nét tương đồng Việt - Nga biểu hiện qua thơ trữ tình Nguyễn Bính và Esenin”[3] gọi Esenin là “Nguyễn Bính của Nga”, chỉ ra những điểm cơ bản trong thơ của hai nhà thơ, đã khằng định Esenin và Nguyễn Bính trước hết giống nhau ở hồn quê, cảnh quê, tình quê và “cái cao cả nhất của sự tương đồng là hai nhà thơ cũng từ tình quê sâu nặng hồn “dân túy”, đã cố gắng vươn tới con đường cách mạng”. Vũ Công Hảo trong Văn học Nga thế kỉ XX[4] cũng đề cập đến sự giống nhau của Esenin và Nguyễn Bính trong chất trữ tình đồng quê, giọng điệu bâng khuâng tiếc nuối. Nguyễn Đăng Điệp trong “Giao thời văn học và sự trường cửu của giá trị/ căn tính dân tộc trên hành trình hiện đại: trường hợp Sergei Esenin và Nguyễn Bính” đã luận bàn về sự tương đồng giữa Esenin và Nguyễn Bính là cùng trở về với căn tính của dân tộc như sự “ứng xử nghệ thuật hợp lí” trong buổi giao thời, có khả năng phô diễn tốt nhất tri nhận về lịch sử, con người, thời thế[5], họ là kiện tướng thơ tình, cảm hứng và tình yêu lớn nhất trong thơ họ đều là tình yêu quê hương đất nước[6], sự độc đáo về thi pháp nghệ thuật được thể hiện qua sự giao hòa của thi sĩ với thiên nhiên, màu sắc trong thơ, ngôn ngữ gần gũi với nhân dân....


Như vậy có thể thấy, giới nghiên cứu phê bình đã bước đầu chỉ ra những liên hệ giữa Nguyễn Bính và Esenin. Phổ biến nhất là những ý kiến và phân tích xung quanh sự giống nhau về nội dung và nghệ thuật thể hiện giữa hai nhà thơ trong mảng thơ đồng quê. Từ những cảm quan và kết quả nghiên cứu của giới nghiên cứu, trong bài viết này, chúng tôi tiếp tục triển khai nghiên cứu sự tương đồng giữa thơ Nguyễn Bính và thơ Esenin nhưng ở một vài bình diện khác.


2. Thơ Nguyễn Bính và thơ Esenin - thêm góc nhìn so sánh


2.1. Thơ làng quê với cảm xúc đồng điệu


Esenin và Nguyễn Bính có sự gặp gỡ trong hồn thơ mang đậm phong vị quê hương truyền thống. Nếu Esenin là “phái viên của làng thôn Nga” thì Nguyễn Bính là “thi sĩ chân quê”. M. Gorki viết về Esenin: “không phải chỉ là con người mà là đại phong cầm do thiên nhiên tạo nên dành riêng cho thơ ca” còn Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã viết về thơ Nguyễn Bính: “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối, là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”, rằng thơ Nguyễn Bính chính là “hồn xưa của đất nước”[7].


Trong thế giới thơ Nguyễn Bính, phong cảnh làng quê đậm chất Việt hiện lên thân thuộc. Cũng như vậy, thơ Esenin luôn thể hiện tuyệt vời linh hồn Nga. Trong thơ Nguyễn Bính, có thể gặp những người dân Việt từ ngàn đời nay: sư bà quét lá sau chùa, những cô con gái chưa chồng cắt cỏ bên sông, người thiếu phụ đan áo mùa đông, cô gái thẹn thùng lần đầu đeo khuyên bạc, cô gái xuân tuổi vừa đôi tám giũ lụa trên sông, người vợ tảo tần ươm tơ dệt vải, người chồng dùi mài kinh sử trong ngôi nhà tranh, quan trạng vinh qui về làng, cô hái mơ, anh lái đò, cô hàng rượu... Tương tự, trong thơ Esenin, ta có thể bắt gặp hình ảnh của những chàng chăn cừu bên gốc bạch dương, những cô thôn nữ khăn bồng bềnh trước hiên, những mẹ già ngóng chờ con trong trời chiều chạng vạng, những người hành khất bên bậc thềm nhà thờ với đôi mắt u buồn như cây ngưu bàng phai lá, người gác rừng ngái ngủ khua vang hồi mõ khô, những người nông dân cào cỏ trên đồng, trai gái nắm tay trong vũ điệu xoay vòng trên thảm cỏ... Những con người thôn quê bình dị và mộc mạc luôn làm ta cảm động.


Có sự gặp gỡ trong việc khắc tạc linh hồn làng quê là do Nguyễn Bính và Esenin đều là những nhà thơ xuất thân từ nông thôn, gắn bó sâu sắc với đời sống nông thôn. Esenin ngay từ nhỏ đã được nuôi dạy ở nhà ông bà ngoại - một gia đình nông dân ở làng Konstantinovo thuộc tỉnh Riazan miền Trung nước Nga. Riazan là một vùng quê thanh bình, tuyệt đẹp nằm bên bờ sông Oka xanh biếc. Đây là dải đất đen phì nhiêu màu mỡ với những cánh đồng, dòng sông, khu rừng, thảo nguyên, bãi lầy, thung lũng… vẻ đẹp của quê hương in đậm, lắng sâu trong trong tâm hồn của Esenin. Nguyễn Bính sinh ra và lớn lên ở làng Thiện Vịnh, Vụ Bản, Nam Định. Thân phụ Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học. Thân mẫu Bùi Thị Miện nết na đủ cả công dung ngôn hạnh, con gái một gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước. Sau khi mẹ qua đời, Nguyễn Bính đã được cậu ruột Bùi Trình Khiêm đón về nuôi dạy ở thôn Vân thuộc xã bên. Chất quê kiểng mộc mạc bình dị và vùng văn hóa Bắc Bộ tự lúc nào đã đẫm hồn thơ Nguyễn Bính. Nam Định là đất văn hiến thuộc vùng Sơn Nam Hạ, nổi tiếng bởi chợ Viềng, đền Trần, phủ Giầy, lễ hội các vùng ven biển như Nghĩa Hưng, Hải Hậu… chính những điều này lắng sâu vào hồn thơ của nhà thơ, chắt lọc thành từng nhịp gieo vần về tình yêu vô bờ với quê hương đất nước.


Cả Esenin và Nguyễn Bính đều thể hiện sự mẫn cảm trước thời cuộc. Cả hai nhà thơ đều linh cảm cái đẹp của nông thôn truyền thống một đi không trở lại. Nguyễn Bính dường như đã linh cảm thấy trước thế giới “chân quê” chẳng bao lâu nữa sẽ bị “xâm lăng” bởi nhịp sống xô bồ theo lối “Âu hoá”, của xã hội văn minh công nghiệp. Thế giới hiện đại đã chen vào làng quê yên bình, sự xâm lấn của thành thị vào nông thôn là không thể cưỡng nổi. Trong thơ Nguyễn Bính, làng quê ngàn đời chuyển mình trong một cuộc “biến thiên chưa từng có ở chốn non nước bình lặng này” (Hoài Thanh). Ta có thể thấy trong thơ Nguyễn Bính “Hoa xoan đã nát dưới chân giày” (Mưa xuân I), thấy người thôn nữ  “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” (Chân quê). Nhân vật trữ tình bỏ lại quê hương với mái chùa cổ kính, bỏ cả trăng gió để “đem thân đi với giang hồ” là bắt đầu đi từ sân ga “Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi), là hình ảnh xe lửa chạy giữa núi non trập trùng và cánh đồng thẳng cánh cò bay: “Núi lên gọn nét đá tươi màu/ Xe lửa về Nam chạy chạy mau/ Một toán cò bay là mặt ruộng/ Thành hàng chữ nhất trắng phau phau” (Mưa xuân II). Trong đám cưới truyền thống bên “những mâm cau phủ lụa điều” là những vẻ đẹp rất tân kì: “Những xe hoa cưới, sao mà đẹp!/ Cửa kính huy hoàng vạt áo thêu” (Một trời quan tái). Khoa thi trong thơ Nguyễn Bính là khoa thi cuối cùng: “Mấy khoa thi chót thầy ơi/ Thầy không thi đỗ để rồi làm quan” (Nhà tôi). Nguyễn Bính kêu gọi “giữ lấy chân quê”, van nài “Nói ra sợ mất lòng em/ Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa/ Như hôm em đi lễ chùa/ Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh/ Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê” (Chân quê). Chung một nỗi niềm, Esenin đau đớn trước vẻ đẹp của nước Nga bằng gỗ tan biến dần trong khi nước Nga gang thép hiện hình. Trong thơ Esenin, linh cảm về sự mai một của linh hồn quê hương ngàn đời lại được thể hiện thông qua nỗi buồn thương da diết trong những vần thơ về quê hương. Nỗi buồn mơ hồ lan tỏa trong chiều hôm: “Và nỗi buồn chiều hôm xao xuyến/ Trong lòng tôi không thể dẹp yên đi” (Tôi lại về. Trong gia đình thân thuộc); nỗi buồn quặn lên diết da, đau đớn: “Nhưng ẩn giữa bao la đồng cỏ đó/ Một nỗi buồn cứ đau quặn diết da” (Sau mái tóc đen đám rừng non); nỗi buồn lạnh buốt trái tim: “Không thể nào đo nỗi buồn đau lạnh buốt/ Người đứng bên dải bờ phủ đầy sương” (Cỗ xe ngựa rão mòn lên tiếng hát). Esenin tự nhận mình là “Tôi là thi sĩ cuối cùng của làng quê”, nhà thơ đau buồn vì “Ôi những bàn tay xa lạ, vô hồn/ Vì các ngươi bài ca này phải tắt”, buồn bã trước cảnh những bông lúa kiều mạch đẫm sương mai bị cuốn vào trong chiếc máy gặt: “Vị khách thép gang chỉ lát nữa thôi/ Sẽ tiến nhanh vào cánh đồng xanh ngắt” (Tôi là thi sĩ cuối cùng của làng quê)... Tình yêu quê hương và xu hướng thơ “chân quê” của Nguyễn Bính và Esenin không chỉ phản ánh bản chất thi ca thiên phú, mà còn chứng tỏ khả năng tiên cảm nhạy bén của các thi sĩ trước sự mai một của làng quê truyền thống trong công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa của xã hội loài người. Bằng sự nhạy bén của tâm hồn, các nhà thơ đã nhận ra quê hương mà họ yêu tha thiết, cháy bỏng đang đứng trước nguy cơ mai một những giá trị truyền thống. Vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên, đất nước cả ở bề mặt lẫn chiều sâu văn hóa đang một đi không trở lại khi cuộc sống hiện đại bắt đầu. Những người nghệ sĩ có nhãn quan tinh tường đã sáng tạo hết mình để bất tử hóa hình tượng làng quê mà họ yêu mến vào thi ca. Như vậy, sự tương đồng về điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của nước Nga và nước Việt vào đầu thế kỉ XX đã làm nảy sinh sự tương đồng trong các hồn thơ đồng điệu.


Nỗi buồn tha hương xuất hiện trong thơ khi họ đều là tâm thế xa quê để luôn hoài nhớ quê hương. Cả hai nhà thơ đều là những thi sĩ “Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành”. Đỗ Lai Thúy, Chu Văn Sơn và nhiều nhà nghiên cứu khác đã phân tích sự “lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính nên chúng tôi xin không nhắc lại. Nguyễn Bính có một chuỗi dài tác phẩm thể hiện nỗi buồn tha hương như Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương, Xuân nhớ, Xuân thương nhớ, Xuân về nhớ cố hương, Hành phương Nam, Tết biên thùy, Đêm mưa đất khách... Nỗi niềm tha hương của hai nhà thơ đều là nỗi buồn, nỗi nhớ quê đến quặn thắt đau đớn: “Quê nhà xa lắc, xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” (Hành phương Nam), “Chao ơi, Tết đến em không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng” (Xuân tha hương). Nhớ quê là nhớ nhà, nhớ người thân, trong đó, nhớ mẹ là sâu nặng và da diết nhất. Esenin luôn đi và trở về nhà khi lòng giông bão, hàng loạt bài thơ như kí sự cho sự bất ổn của tâm trạng nhà thơ như Tôi lại về trong gia đình thân thuộc, Tôi từ giã ngôi nhà yêu dấu, Tôi mệt mỏi sống trên quê mẹ, Trở về Tổ quốc, Tôi không về ngôi nhà cha mẹ... còn Nguyễn Bính thường trở về trong vọng tưởng mà thôi “Trót đà mang số sinh ly/ Bao giờ tôi mới được về cố hương/ Xuân về những nhớ cùng thương/ Trời ơi! Muôn vạn dặm trường xa xôi/ Chiều ba mươi hết năm rồi/ Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà/ Tôi còn lận đận phương xa/ Để ăn cái Tết thật là vô duyên” (Hành phương Nam). Sự tương đồng của cảm hứng tha hương là do thời đại Nguyễn Bính và thời đại Esenin đều chung vào buổi giao thời. Nước Nga và nước Việt đều từ nước nông nghiệp được hiện đại hóa Nông thôn muôn đời xưa cũ vẫn đó nhưng thành thị, phố xá mọc lên và phát triển nhanh chóng. Thành thị với nhịp sống và sinh hoạt mới mẻ, tràn đầy cám dỗ đã vươn bàn tay vô hình của nó về tận xóm làng, bứt con người ra khỏi gia đình, quê hương, ra khỏi nông thôn với muôn ngàn lí do. Những con người chân chất bỏ làng để tìm vinh hoa phú quí, hoặc để khẳng định tài năng, hoặc để mưu sinh, lang thang kiếm sống, cũng có khi là đi tìm vận may nào đó. Sự tương đồng về lịch sử của hai nước Nga - Việt đã dẫn đến sự tương đồng trong cảm thức tha hương của hai thi sĩ đồng quê.


2.2. Chùm thơ - thư và hai bài thơ Thư gửi thày mẹ - Thư gửi mẹ 


 Dưới hình thức lá thư, bài thơ đã xác định đối tượng trữ tình, xúc cảm, kỉ niệm và tình cảm riêng gắn liền với đối tượng đó. Những bài thơ dưới hình thức lá thư là lời nhắn nhủ ăm ắp tâm tình gửi đến người thân, vừa riêng tư vừa tha thiết. Hình thức lá thư tạo ấn tượng mới lạ cho thơ trữ tình, lại giúp chủ thể trữ tình dễ dàng bộc bạch tâm tư, tình cảm.


Chọn sáng tác thơ dưới hình thức lá thư là lựa chọn của không ít nhà thơ nhưng Nguyễn Bính và Esenin thì lượng tác phẩm thơ - thư khá tập trung. Nguyễn Bính viết nhiều bài thơ viết dưới hình thức lá thư. Đa số những bài thơ này đều được đánh dấu bằng chữ “Thư” trong tiêu đề như Lá thư về Bắc, Thư gửi thày mẹ, Thư cho chị, Thư gửi về Cha, Bức thư nhà, Thư nhà, Thư gửi chú Tùng. Một số bài thơ khác như Gửi người vợ miền Nam II, Xây hồ bán nguyệt, Xuân tha hương tuy không có chữ “Thư” ở tiêu đề nhưng bản chất vẫn là bài thơ - thư bởi những dấu hiệu mở đầu hay kết thúc của thư tín rất rõ. Ngẫu nhiên, Esenin có các tác phẩm Thư gửi ông ngoại (Письмо деду), Thư gửi mẹ (Письмо к матери), Thư gửi người đàn bà (Письмо к женщине), Thư mẹ gửi (Письмо от матери), Trả lời thư mẹ (Ответ) và chùm thơ Thư gửi em gái (Письмо к сестре)... Cả Nguyễn Bính và Esenin thường sáng tác thơ dưới hình thức lá thư để sáng tác những bài thơ của mình bởi lẽ ngoài đời thực, cả hai nhà thơ đều là những thi sĩ phiêu bạt giang hồ, xa quê hương, xa người thân nên luôn có nhu cầu trao đổi tâm tư, tình cảm, thông tin.


Trong những bài thơ - thư của Nguyễn Bính, xuất hiện hình thức mở đầu hoặc kết thúc của lá thư với không gian, thời gian, nguyên cớ khá cụ thể:


Viết cho chị lá thư này


Một đêm lữ thứ em say rượu cần  


                                                          (Thư cho chị)


Thư một bức nghìn lời tâm huyết


 Đêm canh dài thức viết cho em


 Bồi hồi máu ứ trong tim


 Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này 


                                                       (Gửi người vợ miền Nam II)


Nhận thư anh lòng mừng khôn xiết


Trả lời anh em viết thư này               


                                                     (Bức thư nhà)


 Thưa Cha giấy ngắn tình dài


 Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con 


                                                       (Thư gửi về Cha)


Trong những bài thơ - thư đó, thông tin thư tín trao đổi khá đậm nét giữa nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình:


Được thư chú gửi vừa rồi


Biết cô đã khỏi chúng tôi thật mừng


                                                          (Thư gửi chú Tùng)


 Tết này chưa chắc em về được


 Em gửi về đây một tấm lòng


 Với lá thư này là tất cả


 Những lời tâm sự một đêm đông           


                                                            (Xuân tha hương)


 Những lời dặn dò, trách móc, hứa hẹn, mong muốn xuất hiện khá nhiều:


Thỉnh thoảng anh nên phí ít giờ


Viết cho em lấy mấy dòng thư                


                                                          (Lá thư về Bắc)


Trước em gửi lời chào đơn vị


Sau chúc anh mạnh khỏe bình yên


Dặn anh, nhớ nhé đừng quên


Mỗi kì chiến thắng thì biên thư về          


(Bức thư nhà)


 Kính thăm tất cả người thân thích


 Còn chuyện phương xa đợi lúc về          


(Lá thư về Bắc)


Anh giữ lấy thư nhà một bức,/ Tấm lòng em chân thực thiết tha/ Những khi đêm vắng chiều tà,/ Giở thư, thấy chữ như là thấy nhau  (Bức thư nhà).


Đặc biệt, hai tác phẩm Thư gửi mẹ và Thư gửi thày mẹ của hai nhà thơ có nhiều điểm tương hợp rất lí thú. Trước hết là sự tương đồng về tiêu đề giữa Thư gửi mẹ (Esenin) và Thư gửi thày mẹ (Nguyễn Bính). Tiêu đề các bài thơ Thư gửi mẹ (Esenin) và Thư gửi thày mẹ (Nguyễn Bính) là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cũng cần nói thêm, trong thi ca hiện đại Việt Nam, chúng tôi thống kê được tới 7 bài thơ cùng có tên là “Thư gửi mẹ”, các bài thơ này đều ra đời sau bản dịch thơ Thư gửi mẹ của Esenin. Chúng tôi cũng đi sâu khảo sát nội dung của những bài thơ này nhưng không tìm kiếm được dấu hiệu của sự tương đồng khác, ngoài sự trùng hợp trong tiêu đề bài thơ. Tương đồng về lời hỏi thăm khi Esenin hỏi thăm ngay mẹ từ câu thơ đầu tiên “Mẹ có còn đó chăng, thưa mẹ?” còn Nguyễn Bính cũng không quên nhắn nhủ thày mẹ trong bài thơ của mình “Ở thư này, thày mẹ ơi/ Nhận cho con lấy vài lời kính thăm”.


Nhân vật trữ tình trong hai bài thơ đặc biệt giống nhau: họ đều là những người con trai xa nhà, phiêu bạt nhiều năm. Một người “Con đi mười mấy năm trời/ Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương”(Thư gửi thày mẹ) còn người kia cũng đã lâu lắm không về nhà: “Mẹ có còn đó chăng thưa mẹ/ Con vẫn còn đây xin chào mẹ của con” (Thư gửi mẹ). Người con trai ở Thư gửi thày mẹ ra đi với khát vọng thành danh “Con dan díu nợ giang hồ/ Một mai những tưởng cơ đồ làm nên” phảng phất “ước mơ”, “mộng đẹp” của người con trong Thư gửi mẹ của Esenin. Cả hai đều theo tiếng gọi của phồn hoa và đều hứng chịu cuộc sống cay đắng:


Ai ngờ ngày tháng lưu niên


Đã không gọi chút báo đền dưỡng sinh


Lại mang ân ái vào mình


Cái yêu làm tội làm tình cái thân


Bó tay như kẻ hàng thần


Chán chường như lũ tàn quân lìa thành


                                                                    (Thư gửi thày mẹ)


Cuộc sống bi kịch, đối mặt với thất bại được tái hiện rất rõ trong các cụm từ: “mười mấy năm trời”, “nửa đời gió sương”,  “không gọi chút báo đền dưỡng sinh”, “cái yêu làm tội làm tình cái thân”. Tâm trạng chán chường thất vọng với những cụm từ “người con hư”, “chán chường như lũ tàn quân lìa thành” cũng như những “sự mất mát”, “nỗi nhọc nhằn”, nỗi “buồn đau trĩu nặng” trong lòng người con trai trong thơ Esenin.


Đừng thức dậy những ước mơ đã mất/ Đừng gợi chi những mộng đẹp không thành/ Đời con nay đã thấm nỗi nhọc nhằn/ Đã sớm chịu bao điều mất mát (Thư gửi mẹ).                                                                      


Hiện tại, cả hai nhân vật trữ tình đang chìm trong bế tắc và đau khổ nhưng cả hai dường như đều cảm nhận được đôi mắt cha mẹ chờ mong đăm đắm, cảm nhận được nỗi lo âu khắc khoải ở quê nhà nên đều không muốn cha mẹ quá lo lắng cho mình:


Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương,/ Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi! (Thư gửi thày mẹ).


Hãy quên đi những lo âu, mẹ nhé!/ Đừng buồn phiền quá đỗi về con (Thư gửi mẹ).


 Lời hứa trở về của hai người con trai cùng bật lên sau sự sẻ chia về những nỗi buồn như một lời an ủi người thân “Xin thày mẹ cứ yên tâm/ Đừng thương nhớ, một vài năm con về” (Thư gửi thày mẹ) và “Con sẽ về khi vào độ xuân sang” (Thư gửi mẹ). Và thật lạ là, nhớ về gia đình cả hai đều nhớ về “vườn nhà”. Thơ Nguyễn Bính và Esenin nói chung rất giống nhau ở không gian vườn. Chu Văn Sơn đã phát hiện tinh tế khi nói Nguyễn Bính là nhà thơ nông thôn nhưng không gắn với “ruộng” mà gắn với “vườn” nhiều hơn[8]. Trong thơ Nguyễn Bính có vườn dâu, vườn trầu, vườn chè, vườn cam, vườn cải, vườn chanh, vườn nhà… Trong thơ Esenin, không gian vườn mang tính chất chuyển tiếp giữa không gian sinh hoạt và không gian thiên nhiên đồng quê. Không gian vườn ôm trọn trong vòng tay hào phóng của nó cái hiền hòa êm ả của nước Nga xanh. Không gian vườn còn thay màu đổi sắc: mùa xuân trắng cây cành nảy lộc, mùa thu thanh lương trà thắp lửa, mùa đông tuyết trắng phủ đầy. Trở lại bài thơ này, người con trai trong thơ Nguyễn Bính buồn bã xin cha mẹ “Thày ơi, đừng chặt vườn chè/ Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng” (Thư gửi thày mẹ) và người con trong thơ Esenin nhớ về nhà là nhớ vườn cây trắng một màu huyền diệu “Mảnh vườn ta trắng cây cành nảy lộc” (Thư gửi mẹ). Vườn là “nhà”, là gia đình, quê hương nên nhớ nhà là nhớ mảnh vườn xưa.


Đọng lại cuối bài thơ, là tình cảm tha thiết của những người con trai hướng về cha mẹ mình. Một người nói tiếng nói từ con tim mình: “Nhớ thương thầy mẹ khôn cùng/ Lạy thầy, lạy mẹ, thấu lòng cho con” (Thư gửi thày mẹ). Còn người kia khẳng định, với anh, mẹ là nguồn vui,  ánh sáng diệu kì, giúp con vững bước trên đường đời chông gai: “Chỉ mẹ là nguồn vui, ánh sáng diệu kỳ/ Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước” (Thư gửi mẹ).


Từ tâm trạng của các nhân vật trữ tình, có thể thấy các nhân vật trữ tình chính là hiện thân của hai nhà thơ và nhìn rộng ra toàn cảnh sự nghiệp sáng tác và cuộc đời của Nguyễn Bính và Esenin, có thể thấy sự giống nhau kì lạ về thân phận giữa hai nhà thơ Nga và Việt Nam cho dù họ không có bất kì một liên hệ nào. Từ những phân tích trên, có thể thấy hai tác phẩm Thư gửi mẹ và Thư gửi thày mẹ của hai nhà thơ là một sự tương đồng rất ngẫu nhiên và thú vị trong văn chương. [….]


Với khoảng cách xa xôi về địa lí, lại không có bất kì liên hệ nào (Esenin được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1962, trong khi Nguyễn Bính bắt đầu sáng tác từ giữa những năm 30 của thế kỉ XX) nhưng nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ Esenin có nhiều điểm gặp gỡ lí thú trong thế giới nghệ thuật.


ĐTAL.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


 







[1] Vương Trí Nhàn: “Thâm Tâm - Trần Huyền Trân - Nguyễn Bính”, Nguồn: http://vuongdangbi.blogspot.com.




[2] Phônhicôp I: “Sự trở lại của Nguyễn Bính” (Thụy Anh dịch), Văn nghệ, ngày 2 và 9/1/2010.




[3] Văn Tạo: “Nét tương đồng Việt Nga thể hiện qua thơ Nguyễn Bính và Esenin” (2010). Nguồn: http://www.baothanhhoa.vn




[4] Vũ Công Hảo: “S. Esenin (1995 - 1925)”, trong Giáo trình Văn học Nga thế kỉ XX. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2015, tr. 54-79.




[5] Nguyễn Đăng Điệp: “Giao thời văn học và sự trường cửu của giá trị/ căn tính dân tộc trên hành trình hiện đại: trường hợp Sergei Esenin và Nguyễn Bính”, Nghiên cứu văn học, số 4/2016, tr. 41.




[6] Nguyễn Đăng Điệp: Bđd., tr. 44.




[7] Hoài Thanh, Hoài Chân: “Nguyễn Bính”, trong Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 2016, tr.336-337.




[8] Chu Văn Sơn: “Nguyễn Bính”, trong Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb .Giáo dục, H., 2005, tr.138.


 




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »