‘Phản tiểu thuyết’ là thuật ngữ có nguồn gốc từ khái niệm ‘Antiroman’ trong tiếng Pháp, tương ứng với thuật ngữ ‘Antinovel’ (Anh), ‘Antinovela’ (Tây Ban Nha) hay ‘Antiromanzo’ (tiếng Ý)...
Dictionary.com định nghĩa: Phản tiểu thuyết là "một tác phẩm văn chương trong đó tác giả từ chối sử dụng các yếu tố truyền thống của cấu trúc tiểu thuyết, đặc biệt là trong việc phát triển cốt truyện và nhân vật (a literary work in which the author rejects the use of traditional elements of novel structure, especially in regard to development of plot and character). Nói cách khác, 'Phản tiểu thuyết là bất kỳ tác phẩm hư-cấu -thể-nghiệm nào tránh xa các quy ước quen thuộc của tiểu thuyết, thay vào đó nó thiết lập những quy ước riêng' (An antinovel is any experimental work of fiction that avoids the familiar conventions of the novel, and instead establishes its own conventions - Wikipedia).
Trong phần giới thiệu tác phẩm Portrait d’un inconnu (Chân dung người lạ, 1948) của nữ văn sĩ Pháp Nathalie Sarraute, triết gia Jean-Paul Sartre đã từng sử dụng thuật ngữ ‘Antiroman’ với nghĩa hiện nay, còn người đầu tiên sử dụng từ này là nhà văn Pháp Charles Sorel, năm 1633 ông đã sử dụng
Antiroman’ để mô tả bản chất giễu nhại của quyển tiểu thuyết Le Berger extravagant của ông.
Các tác phẩm phản tiểu thuyết có khuynh hướng phân mảnh, làm biến dạng sự trải nghiệm của các nhân vật, trình bày các sự kiện bên ngoài thời gian, cố gắng phá vỡ ý tưởng của các nhân vật có tính cách thống nhất và ổn định. Một số tính năng chính của phản tiểu thuyết là không có cốt truyện rõ ràng, phát triển nhân vật một cách tối thiểu, thay đổi trình tự thời gian, thể nghiệm từ vựng và cú pháp, có thể thay thế lẫn nhau giữa sự khởi đầu và kết thúc. Tính chất đặc biệt của thể loại này là có những trang sách có thể trống trơ hoặc tháo rời, có những hình vẽ và chữ tượng hình.
Phản tiểu thuyết là yếu tố được áp dụng phổ biến trong phong trào Tiểu thuyết mới (Nouveau roman) ở Pháp khoảng từ năm 1950 đến 1970, tuy nhiên những đặc điểm tương tự có thể được tìm thấy trong lịch sử văn học. Thí dụ trong quyển Tristram Shandy (1) của nhà văn Ailen Laurence Sterne, một quyển tiểu thuyết khôi hài, dường như có tính tự truyện, chuyển tải loại siêu hư cấu “poioumenon” khiến nhân vật thoát khỏi tuyến tính thời gian. Và đâu đó tính chất phản tiểu thuyết còn được tìm thấy trong quyển Don Quixote (2) của Miguel de Cervantes, một tiểu thuyết đậm chất hiện thực huyền ảo.
Những thập niên sau thế chiến thứ hai, Phản tiểu thuyết dần trở nên quan trọng, nổi bật như một yếu tố văn chương, cho thấy "một biểu hiện của chủ nghĩa hư vô lấp đầy khoảng trống, được tạo ra bởi sự hủy bỏ những mệnh lệnh tích cực đối với cuộc sống” . "Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, đặc điểm nổi bật của Phản tiểu thuyết là thu hút sự chú ý, tự phản chiếu và chống sao chép đối với tính hư cấu của chính nó, một yếu tố có tính chất phản hiện thực. Nghịch lý thay, thuyết chống quy ước như thế (such anti-conventionalism) cuối cùng sẽ hình thành một quy ước đặc biệt của riêng nó" (3).
VTH
__
(1): nhan đề đầy đủ là The Life and Opinions of Tristram Shandy, Gentleman.
(2): nguyên tác tiếng Tây Ban Nha: El ingenioso hidalgo don Quijote de la Mancha; bản dịch tiếng Việt: Đông-Ki-Sốt, nhà hiệp sĩ quý tộc tài ba xứ Mancha).
(3): Theo Postmodernity, Ethics and the Novel (p. 92) by Andrew Gibson (2002) và The Columbia Dictionary of Modern Literary and Cultural Criticism (p. 57) by Joseph Childers (1995).
Ảnh: Triết gia Jean-Paul Sartre là người tạo ra thuật ngữ "Antiroman". (Jean-Paul Sartre est le créateur du terme « antiroman » - Wikipédia).
Facebook Vương Trung Hiếu ngày 21-10-2019
|