Đêm ấy, khuya rồi bỗng nghe tiếng hát. Tiếng hát cứ miết vào tâm trạng tôi, khiến tôi nghe không sót lấy một lời. Một nghĩa trang vắng, những ngôi trắng xếp ngay ngắn từng hàng. Không thấy sự chết chóc, mà chỉ thấy sự trang nghiêm, tôn kính kèm một nỗi nhớ nhung da diết. Đó là những ngôi mộ liệt sĩ , những người đã là đồng đội, của tôi, của anh của tất cả một thời gọi chung là lính. Là đồng đội của nhà thơ có lời trong bài hát Trương Vĩnh Tuấn và của nhạc sỹ phổ nhạc có cái tên Nguyễn Giang cũngg là một người lính năm xưa. Ngay đêm ấy, tôi nhắn tin cho Trương Vĩnh Tuấn, như muốn cùng Tuấn gọi hương hồn anh em mình về cùng nghe hát. Trương Vĩnh Tuấn nhắn tin bảo tôi: “ khuya rồi, để đồng đội mình ngủ giấc ngàn thu tĩnh lặng”. Sâu sắc và xúc động mỗi lần Trương Vĩnh Tuấn viết về những người lính không còn quay trở về được sau chiến tranh.
Thế mà hôm nay, trong tay tôi là một tập thơ mới của Trương Vĩnh Tuấn. Cái gì thế này: TÔI ẤY MÀ, sao lại thờ ơ, sao lại phớt đời, sao lại lạnh lùng đến thế. Tôi biết không một nhà thơ nào lại không muốn có cho mình một tập thơ có cái tên thật kêu, thật hấp dẫn. Thế mà Trương Vĩnh Tuấn lại chỉ là: TÔI ẤY MÀ…
Rồi những bài thơ hiện dần ra trước mắt tôi. Không phải, Trương Vĩnh Tuấn không thơ ơ, không lạnh lùng một chút nào. Nhưng là cái gì thì đến hôm nay, khi viết những dòng chữ này, tôi mới thật sự hiểu rằng, Trương Vĩnh Tuấn không chỉ nỗi niềm mà còn có cả sự đa đoan trong thơ của mình. Cái kiếp người nặng gánh tràn ra trong thơ của anh.
Này hãy nghe nhà thơ bộc bạch: rất nghèo chẳng có gì đâu/ trái tim háo hức cái đầu si mê/ cái hồn cốt của nhà quê/ cái lo của lính vụng về của dân/ vốn quen với những nợ nần/ vẫn ngong ngóng đợi bước chân em về/ không tin vào những câu thề/ vác dao chém đá để về với em ( TỰ THÁN). Có bao nhiêu tâm sự của đời mình, Trương Vĩnh Tuân dãi bày ra cả đấy, nên đừng trách tôi dẫn nguyên một bài thơ của anh ra đây. Bỏ câu nào cũng không được.
Này nhé là hồn cốt nhà quê.
Ai cũng có một quê hương. Quê hương với người làm thơ nó gần như là chốn để mà trở về. Nhưng cách trở về mỗi người mỗi khác. Có người thì lấy thương nhớ làm trọng. Mỗi lần thương nhớ là cây đa, bến nước, bờ tre, ruộng lúa… lại hiển hiện trong thơ. Thường mỗi lần như thế, hoặc là những câu thơ hứng khởi về sự đổi mới quê mình, hoặc là những câu thơ thương cho miền quê còn gian nan vất vả, túng thiếu và nghèo đói. Trương Vĩnhh Tuấn không như vậy. Hình như trong đời, mỗi khi gặp trắc trở là anh nhớ đến chốn quê. Chốn quê với anh như một chỗ dựa tâm linh. Anh về đó để có thể là một nơi ẩn nấp, cũng có thể là một nơi để anh xám hối và cũng có thể là nơi để giải thoát cho tâm trạng đang bấn búi của mình. Nhà thơ tâm sự rằng, có một lần anh về quê để thăm chút gốc đa, gặp em đi hội làng, gặp chiếu chèo ngày xưa. Chao ôi thân phận nghèo, cái nghèo bán chẳng ai mua để có vài đồng chinh, mua bông gạo đỏ để gửi theo hội làng. Theo hội làng còn không được thì làm sao theo em. Thân phận con người lúc đó mới chua xót làm sao: “ góp gom được có bấy nhiêu/ xòe tay toàn thấy những điều trớ trêu”. Tức là người thơ đã trải mấy can qua rồi, đi khắp cùng thiên hạ rồi, mong chỉ có chút ít vốn liếng thôi về tìm lại ngày xưa của quê nhà, song cũng không có. Vốn liếng ấy không tính bằng tiền, mà bằng cái nhớ, cái thương về làng xưa, quê xưa. Nhưng ngẫm cho cùng, chính sự trăm trở đó lại là vốn liêng của nhà thơ. Anh có “ Thì em là của mọi nhà”, “ chiếu chèo”, “ hoa gạo đỏ”, “ đò chiều”, tức là anh giàu lằm rồi, khá giả lắm rồi, còn hơn là kẻ vô tình, rời quê là quên hết thẩy, hoặc có nhắc đến thì chê ỏng, chê eo. Cái tình của người thơ với chốn quê làm người thơ sống sênh sang với cõi đời “ toàn những trớ trêu”. Ở một bài thơ khác, Trương Vĩnh Tuấn còn nặng lòng hơn. Làng có một cây gạo. Cây gạo ấy là chỗ vui chơi của trẻ con, là nơi cho người lớn nghỉ ngơi, là huyền thoại của một thời làng đánh giặc. Ấy thế mà một lần bom B52 dội xuống, thiếu gỗ làm quan tài chôn người chết vì bom, làng xin cây gạo vài cành, sáng hôm sau, lá gạo rụng vàng mặt đất, nhựa cây tràn ra mặt đất giống như một dải khăn tang. Đau lắm, buốn lắm cho cây gạo làng, buồn lắm cho đất làng. Cây gạo chết, làng như có một khoảng trống khôn cùng. Chưa đâu: “ Bây giờ làng tôi thành thị xã/ nhà cao nên đất cứ hẹp dần/ lũ chúng tôi như người lẩn thẩn/ Cây gạo làng/ cây gạo làng tôi”. Xót xa chưa làng ơi. Nhà thơ đau đáu vì nỗi xót xa ấy mới thành nhà thơ. Cây gạo thôi là xót tới đáy lòng, như đưa đám một kỷ niệm đẹp của hồn quê. Sau nước mắt tiễn đưa là sự ngẩn ngơ đến tê tái lòng.
Nhưng có lẽ hồn quê được Trương Vĩnh Tuấn thể hiện sâu sắc hơn cả trong bài VIẾT SAU NGÀY NHẬP NGŨ. Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ. Ban đầu, tôi chỉ cho rằng đây là một câu chuyện của một gia đình. Nhưng càng đọc càng thấy lẩn khuất sau đó một nỗi niềm sâu kín. Người ta thấy nỗi đau khi mẹ đi lấy chồng để con thơ bơ vơ nức nở. Thấy khắc khoải tiếng ông tìm cháu, chìa chiếc lưng còng cho cháu làm giường ngủ trong cô đơn tuyệt vọng, thấy nỗi oan trái của ông trong cuộc cải cách ruộng đất ngày nào. Thấy gánh củi oằn vai cậu thay mẹ nuôi cháu mồ côi. Thấy ngày ông được minh oan… Nhưng ngày ấy, đứa con, đưa cháu vẫn khao khát nhớ về mẹ, mà người mẹ “ không dám về thăm/ vì nhà mình là địa chủ”. Rồi những ngày thơ ấu gian nan, vẫn gào lên trong tâm thức hai tiếng mẹ ơi. Mẹ ơi cả khi lấy máu viết đơn tình nguyện nhập ngũ khi đất nước có chiến tranh. Từ biệt ông ngoại khi mộ đã xanh cỏ. Từ biệt cậu, từ biết mọi người, trong hớn hở ngày ra đi, nhưng trong lòng tự thú với một người thôi: “ Con giấu đi những giọt nước mắt/ con biết sợ rồi mẹ ơi”. Đến thế dã là day dứt lắm rồi. Đoạn kết như tiếng gào, tiếng thét: “ Đoàn tàu lầm lũi đưa con vào phía Nam/ Sóng ở đâu mà cưa gầm lên/ bão từ nơi nào xô về xối xả/ tự trái tim con kêu lên khe khẽ/ mẹ ơi con thương mẹ/ nhưng tàu trôi nhanh qua/ cuốn lời con trôi theo”. Đọc mà muốn rơi nước mắt. Cuối cùng vẫn là mẹ thôi. Và hồn quê chính là hồn mẹ. Dù có ở đâu, lúc nào, thì bao giờ mẹ cũng ở trong con. Đừng gán cho Trương Vĩnh Tuấn cái ý: khêu gợi một thời đất nước có chiến tranh, thanh niên lớp lớp lên đường, mà nên nói rằng: trước lúc vào trận sinh tử ( mà lính thì trận nào chẳng là trận sinh tử) người mà người lính nhớ đến trước hết là mẹ. Đọc đoạn đầu thấy hình như là một lời trách móc mẹ bỏ con đi lấy chồng. Nhưng càng đọc càng thấy nỗi yêu thương vô bờ bến với mẹ. Và nơi mẹ sinh ra ta, bao giờ cũng là nơi được ta gọi là quê, là nơi suốt đời ta nhớ, suốt đời đau đáu nhìn về. Người thương đã vậy, người thơ càng sâu sắc hơn.
Thế đấy, hồn quê cứ vương vấn hoài trong thơ Trương Vĩnh Tuấn. Rồi chính từ hồn quê mà Trương vĩnh Tuấn trở thành người trong cuộc giữa cuộc sống đời thường mà ở đó có anh, có mọi người mà ta có thể gọi chung là nhân dân. Tôi nói thế vì tất cả những gì Trương Vĩnh Tuấn nói ra trong thơ nó rất gần gũi với chúng ta. Đó là nhưng nỗi lo. Không hiểu sao, tôi cứ bị ám ảnh bởi mấy bài thơ khi Trương Vĩnh Tuấn phải đi nằm bệnh viện. Trong đó có bài NHÂN DÂN mà có lúc tôi đã có lời bình. Đến nay, khi TÔI ẤY MÀ ra mắt bạn đọc mới thấy nỗi lo của nhân dần hằn sâu trong thơ Trươngg Vĩnh Tuấn. Hãy đến với bài thơ có cái tên rất gọn, nhưng đọc đến tên bài thơ ai ai cũng giật mình: GIÁ. Cũng với cách trình bày trực diện, Trương Vĩnh Tuấn cho ta thấy hiện thực của một xã hội đang được chuyển đông thao quy luật của cơ chế thị trường. Cái thời giá trị thặng dư tha hồ lũy tiến, biển chỉ bằng cái bàn tay; trời, chẳng cao, đất chẳng dày. Cái mà bây giờ người ta thương nói ra cửa miệng là xã hội hóa, đến cả trường học, nhà thương cũng xã hội hóa. Xã hội hóa đã làm nhiều “ nhân dân” lo lắng không nguôi. Lo bệnh tật, lo con em đến trường… Rồi hàng loạt những thư đóng góp khác đến mức báo chí, truyền hình có lúc phải lên tiếng giúp “ nhân dân”. Nói thực lòng, tôi chẳng thấy vui chút nào khi thấy một đại gia bỏ ra vài chục tỷ để mua một thứ không đáng giá như thế, hoặc một số sim điện thoai cả mấy trăm triệu đồng để gọi là làm từ thiện, để được gọi là mạnh thường quân. Nó chỉ thể hiện sự phân hóa giàu nghèo quá sâu sắc, trong khi đó ở những vùng quê, người nông dân tháng tháng phải bỏ vào quỹ này quỹ nọ hai, ba ngàn hoặc hai ba chục ngàn. Ít lắm, chẳng đáng với các đại gia, nhưng nó lại vô cùng quý giá với những người nghèo. Họ chẳng được tôn vinh như các đại gia giàu có. Trong lúc “ tết năm nay mẹ Việt Nam anh hùng được một trăm hai/ các chiến sĩ Trường Sa bình quân trăm rưởi”. Còn ở vỉa hè ( mà chuyện vỉa hè của đât nước mình nó có sác xuất chính xác ghê lắm), người ta biết thu nhập của những vị này, vị kia là bao nhiêu. Chỉ có điều có làm cuộc kê khai thu nhập cá nhân thì họ cũng chỉ tương đương với công chức bậc trung thôi. Nhân dân biết, nhưng nói với ai đây: “ dân nhún vai vì dân đang vội/ mua bó hoa ( cho Tết) sợ lát nữa không đủ tiền”. Trương Vĩnh Tuấn hô vang: nhân dân muôn năm! Nhân dân muôn năm. Nhân dân chịu đựng quen rồi. Chịu đựng giá cứ leo thang mà thu nhập dậm chân tại chỗ. Nhân dân quen rồi chịu đựng những thiệt thòi, Nhân dân cũng quen rồi “ một sự nhịn là chín sự lành” . Vì thế mà Trương Vĩnh Tuấn thốt lên: “ mai sau trở lại kiếp người? có oan cũng chẳng nửa lời kêu oan”( VÔ ĐỀ III). Câu thơ này đâu có dành cho Thị Kính, càng không dành cho Thị Mầu, mà dành cho ai đó từng chịu đựng không chỉ nỗi oan, mà cho cả nỗi cực nhọc, thiệt thòi. GÍA không chỉ là cái giá trong mua bán, mà còn là cái giá phải trả cho sự mất mát hôm nay, trong đó có cả sự mất mát lòng tin. Cùng với bài NHÂN DÂN, Trương Vĩnh Tuấn đã vào cuộc. Nhà báo chống tham nhũng đã đành, họ đấu tranh trực diện. Thế thì nhà thơ cũng phải vào trận thôi. Và Trương Vĩnh Tuấn đã vào trận. Những câu thơ giản dị, bên cạnh sự bóng gió mỉa mai, là những câu thơ chỉ thẳng vào những bất công hiển hiện bây giờ. “ kẻ ăn không hết người lần không ra”. Kẻ ăn không hết là ai, để thiên hạ phán xét. Còn người lần không ra thì.. thôi không nên nói ra. Vì nói ra nhà thơ của chúng ta thêm chạnh lòng. Cùng với bài NHÂN DÂN, Trương Vĩnh Tuấn đã thể hiện rõ thái độ của mình là đứng về phía nhân dân. Vì thế mà “ nhân dân muôn năm”. Ngay cả trong những bài thơ tình, bóng dáng nhan dân lâu lại hiện ra. Hiện ra trong câu tư tình với người yêu, khi bàn giao nhà cho con, khi ngẫm ngợi một mình, khi tâm tình với những người bạn lính đã hy sinh. Nhân dân cũng chính là một sự đa đoan trong thơ Trương Vĩnh Tuấn.
TÔI ẤY MÀ của Trương Vĩnh Tuấn còn một điều nữa không thể không nhắc đến, đó là tình cảm chan chứa mà anh dành cho bạn bè. Nếu tính thời gian vật chất, tôi và Trương Vĩnhh Tuấn gần nhau chắc được vài giờ đồng hồ. Còn sau đó là điện thoại. Mà cước điện thoại bây giờ với cái túi của một nhà văn như tôi chẳng dám gọi nhiều. Tối đa chừng ba phút là phải cúp máy cho nhanh, kẻo bội chi thì gay. Thế mà đọc thơ Trương Vĩnh Tuấn, tôi tin mình có một người bạn đáng tin cậy. Này là Trịnh Thanh Sơn: “ thế gian chật/ bạn ít người dưng nhiều/ đừng đi Sơn ơi lại sắp đến mùa hoa sữa… đừng khóc Sơn ơi/ tao không chịu được nước mắt/ nào nắm tay tao thât chặt/ đừng đi Sơn ơi” ( SƠN ƠI). Ấy là ngày Trịnhh Thanh Sơn sắp ra đi vĩnh viễn. Vẫn Trịnh Thanh Sơn: “ năm nay bạn thành người thiên cổ/ nâng chén rượu lên chẳng thấy xuân” ( NHỚ TRỊNH THANH SƠN) . Mất một người bạn mà đến mức mất một mùa xuân thì nỗi nhớ dằng dai đến mức nào. Có một lần, qua điện thoại, Trương Vĩnh Tuấn đọc cho tôi nghe nguyên một bài thơ sau câu nói: Nhớ Trịnh Thanh Sơn qúa Thiện ơi : “… một ly rượi một vần thơ/ đêm đêm tôi thức tôi chờ bạn qua/ thế rồi bạn tới cười xòa/ bạn vui như thể trẻ ra mấy lần”. Thương thật, chắc là nhiều đêm chờ bạn, bây giờ biết chờ bạn cũng không tới được nữa, mới òa ra được những câu thơ đầy nhớ nhung như thế. Với Trần Quốc Thực, sự xót thương có khác hơn. Cả mấy khổ thơ là mấy câu hỏi: “ dấn thân làm thi sĩ. Để làm gì Thực ơi… sao cũng là kiếp người/ mà bạn tôi khổ thế/ rượu hay là nước lã/ chẳng giúp gì bạn tôi’ . Với Nguyễn Bùi Vợi, Trương Vĩnh Tuấn có điều day dứt: “ bài học làm người thày dạy em còn nguyên/ nhưng tóc em đã bạc/ em muốn truyền cho con em mà em không biết cách/ sao điều này thày không dạy em/ sao điều này thày không dạy em”. Dạy làm sao được Tuấn ơi. Để có thể làm người có biết bao nhiêu cách, thày dạy Tuấn làm người thơ, mà người thơ thì mấy ai học mà thành. Hỏi thày làm gì mà tội nghiệp. còn thơ cho Nguyễn Bá Thắng, còn thơ cho Đặng Hồng Thiệp, còn thơ cho những người bạn cùng thời, thơ cho bạn từng đứng trong hàng ngũ quân đội nhân dân, và thơ cho những người bạn chiến đấu đến nay chẳng thể về.
Bây giờ xin trở lại với bài thơ mang tên cho cả tập TÔI ẤY MÀ. Tôi tin một điều rằng: không phải vô tình hay ai xúi khôn, xui dại mà Trương Vĩnh Tuấn lấy tên tập thơ của mình đơn giản và khô khan như vậy. Bởi cả bài thơ là một lời tự thú. Mà mấy ai ở đời này dám tự thú như anh. Những cuộc tình làm say lả lướt giống như uống rượu say mèm, đến hôm nay mới nhận ra rằng lắm đắng, nhiều cay. Rồi trong cuộc tranh chấp để tồn tại, tưởng mình khôn lắm ai dè mình là thứ dại dột, dại dột suốt một đời người. Đành buông một câu kiểu AQ: “ khôn một mình biết để dại cho ai”. Lại càng AQ hơn: “ bao tội lỗi là do tôi tất cả/ cao thượng, sáng trong là của các người/ tôi ấy mà lại về với cỏ”. Chỉ có điều, AQ của ông Lỗ Tấn chỉ muốn hơn người, còn AQ của Trương Vĩnh Tuấn lại chịu thua thiệt trước tất cả. Thôi thì tôi dừng lại phía sau để các người đi lên phía trước. Tôi xin bó gối, tôi xin đầu hàng.
Không, làm gì có chuyện ấy. Thơ anh còn nghĩ về quê hương bằng cả một tình cảm chân thành, còn sống với bạn bè hết mình và đặc biệt thấy hết trách nhiệm của nhà thơ với nhân dân thì chẳng thấy anh dừng lại lúc nào. Nhiều nợ nần, nhiều đa đoan lắm. nợ nần, đa đoan với đời, với người, với xóm quê, với người tình, và với cả chính mình. Anh chưa thoát tục, làm sao mà THIỀN, làm sao mà NAM MÔ A DI ĐÀ được.
Tao vẫn thế tóc có phần hơi bạc
Vẫn ngây ngô cho tới bến dại khờ
Kẻ phản trắc đã đôi lần sờ gót
Vẫn yêu và làm thơ
Có thế chứ!
NGUYỄN ĐỨC THIỆN
|