tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
03.08.2018
Đào Thị Hải Thanh
Dấu vết Hán học trong thơ Nguyễn Bính: Trường hợp Hành phương Nam

 


Có lẽ bởi Chân quê là một trong những bài thơ nổi tiếng sớm nhất của Nguyễn Bính, đánh dấu bước chân đầu tiên gia nhập làng văn chương nên nó đã thành ấn tượng không thể quên mỗi khi người ta nghĩ đến ông. Huống chi, thơ Nguyễn Bính những bài hay nhất hầu hết là những thi phẩm viết bằng thể thơ lục bát, gợi lên được hồn cốt của làng quê, nói lên được tiếng nói tâm hồn của người dân quê với hình thức biểu hiện đậm tính dân gian, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Chẳng thế mà trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã xếp Nguyễn Bính vào dòng thơ “có tính cách Việt Nam rõ rệt” bên cạnh Lưu Trọng Lư, Phan Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương... và cho rằng thơ Nguyễn Bính là tiếng nói của “hồn xưa đất nước”[1]. Thậm chí, có người còn khẳng định Nguyễn Bính “là con người làm Văn - Nghệ duy nhất ở thời đó không chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Tây - Phương cũng như Đông - Phương. Bính làm thơ một mình và thừa hưởng cái kho tàng văn hóa Dân tộc qua các vần ca dao, qua nếp sống mộc mạc quê mùa”[2]. Nhưng nếu chỉ nhìn thấy gương mặt nhà quê, thấy tính cách thuần hậu chất phác của một thôn dân nơi Nguyễn Bính, kể cả khi người thôn dân ấy rời nhà quê ra thành thị thì e là vẫn chưa đủ. Không nói đến ảnh hưởng của thi pháp hiện đại của các trường phái thơ lãng mạn Pháp, dù ít dù nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã có tác động đến hồn thơ Nguyễn Bính như một điều tất yếu của thời đại, trong bài này, chúng tôi muốn tìm hiểu về dấu vết của văn hóa phương Đông, cụ thể là của thi ca cổ điển phương Đông trong thơ Nguyễn Bính với trường hợp tiêu biểu nhất là bài Hành phương Nam.


 


Nguyễn Bính sinh ra và lớn lên ở làng quê nhưng không phải gia đình thuần nông mà có cha là một nhà nho, cậu (anh trai mẹ) là Bùi Trình Khiêm cũng lại là một nhà nho. Khi mẹ mất, Nguyễn Bính được cậu đem về nuôi và dạy chữ Hán, từ những bài học đầu tiên trong Tam tự kinh cho đến nhiều năm về sau. Trong hồi ức của Bùi Hạnh Cẩn - anh họ và cũng là bạn học thuở nhỏ của Nguyễn Bính, thi nhân là người có tư chất thông minh, óc quan sát tinh tế, học một biết mười, được thầy và bạn bè đánh giá cao. Làm quen với sách vở Nho học từ nhỏ, dẫu không theo trường lớp chính quy nào, vốn kiến thức Nho học tích lũy được cũng chẳng có dịp để thi thố đặng trở thành Trạng nguyên, Thám hoa, được vinh quy về làng như mong ước nhưng những năm tháng ấy cũng đủ để trở thành một nguồn mạch nuôi dưỡng hồn thơ Nguyễn Bính, bên cạnh dòng chính là văn hóa văn học dân gian. Bởi vậy, trong những sáng tác của Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bên cạnh những vần thơ hương đồng gió nội, đậm hơi thở ca dao dân ca vẫn còn có những bài viết theo lối cổ, mang dấu vết của văn chương bác học. Dấu vết ấy càng về sau càng rõ nét.


 


Trong bảy tập thơ, từ Lỡ bước sang ngang (1940) cho đến Mây Tần (1942) và một số bài thơ lẻ in trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta đều thấy có sự hiện diện của dấu vết thi pháp cổ điển, chỉ có điều mức độ đậm nhạt khác nhau. Gần 300 bài thơ in trong Nguyễn Bính toàn tập, ngoại trừ vài bài viết theo thể hát nói, ngũ ngôn thì hầu hết được làm theo thể lục bát hoặc thất ngôn, trong đó, thơ thất ngôn nhỉnh hơn một chút về số lượng (136 bài thất ngôn, 124 bài lục bát). Bên cạnh những tan vỡ, dang dở trong tình duyên, mặc cảm của một thân phận lỡ dở, đa phần các bài đều xoay quanh niềm hoài hương, hoài cổ, tình cảm với bạn hữu... vốn quen thuộc trong thơ cổ Trung Hoa và Việt Nam.


 


Trong việc sử dụng thi liệu, nếu như Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi chủ yếu dùng những hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân ca: vườn dâu, ao bèo, tơ vàng, bướm vàng... thì đến Mười hai bến nước, Mây Tần và nhất là những bài thơ lẻ viết khoảng năm 1941 - 1944, rất nhiều những thi liệu cổ điển trở đi trở lại như một sự ám ảnh, gợi lại không khí của một thời đã xa với những quan Trạng vinh quy, ngựa tía võng điều, công chúa thả tú cầu... khi nói chuyện đôi lứa, tiếng vó ngựa dồn, tên lính ngoài biên cương, đan áo rét... lúc nhắc đến cảnh lưu lạc, tha hương. Cũng có khi ta gặp những câu thơ tả cảnh mang tính công thức đến sáo mòn: chiều hè nhạt bóng dương, thu vàng lá rụng, đông đến trận mưa sương...


 


Một trong những đặc trưng của thi pháp thi ca trung đại là việc dùng điển cố để làm tăng tính hàm súc của câu thơ, khiến thơ ý tại ngôn ngoại, gợi mở, kích thích trí tưởng tượng của người đọc. Nguyễn Bính dùng điển cố khá nhiều trong những sáng tác của mình, chiều hướng tăng dần theo thời gian. Trong hai tập thơ đầu tay, chỉ có đôi ba bài dùng điển (Đêm cuối cùng, Nhớ... riêng bài Viếng hồn trinh nữ trích đôi câu thơ cổ) thì càng về sau, tỉ lệ các bài có dùng điển cố càng tăng dần. Ở Hương cố nhân là 4/31 bài (13%), Một nghìn cửa sổ là 5/43 (11,6%), Người con gái ở lầu hoa là 6/27 (22%), sang đến Mười hai bến nước, tỉ lệ đã là 6/14 (42,8%), và Mây Tần là 9/28 (32%)... Không những vậy, xét trên tương quan thể loại, những bài thất ngôn dùng điển cố nhiều hơn những bài lục bát (tỉ lệ trên dưới 60 - 40 trong mỗi tập). Những điển cố mà Nguyễn Bính dùng có khi rất quen thuộc (Ngưu Lang - Chức Nữ, Tây Thi, Huyền Trân về Chiêm quốc, Lưu Nguyễn lạc Đào Nguyên, Chiêu Quân cống Hồ, Hàn Tín, Kinh Kha, Đào Uyên Minh, Chung Tử - Bá Nha, thanh nhãn...) cũng có những điển ít người biết (phá phủ trầm chu, mái tóc quá quan thay màu ...). Những điển cố ấy, chỉ có số ít là của ta (oan Thị Kính, Huyền Trân) còn hầu hết đều có xuất xứ từ văn học Trung Hoa; hoặc giúp bộc lộ nỗi buồn bởi tình duyên lỡ làng, hoặc gợi mặc cảm về sự dở dang, không thành trên con đường gây dựng công danh sự nghiệp.


 


Từ đó có thể thấy, ảnh hưởng quan trọng của văn học cổ điển với hồn thơ Nguyễn Bính. Dấu vết ảnh hưởng đó xuất hiện mờ nhạt ở giai đoạn đầu nhưng càng về sau càng rõ nét. Đến Hành phương Nam, sự xuất hiện của những yếu tố ấy trở nên đậm đặc hơn khi chất hương đồng gió nội dường như lui hẳn về sau, nhường chỗ cho chất cổ điển “bác học”; có lẽ bởi bài thơ này gắn với một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời thi nhân: vào Nam.


 


Bài thơ đề rõ là viết tại Đa Kao (Sài Gòn) năm 1943 - những năm tháng đầu tiên của chuyến hành trình tới tận phương Nam xa xôi theo lời mời của một người bạn - chuyến đi kéo dài tới hơn một thập kỉ. Dẫu đã quen với việc tha hương từ độ niên thiếu (những năm 1932, 1933 đã rời quê lên Hà Nội, rồi theo bạn lên Thái Nguyên dạy học...) nhưng đây vẫn là chuyến đi xa nhất - hơn một ngàn cây số, cũng là chuyến đi dài nhất - kéo dài hơn một thập kỉ trong cuộc đời Nguyễn Bính.


 


Bài thơ làm theo thể hành với lối thơ thất ngôn trường thiên độc vận. Hành là một trong những thể thơ cổ (cổ thi), cách luật tương đối tự do, phù hợp cho nhu cầu phu diễn. Đặc điểm ấy vừa hay lại có sự trùng hợp với chất tự sự, kể lể vốn có trong thơ Nguyễn Bính. Chỉ có điều Hành phương Nam không hẳn là một câu chuyện - có mở, có kết với hàng loạt những sự kiện như rất nhiều những bài thơ thường thấy của Nguyễn Bính mà nó chỉ như một lát cắt, ghi lại cảnh ngộ, tâm trạng của thi nhân trong những ngày lưu lạc chốn giang hồ - nghĩa là tâm sự rất đỗi hiện đại, rất đỗi hợp thời.


 


Không gian của Hành phương Nam - đúng như nhan đề - là trời Nam, cách thôn Vân quê mẹ của tác giả cả ngàn cây số. Đó là không gian đất khách, là xứ người, là nơi xa lạ, đầy hứa hẹn và thử thách, gợi nhớ đến không gian trời bể bốn phương mà người anh hùng Từ Hải khao khát chinh phục trong Truyện Kiều. Giữa cái nền ấy, nhân vật trữ tình xuất hiện trực tiếp, tự xưng đầy ngạo nghễ: “ta”, nhưng không phải một mình mà có người bạn đồng hành: ta với ngươi. Suốt cả bài thơ, hình ảnh nhân vật trữ tình ấy luôn gợi liên tưởng tới hình ảnh những tráng sĩ, những đấng quân tử với hùng tâm tráng chí, khát vọng tung hoành bốn phương:


 


- Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã


 


- Ta trói thân vào nợ nước mây


 


Ý thức hệ phong kiến coi trọng vai trò trách nhiệm của đấng nam nhi trong cuộc đời. Không chỉ là sứ mệnh được diễn đạt thành công thức quen thuộc: tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ mà nó đã trở thành ý thức trách nhiệm xuất phát từ chính bản thân mỗi kẻ sinh ra với phận trai trong cuộc đời. Trong thơ Nguyễn Bính, quan niệm về chí nam nhi ấy được gọi tên thành nợ nước mây (gánh nặng phải trả của kẻ làm trai với non sông, đất nước, với thời cuộc) - đối lập với vòng cơm áo (sự kiềm tỏa của những lo toan đời sống thường ngày) cùng sự chủ động của nhân vật trữ tình: ta trói thân vào. Cách gọi nợ nước mây gợi nhớ đến món nợ công danh trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão từ hàng ngàn năm trước:


 


Nam nhi vị liễu công danh trái


 


Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.


 


(Thuật hoài)


 


Hay nợ tang bồng trong thơ Nguyễn Công Trứ hồi thế kỉ XIX:


 


Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc/ Nợ tang bồng vay giả giả vay/ Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể (Chí làm trai).


 


Thậm chí, đến đầu thế kỉ XX, nhà yêu nước Phan Bội Châu vẫn còn trăn trở trước khi xuất dương tính chuyện Đông du:


 


Sinh vi nam tử yếu hi kì.


 


(Xuất dương lưu biệt)


 


Dù cách diễn đạt khác đi nhưng ta có thể nợ nước mây trong thơ Nguyễn Bính có sự nối tiếp quan niệm về công danh trái, nợ tang bồng, về sứ mệnh của kẻ sinh vi nam tử yếu hi kì trong thơ ca trung đại. Nó đã thành một món nợ - mà nợ ắt phải trả chứ không đơn thuần là sự đánh giá, nhìn nhận về sự làm trai như trong ca dao. Nó trở thành động lực để con người ấy hăm hở lên đường với một lời thề trang trọng:


 


Há rằng uổng một đời trai


 


Chẳng ban áo gấm cũng mài trăng khuya.


 


                                                           (Nam Kỳ cũng gió cùng mưa)


 


Dẫu cho hình ảnh người tráng sĩ ở đây có phảng phất bóng dáng của Don Quixote với giày cỏ gươm cùn ta đi đây thì hàng loạt những điển cố về Nhiếp Chính, Kinh Kha, Mạnh Thường Quân - những anh hùng hiệp khách nổi tiếng thời trước đã cho thấy quyết tâm, tinh thần tự nhiệm, khát vọng làm nên công danh sự nghiệp, lưu danh hậu thế. Đó là khát vọng của Nguyễn Bính trong tâm thế của một con nhà nho cũ, của người chịu ảnh hưởng của nền giáo dục xưa cũ với ý thức hệ Nho giáo một thời.


 


Chất tráng chí còn thể hiện ở thái độ khinh bạc, ngạo nghễ trước những ngang trái, thất vọng trên đường đời. Đó không chỉ là hành động cười qua chén rượu đầy mà còn là cái nhìn coi Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ để rồi dằn chén hất cao đầu cỏ dại. Lời thơ đậm chất hào sảng, khí phách, có thêm sự u uất, cay đắng dồn nén chứ không phải giọng than thở não nề như thường thấy trong thơ tình Nguyễn Bính. Rõ ràng ở góc độ này, nhân vật trữ tình phảng phất hình ảnh của “lớp thi sĩ phương Đông bị lưu đầy như Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha… hay những vị trích tiên như Lý Bạch, Tản Đà…”[3]. Phải chăng vì thế có người đã gọi ông là “người tráng sĩ cuối cùng của thơ Việt” và xếp ông vào “dòng thơ bi tráng của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, chứ không phải dòng thơ điền viên của Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân”[4].


 


Về phương diện ngôn ngữ, Hành phương Nam có thể xem là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất ảnh hưởng của thi pháp thơ ca trung đại đối với thơ Nguyễn Bính khi không dùng những lời quê mùa, mộc mạc, chân chất, không dùng những ví von thường thấy trong ca dao, dân ca mà sử dụng khá nhiều, khá trau chuốt những từ Hán Việt và điển tích điển cố. Trong Hành phương Nam, có tới 4 lần Nguyễn Bính sử dụng điển cố: điển cố về Tư Mã Tương Như (với lời thề khắc trên thành cầu và áo khinh cừu), điển cố về Nhiếp Chính (trả thù giúp ân nhân, sau đó rạch mặt để khỏi liên lụy tới người thân), điển cố về Kinh Kha (sự trọng đãi của thái tử Đan với chàng trước lúc lên đường hành thích Tần Thủy Hoàng), điển cố về ấp Tiết (Phùng Huyên đốt văn tự ghi nợ của dân ấp Tiết chúng để mua lấy nhân nghĩa cho Mạnh Thường quân). Những điển cố ấy đều có xuất xứ từ sử sách Trung Hoa và rất đỗi quen thuộc với các nhà nho xứ ta. Nhắc đến những nhân vật anh hùng tài danh nhưng cuộc đời nhiều gian truân, chìm nổi, thậm chí phải bỏ mạng, sự nghiệp không thành có thể xem như là cách để Nguyễn Bính nói về giấc mơ công hầu dang dở của mình. Ngoài ra, hình ảnh mây trắng bay (gợi điển mây Tần, chỉ niềm nhớ cố hương), thế nhân mắt trắng như ngân nhũ (gợi điển bạch nhãn gắn với Nguyễn Tịch thời Tấn, chỉ nỗi thất vọng khi thấy người đời lắm kẻ tầm thường, thực dụng) cùng những từ Hán Việt, những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ (tâm giao, ly tán, đã dấy phong yên, thế nhân, ngân nhũ...) cũng góp phần mang đến cho bài thơ không khí u hoài, cổ kính.


 


Cùng với dấu vết Hán học không thể nào chối cãi ấy, thi nhân về căn bản vẫn là con người của thời đại mới, căn bản vẫn mang nỗi xao xác của người đang băn khoăn trước sự đổi thay của thời cuộc. Cùng với cái hùng tâm tráng chí mà thi sĩ đã tuyên bố rất rõ ràng ấy, ta vẫn thấy chuyến đi của Nguyễn Bính lần này cũng không tránh khỏi tính chất giang hồ tùy hứng, “đi để mà đi” giống như bao người trẻ còn đương hoang mang, loay hoay bấy giờ. Sự chuyển dịch của Nguyễn Bính giống như một sự chạy trốn - chạy trốn khỏi thực tại đầy những đắng cay, trái ngang để tìm đến một không gian mới, một tương lai mới. Thực tại thôi thúc con người ta ra đi “Nhưng đi đâu? Lên đường để làm gì? Thật mơ hồ chẳng ai rõ (...). Nguyễn Bính cũng không khỏi nằm trong thông lệ này”[5]. Những chuyến đi trước, dù nhiều cũng chỉ loanh quanh mấy tỉnh phía Bắc, xa hơn thì vào đến Huế. Duy có chuyến này là đi xa nhất, và sau này, không ai ngờ sẽ là chuyến đi dài nhất trong cuộc đời Nguyễn Bính. Nhưng dù lâu hay chóng, gần hay xa, những chuyến đi ấy “như được dẫn dắt bởi một định mệnh khắc bạc nào đó. Giang hồ của Nguyễn Bính là sự trôi dạt vô định, thiếu vắng cả niềm tự hào của một lãng tử…”[6] là giang hồ một nửa thôi/ Giang hồ qua quýt thế cho vui. Nhưng đến ngay cả niềm vui được đi cũng chưa thấy, thi nhân bỗng nhận ra phận mình là kẻ lưu lạc:


 


Đôi ta lưu lạc phương Nam này/ Trải mấy mùa qua én nhạn bay/ Xuân đến khắp trời hoa rượu nở/ Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.


 


Bởi đặt trong tâm thế của kẻ lưu lạc, lại đặt giữa không gian xứ người, trong thời điểm xuân đến nên cũng không có gì là khó hiểu khi con người ngạo nghễ, kiêu bạc kia lại trở về với nỗi mặc cảm tha hương vốn là một dấu hiệu đặc trưng trong thơ Nguyễn Bính. Dù chính thi nhân đã từng tuyên bố: Sống là sống để mà đi (Nửa đêm nghe tiếng còi tàu) nhưng mỗi nước đi lại một lần ngoái lại phía sau để hướng về thôn Vân yêu dấu. Ở tận trời Nam, làm sao thấy được? Thế nên:


 


 Quê nhà xa lắc xa lơ đó/  Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.


 


Cái tôi ấy bỗng trở nên hoang mang, chống chếnh vì đã mất đi điểm tựa tinh thần vững chắc là quê nhà. Không những thế, nó còn mang thêm gánh nặng của nỗi mặc cảm đơn côi khi đôi ta đã trở thành ta với ngươi và cuối cùng là người sang bên ấy/ nhịp trúc ta về. Tha hương cộng hưởng với sự cô đơn, vậy là gần như đủ hết bi kịch của lớp thanh niên đương thời.


 


Nội tâm tương phản hoàn toàn với ngoại cảnh, bên ngoài khắp trời hoa rượu nở nhưng trong lòng thì buồn vậy thay. Sự tương phản ấy dẫn theo hàng chuỗi những mâu thuẫn đối lập móc nối, giằng díu lấy nhau đẩy bi kịch tinh thần của thi sĩ giang hồ lên đến đỉnh điểm: muốn như Tư Mã Tương Như đề cầu Thăng Tiên nhưng lại chẳng thành danh để được ban áo khinh cừu; muốn trả nợ nước mây nhưng nợ tình chưa trả mà sòng đời thua đến trắng hai tay; có bạn tâm giao thì lại ly tán vì cơn gió bụi; lòng thì buồn lắm mà vẫn cười qua chén rượu đầy; muốn như Nhiếp Chính vì nghĩa vong thân lại lo không ai khóc nhận thây; ước được như Kinh Kha làm kiếm khách qua sông Dịch lại ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay; sẵn sàng ra đi như Phùng Huyên với hành trang chỉ có giày cỏ gươm cùn nhưng ngay lập tức lại hoang mang, mất phương hướng: biết về đâu chứ?; rượu say gọi thế nhân nhưng thế nhân mắt trắng như ngân nhũ... Rõ ràng, ra đi là để giải thoát khỏi những cay đắng, những ngang trái của cuộc sống hiện tại nhưng sao càng lúc, thi nhân càng thấm thía hơn thân phận của kẻ thất bại giữa dòng đời đen bạc. Giọng điệu thơ cũng theo đó mà chuyển sang ngậm ngùi, bất mãn, bất cần: “Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ/ Cốt nhất làm sao tự buổi nay”, thậm chí là đay đả: “Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay”. Và cuối cùng là buông xuôi đầy chán nản trước sự lạnh lẽo của tình đời: “Người sang bên ấy sao mà lạnh/ Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi”.


 


Có người đã so sánh Hành phương Nam với bài Tống biệt hành của Thâm Tâm để khẳng định rằng bài hành của Nguyễn Bính xuất sắc không kém gì Tống biệt hành. Hai nhà thơ cùng trưởng thành trong một thời kì, lại chơi khá thân với nhau, không rõ có ai chịu ảnh hưởng của ai lại cùng nhau tìm về một thể thơ cổ để dốc bầu tâm sự. Nhưng nếu như nhân vật trữ tình trong thơ Thâm Tâm có dáng vẻ của người tráng sĩ hơn khi dứt khoát, quyết tâm từ bỏ tất cả vì nghiệp lớn thì nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính đầy những lưu luyến nhớ thương. Một bên là bắt đầu cuộc hành trình, bên kia là đã dấn thân qua mấy mùa én nhạn bay. Một bên “Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc”[7], cả bài thơ ngắn gọn hàm súc, bên kia là kể lể, tâm sự, đôi khi hơi dài dòng, lời thơ có chút hào sảng nhưng chủ đạo vẫn là buồn. Giữa thời đại cả lớp người trẻ còn đang ủ ê, hoang mang, cần phải xốc lại tinh thần thì Tống biệt hành được xem như một tiếng hô vang quyết tâm, quyết chí, thức tỉnh cả một thế hệ, còn Hành phương Nam chỉ là tâm sự riêng, hoàn cảnh riêng của Nguyễn Bính. Nhưng giờ đây, ta lại thấy Hành phương Nam phần nào đó cũng là tiếng lòng cay đắng, là bi kịch của biết bao người, đâu chỉ riêng mình thi nhân?


 


Ngôn ngữ thơ trong bài Hành phương Nam tiến gần hơn với thời đại Thơ mới - khi văn xuôi tràn vào địa hạt của thơ. Những câu thơ trong Hành phương Nam không bị cơi nới về mặt hình thức, vẫn đảm bảo thể thất ngôn trường thiên nhưng dung lượng thông tin, tình cảm trong mỗi câu thơ đã nhẹ bớt đi. Thay vì dồn nén, nó được trải tràn ra, đôi ba dòng mới hết một ý thơ: “Xuân đến khắp trời hoa rượu nở/ Mà ta với người buồn vậy thay/ Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu/ Mà không uống cạn mà không say/ Người ơi buồn lắm mà không khóc/ Mà vẫn cười qua chén rượu đầy”... Cùng với đó là việc nhà thơ sử dụng rất nhiều từ “thừa” và lối diễn đạt mang hơi hướng của ngôn ngữ sinh hoạt: vậy thay, sá gì, ai biết, xa lắc xa lơ, tha hồ, này, vẫn, mà... nhất là từ mà. Đếm kĩ, trong bài cả thảy Nguyễn Bính dùng tới 8 lần chữ mà, chủ yếu với nghĩa liên từ chỉ sự đối lập. Lối dùng chữ ấy đã lột tả được tâm trạng hoang mang, nỗi niềm mặc cảm về sự lỡ dở của chính thi nhân.


 


Như vậy, có thể nói Hành phương Nam là một trường hợp đặc biệt - không chỉ vì nó đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời mà còn bởi nó có thể được xem như là một dấu mốc để xác định sự những biến chuyển trong con đường thơ Nguyễn Bính. Những vần thơ chân quê, mộc mạc, giản dị lùi về sau, nhường chỗ cho chất cổ điển, cách nói ví von, đưa đẩy, những ca dao tục ngữ, lối nói của người quê càng về sau càng ít hơn để nhường chỗ cho những điển tích điển cố... Và nếu lấy năm 1943 - thời điểm vào Nam để làm mốc, ta có thể dễ dàng nhận thấy, từ 1943 trở về trước, Nguyễn Bính viết rất sung sức, chỉ năm, sáu năm mà đã in tới bảy tập thơ, tập nào cũng có những bài hay, được đánh giá cao, được thuộc lòng, ngâm nga... Nhưng từ 1943 trở về sau, chỉ có giai đoạn đầu thi sĩ còn viết nhiều thơ, đến năm sau đã thưa thớt hẳn và mãi đến sau khi Cách mạng thành công năm 1947 mới có thêm Ông lão mài gươm... Khi ấy ánh hào quang trong lãnh địa thơ ca của Nguyễn Bính cũng không còn như trước.


 


Dấu ấn của Hán học đối với thơ Nguyễn Bính xét đến cùng là hệ quả của một quá trình lâu dài tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn hóa văn học Trung Hoa, đó là dấu ấn của cả một thời đại với cả một thế hệ thi sĩ. Sau hàng ngàn năm, nhiều điều đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ, trở nên tự nhiên như hơi thở thì đâu dễ gì xóa bỏ sạch sẽ ngay một lúc. Nguyễn Bính tưởng chừng như đã chọn được ngay từ buổi đầu lối đi cho riêng mình, về sau lại quay lại mà đứng phân vân giữa ngã ba đường. Điều đó xảy ra có lẽ còn bởi tác động từ những biến động trong cuộc đời thi nhân. Mới đầu, chỉ là anh chàng thôn dân gắn bó với mảnh đất nhỏ bé, yên bình với thiên nhiên thơ mộng, con người hồn hậu, thơ Nguyễn Bính như con diều được gió, thỏa sức bay liệng. Nhưng sau này, khi bắt đầu nghiệp giang hồ, bứt rễ khỏi đất quê, hồn thơ ấy hẳn cũng không tránh khỏi sự chông chênh. Càng đi nhiều, càng tiếp xúc với cát bụi thị thành, càng nếm trải thêm nhiều cay đắng trên hành trình từ Bắc chí Nam thì càng lúc thi nhân càng thấm thía bi kịch tinh thần của kẻ lớn lên trong buổi giao thời. Thế nên, quay trở về với dòng mạch cổ điển, có thêm những thử nghiệm táo bạo với truyện thơ, với tiểu thuyết... cũng là một cách để tìm lối thoát cho những bế tắc. Chính từ thời điểm này về sau, thi nhân chuyển sang viết truyện thơ Cô gái Ba Tư (1943), Cây đàn tỳ bà (1944)... Cũng có nhiều ý kiến bình luận khen chê về những tác phẩm này, nhưng về căn bản, không nhiều người đọc, cũng ít người vì yêu mà thuộc vài đoạn. Ta vẫn nhớ đến Nguyễn Bính nhiều hơn với tư cách một nhà thơ, một “thiên tài lỡ dở”[8]...


 


Đời Nguyễn Bính là sự hội tụ của đầy đủ những bi kịch trong cuộc đời của một con người: mồ côi từ nhỏ, tình duyên lỡ làng, công danh không thành. Bên cạnh hình ảnh của một thôn dân đang đang loay hoay trước cơn gió bụi thị thành còn thấp thoáng bóng dáng của một nho sinh, còn rơi rớt cái chua chát đắng cay của cả một lớp người cũ vào cái buổi tàn của Nho học. Bên cạnh những vần thơ hương đồng gió nội, đậm hơi thở ca dao dân ca vẫn còn có những bài viết theo lối cổ, mang dấu vết của văn chương bác học. Thơ Nguyễn Bính vì thế luôn thường trực những mặc cảm: ám ảnh tha hương vì đã rời bỏ quê hương theo tiếng gọi của thị thành; cô đơn vì tình duyên chỉ toàn đơn phương hoặc lỡ dở; chán nản tự ti vì giấc mộng quan trạng không thành mà giang hồ khắp chốn vẫn không thành nghiệp lớn. “Chính Nguyễn Bính, chứ không phải ai khác, mới là nhà Thơ mới mang đầy đủ tấn bi kịch của thời đại mình - một tâm trạng bất đắc chí mênh mông dằng dặc”[9]. Nhưng cũng chính bi kịch ấy, tâm trạng bất đắc chí mênh mông ấy lại là điểm nhận diện hồn thơ Nguyễn Bính, khiến thơ Nguyễn Bính còn ám ảnh mãi, cũng có nghĩa là Nguyễn Bính còn sống mãi với chúng ta.


 


ĐTHT.


 


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


 


www.trieuxuan.info


 







[1] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam (tái bản năm 2016). Nxb. Văn học, H., 2016, tr. 31, 32, 339.




[2] Tạ Tỵ: Mười khuôn mặt văn nghệ, dẫn theo Trần Hoài Anh: “Nguyễn Bính trong sự tiếp nhận của lý luận phê bình văn học ở miền Nam trước 1975”, http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c325/n18952/Nguyen-Binh-trong-su-tiep-nhan-cua-ly-luan-phe-binh-van-hoc-o-mien-Nam-truoc-1975.html




[3] Vương Trí Nhàn: “Đường về chân quê của Nguyễn Bính”, trong Hoài Việt (sưu tầm và biên soạn): Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương. Nxb. Hội Nhà văn, H., 1992.




[4] Hoài Anh: “Nguyễn Bính - người tráng sĩ cuối cùng của thơ Việt”, trong Nguyễn Bính toàn tập, tập 1. Nxb. Hội Nhà văn, H., 2017.




1 Hoàng Tấn: Nguyễn Bính: Một vì sao sáng (hồi kí văn học). Nxb. Đồng Nai, 1999.




[6] Vương Trí Nhàn: “Đường về chân quê của Nguyễn Bính”, trong Sđd.


 




[7] Hoài Thanh, Hoài Chân: Sđd., tr. 273.




[8] Tạ Tỵ: Sđd.




[9] Chu Văn Sơn: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb. Giáo dục, H., 2007, tr. 144.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »