tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
12.03.2020
Vương Trung Hiếu
Đừng cố tình áp đặt phương ngữ Nam Bộ vào Truyện Kiều!


Thời gian gần đây ông An Chi (AC) trình làng quyển Truyện Kiều bản Duy Minh Thị 1872 (Nxb TH TPHCM), trong phần lời nói đầu ông cho biết: ‘Quyển sách này ra đời là để thảo luận với quyển Tư liệu Truyện Kiều – Bản Duy Minh Thị 1872 của Nguyễn Tài Cẩn và quyển Truyện Kiều – Bản Nôm Duy Minh Thị của Nguyễn Quảng Tuân’. Và điều này ông đã thể hiện qua bài Lắt léo chữ nghĩa: 'Truyện Kiều' bản Duy Minh Thị 1872 và phương ngữ Nam bộ (báo Thanh Niên, 16/02/2020) (1), trong đó ông viết: ‘Bản Duy Minh Thị 1872 của Truyện Kiều có những chỗ thuộc từ ngữ, cách nói của Nam kỳ mà vì không nắm vững nên hai nhà Kiều học hàng đầu của ta là Nguyễn Tài Cẩn và Nguyễn Quảng Tuân đã phạm sai lầm khi phiên âm’. Sau khi đọc bài này chúng tôi thấy người ‘phạm sai lầm khi phiên âm’ lại chính là ông AC, trong bài có 10 mục từ thì ông đã sai hết 6 mục từ. Song trước khi chứng minh những cái sai ấy, chúng tôi mời bạn đọc tìm hiểu sơ lược về Duy Minh Thị và bản Kiều 1872.


Có tài liệu cho rằng Duy Minh Thị tên thật là Trần Quang Quang, nguyên quán huyện Duy Minh (thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay), từng có thời gian sống ở vùng Gia Định và có thể là người Minh Hương. Bản Kiều 1872 do ông trùng san được in ở Trung Quốc, phổ biến chủ yếu ở miền nam. Về sau Truyện Kiều bản Duy Minh Thị 1872 còn được tái bản 3 lần: ‘ Bảo Hoa các (1879), Văn Nguyên đường (1879) và Thiên Bảo lâu (1891). Các lần tái bản sau đều khắc đúng như bản in lần thứ nhất’ (theo Nguyễn Tài Cẩn).


Có lẽ từ những dữ kiện trên nên ông AC cho rằng ‘bản Duy Minh Thị 1872 của Truyện Kiều có những chỗ thuộc từ ngữ, cách nói của Nam kỳ’ để rồi suy diễn dẫn tới... ‘phạm sai lầm’. Chúng tôi sử dụng những dẫn chứng chủ yếu từ 5 bản Truyện Kiều của Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (2) để phản biện quan điểm của ông AC.


Để tiện theo dõi bài, mời bạn đọc xem qui ước của ông AC: ‘c. là câu, TL là thảo luận, NTC là Nguyễn Tài Cẩn, NQT là Nguyễn Quảng Tuân, HTC là Huình-Tịnh Paulus Của’.


Chúng tôi trích nguyên văn từng mục từ của ông AC để tiện trao đổi.


AC: Áng bất bằng, c.1635. - NTC, NQT: Án bất bằng. TL: Viết án [] nhưng đọc áng vì đây là chữ Nôm miền Nam. Đây là một từ cổ, như trong áng can qua, áng công danh, áng đao binh... Chữ áng ở đây tương đương với chữ nỗi trong nỗi bất bằng của nhiều bản khác.


VTH (Vương Trung Hiếu): Đây là sự suy diễn hết sức võ đoán của ông AC, không thể cho rằng viết án [] rồi đọc áng để qui kết đây là chữ Nôm miền nam như trong áng can qua, áng công danh…, bởi vì trong chữ Nôm, ‘án’ được viết là (bộ thủ ) hoàn toàn khác chữ ‘áng’ (bộ mãnh ) như trong ‘áng can qua’/盎干戈 (câu 2941 trong bản Kiều 1870,1902); áng công danh/盎功名 (trong bài Tự thán/自歎 của Nguyễn Trãi).


AC: Bạt lụy, c.909. - NTC, NQT: gạt lệ. TL: Nôm ghi hẳn hoi là bạt lụy [拔淚]. Bạt lụy là “chùi lau nước mắt” (HTC). Xin chú ý đây là hai chữ/tiếng có thật trong phương ngữ Nam bộ, không thể đổi thành gạt lệ.


VTH: Trên thực tế thì bạt lụy [拔淚] là từ Hán Việt, có nguồn gốc từ Hán ngữ, được chuyển thành chữ Nôm theo phép giả tá. Trong chữ Nôm, bạt còn được đọc là gạt, nghĩa là ‘lấy tay gạt ngang, quệt ngang’; lụy còn được đọc là lệ (nước mắt), do đó việc đổi bạt lụy thành gạt lệ là hoàn toàn chính xác. Tại sao ông AC cho rằng không thể? Thử hỏi nếu giữ nguyên từ bạt lụy thì người đọc hiện nay làm sao có thể hiểu là ‘gạt’ lệ’ hay ‘chùi lau nước mắt’?


AC: Đã chành, c.516. - NTC, NQT: đã dành. TL: Chành là “mở rộng ra về bề ngang [thường nói về môi, miệng]”(Vietlex). Ở đây là lòi ra một cách méo mó. Chành ra ba góc da còn thiếu (Hồ Xuân Hương). Phương ngữ Nam bộ có từ tổ đẳng lập lòi chành, có nghĩa là để lộ ra vì muốn giấu mà không giấu được. Nôm khắc trình [] để đọc thành chành. Ý nói ngay lúc đó thì lòng rẻ rúng đã “lòi” ra một bên rồi.


VTH: Bản 1872 ghi là . Theo Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải của TSKH Nguyễn Quang Hồng thì chữ này () có thể phiên thành: ‘chành’ trong chòng chành (nghiêng ngả, lắc lư); ‘dành’ trong câu ‘Mà lòng rẻ rúng đã dành một phen’ (Kim Vân Kiều tân truyện/金雲翹新傳); ‘rình’ trong rập rình; ‘trành’ trong tròng trành (chòng chành) và ‘trình’ (thưa bẩm, báo cáo, giãi bày với bề trên). Như vậy, NTC và NQT phiên là ‘đã dành’ đâu có gì sai. Chữ ‘chành’ theo cách giải thích của ông AC là ‘mở rộng bề ngang’, ‘lòi ra’ thì không phải là chữ ‘chành’ ở đây. Chữ chành đó được viết bằng 2 chữ Nôm là:


- ‘Chành’ trong chành bành (dàn trải ra hết mức theo bề rộng). Thí dụ: ‘Rành rành ba góc chành chành. Khi thì khép lại, khi chành bành ra: Là cái quạt’/停停1111;𧣳浧浧 欺辰 𢬱吏欺[]𫥨 羅丐𦑗. (Lý Hạng ca dao).


- ‘Chành’ (bành rộng).


AC: Gành, c.56. - NTC, NQT: ghềnh. TL: Nên nhớ rằng đây là tiếng miền Nam (cầu Gành ở Biên Hòa gần đây đã bị Bắc hóa thành cầu Ghềnh).


VTH: Trong cả 5 bản Truyện Kiều ở đây đều ghi là ‘ghềnh’, được viết bằng chữ Nôm là (bản 1866, 1872) và 𡌿 (bản 1870, 1871, 1902). Cả 2 chữ này (, 𡌿) đều được đọc là ‘ghềnh’. Việc ông AC cho rằng phải đọc là ‘gành’ thì không thể chấp nhận được, bởi vì bản Duy Minh Thị 1872 tuy phổ biến ở miền nam, song là ‘hậu bối’ của bản ra đời trước đó 6 năm, được xem là bản cổ nhất: Bản Liễu Văn Ðường—Nghệ An (1866), cả hai bản này đều ghi là . Như vậy, chữ phải được đọc là ghềnh theo bản ra đời trước ở miền bắc (bản 1866 ). Việc biến ‘ghềnh’thành ‘gành’ để hiểu chữ này là phương ngữ Nam bộ là hoàn toàn sai. Theo Đại Nam Quốc Âm tự vị, chữ ‘gành’ của ông AC được viết bằng chữ Nôm là (bộ thạch ), tuy cùng nghĩa với ‘ghềnh’ (, 𡌿) song cách viết lại khác.


AC: Hèn lâu, c.382. - NTC: bấy lâu; NQT: nhàn lâu. TL: NQT đọc thành nhàn lâu; NTC phiên âm bấy lâu đều chưa chuẩn. Thực ra, hèn lâu là lối nói trong Nam, ở đây chữ hèn được khắc Nôm bằng chữ nhàn [] và đây là chuyện hoàn toàn bình thường.


VTH: Chữ ‘bấy’ trong bản Kiều 1866 và ‘bấy trong bản 1872 đều có nghĩa là ‘bấy’ trong bấy giờ, bấy nhiêu, bấy lâu. Ông AC chỉnh lại là chữ ‘hèn’ . Thật ra nếu đọc là hèn thì dùng trong hèn hạ nghèo hèn, thấp hèn; đọc là ‘nhàn’ thì dùng trong nhàn hạ, nhàn rỗi... . Do đó, đọc ‘hèn lâu’ là sai. Chỉ có thể đọc là ‘bấy’ (, ) mà thôi. Theo chúng tôi, NTC phiên ‘bấy lâu’ (𥹰) là chuẩn xác.


AC: Kiểu thơm, c.7. - Do hai chữ phương cảo [芳稿] (bản thảo thơm) - sách hay. NTC, NQT (và các nhà khác): cảo thơm. TL: Đọc kiểu thơm là theo lệ kiêng huý vua Minh Mạng (tên là Cảo), trong hoàn cảnh bản mẫu của bản Duy Minh Thị. Âm kiểu vẫn còn tồn tại bền vững trong danh ngữ đồ kí kiểu, như đã ghi nhận trong HTC. HTC cũng đọc câu này thành Kiểu thơm lần dở trước đèn.


VTH: Tất cả 5 bản Kiều mà chúng tôi tham khảo đều phiên là ‘cảo thơm’, được viết bằng chữ Nôm là 稿𦹳 (bản 1866, 1871, 1872, 1902) và 𦹳 (bản 1870). Như vậy, cả hai chữ 稿 đều được đọc là ‘cảo’ (cảo thơm), không cần phải chuyển thành ‘kiểu thơm’ theo lệ kiêng huý vua Minh Mạng như ông AC đã nhận định, bởi vì theo giới nghiên cứu, Truyện Kiều bản Duy Minh Thị 1872 chỉ kiêng húy đời vua Gia Long chứ không phải Minh Mạng. Và cho dù có kiêng húy đời Minh Mạng đi nữa, thì cần chú ý chi tiết: tên húy của vua Minh Mạng không phải là ‘Cảo’. Vua Minh Mạng có 2 tên húy là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽) và Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈). Không hiểu ông AC dựa vào tài liệu nào để tặng cái tên ‘Cảo’ cho vua Minh Mạng vậy?


Phần kết: Chúng ta biết rằng Truyện Kiều do đại thi hào Nguyễn Du sáng tác, mà Nguyễn Du là người miền bắc (Nghệ An, Hà Tĩnh). Bản Kiều cổ nhất hiện nay là bản Liễu Văn Đường (1866) - Nghệ An, còn bản Duy Minh Thị (DMT) xuất hiện năm 1872 ở miền nam. Như vậy, nếu hiệu chỉnh bản DMT thì phải theo bản Liễu Văn Đường, nghĩa là theo hướng phương ngữ Bắc chứ sao lại lái sang phương ngữ Nam bộ?


Nhìn chung, hiện nay có khá nhiều dị bản Truyện Kiều, được phân theo 2 cách: a. Những bản thuộc hệ Thăng Long hay hệ Huế hoặc b. Những bản thuộc miền bắc, miền trung hay miền nam.


Có nhà nghiên cứu cho rằng bản DMT 1872 thuộc hệ Huế, người khác cho rằng thuộc miền nam. Tuy nhiên, phần lớn giới nghiên cứu lại nhận thấy bản DMT 1872 có số lượng câu giống với bản Liễu Văn Đường 1866 nhiều hơn so với các bản thuộc hệ Huế. Tùy theo nhà trùng san (biên tập, bổ sung, sửa chữa), trong các bản Kiều có những từ ngữ thuộc phương ngữ Bắc hay Hà Tĩnh, phương ngữ Huế hoặc Nam bộ, song việc chỉnh lý, theo chúng tôi, cần chú trọng ‘tinh thần Bắc bộ’ của Nguyễn Du, ngay cả khi phân tích bản Duy Minh Thị 1872. Nói cách khác, nếu biên tập Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu thì cần chú trọng phương ngữ Nam bộ, còn Truyện Kiều thì nên hướng theo phương ngữ Bắc, Hà Tĩnh.


12/3/2020.


Vương Trung Hiếu


___


(1): Nguồn: https://thanhnien.vn/…/lat-leo-chu-nghia-truyen-kieu-ban-du…


(2): Gồm có:


- Truyện Kiều 1866 (bản Liễu Văn Ðường—Nghệ An), Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị, Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2004).


- Truyện Kiều 1870 (bản Kinh đời Tự Ðức), Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị; Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2003).


- Truyện Kiều 1871 (bản Liễu Văn Ðường); Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị, Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002).


- Truyện Kiều 1872 (Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị); Nguyễn Tài Cẩn (Moskva), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002).


- Truyện Kiều 1902 (Bản Kiều Oánh Mậu), Sưu tầm, khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn Thế & Phan Anh Dũng, hiệu đính chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng, Nxb Thuận Hoá — Huế 2004.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »