Lời Tác giả (lần in thứ ba)
Ba năm đi qua, từ khi Các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm ra đời, rồi bốn năm sau đó Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại được xuất bản – bảy năm của vật đổi sao dời, thay đổi của lòng người, biến động của xã hội. Bảy năm với nẩy sinh các vấn đề mới, đòi hỏi cách nhìn mới, đối sách mới.
Hơn 2.000 bản qua hai lần in, Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, đã tiêu thụ hết. Để đến ngày Hội Văn hóa dân tộc Chăm hay các ngày lễ lớn của dân tộc, nó đã phải xuất hiện dưới dạng photocopy để kịp thời phục vụ đồng bào. Chứng tỏ người Chăm và các nhà nghiên cứu về Chăm đã thực sự cùng tham gia đặt vấn đề và quan tâm hơn đến giải quyết vấn đề của chính mình. Do đó tập sách đã có các phản hồi đáng trân trọng.
Tập tiểu luận, phê bình Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại xuất bản lần thứ ba này có nhiều sửa chữa và bổ sung rất đáng kể. Tác giả đã bỏ bớt các đề tài đã mất tính thời sự cũng như bài trao đổi mà các luận điểm đã được thanh lí; cả vài đề tài nặng về quá khứ. Thay vào đó là các bài viết mới, về những gì đang xảy ra của hôm nay, đang chuyển động để hướng tới tương lai. Thứ nhất, về mặt văn hóa - xã hội: tập trung vào các vấn đề vừa nẩy sinh dăm năm qua trong thời đại toàn cầu hóa; thứ hai, về lãnh vực văn học - nghệ thuật: nhấn mạnh vào sáng tạo, gợi mở và gợi hứng sáng tạo cho các thế hệ sắp tới. Bởi chỉ có thế thôi, thế hệ Chăm hôm nay mới thực sự có đóng góp của chính mình vào vốn quý của cha ông xưa.
Sài Gòn, ngày 15.08.2007.
GIÁP MẶT VẤN ĐỀ
Thay lời nói đầu (cho xuất bản lần thứ nhất).
Tôi sinh ra, lớn lên, đi học, vào đời và… đối diện với các vấn đề. Có lẽ cũng không khác gì của người cùng thời với tôi, đang sống xung quanh tôi. Từ vấn đề vụn vặt, nhỏ bé nhưng căn bản như cơm ăn, áo mặc đến vấn đề phức tạp, to tát đụng chạm đến tâm linh, cuộc sống tinh thần của con người như tôn giáo, văn chương, triết học…
Dù sơ đẳng hay cao siêu, giản đơn hay rối rắm, đó là các vấn đề của tôi, tôi không thể chọn lựa từ chối hay chấp nhận, mà buộc phải giáp mặt với nó. Và nếu không muốn bị nó nhấn chìm trong tăm tối vô tri, tôi phải nỗ lực suy tư để tìm cách giải quyết nó. Còn tôi có giải quyết được nó hay không, và giải quyết đến đâu thì đấy là vấn đề tùy thuộc vào tôi rất ít.
Tập tiểu luận - phê bình - nghiên cứu này ghi nhận một hành trình suy tư và thể nghiệm trong bảy năm của người viết khi đối mặt với các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm. Từ bài viết đầu tiên về chế độ mẫu hệ cho Hội thảo khoa học kinh tế - văn hóa Chăm do Viện đào tạo mở rộng TP Hồ Chí Minh tổ chức vào năm 1992 đến bài trao đổi về cuốn “Lễ hội Rija Nưgar” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 02.1999, nhiều sự kiện và vấn đề đã đổi thay, đổi thay ở rất nhiều khía cạnh, bình diện. Chúng đòi hỏi người viết phải có cái nhìn khác, giải pháp khác.
Đặt vấn đề có nghĩa là lay dậy, đánh thức, làm thay đổi thói quen, làm cho mở to mắt (ppagak mưta) để nhìn vào thực tế của vấn đề. Đặt vấn đề hay đặt lại vấn đề có nghĩa là đem ra soi ngoài nắng sự việc đã mèm cũ tưởng như không việc gì. Chúng ta quen nhìn nó lâu nay như nó là thế và mãi mãi như thế. Thỉnh thoảng chúng ta có giật mình ngạc nhiên trước một khía cạnh nổi cộm, nhưng rồi chúng ta cũng quên chúng đi nhanh chóng. Một bài báo đưa tin sai lầm, một quan niệm lệch lạc… Có gì đâu mà to chuyện! Hay ví như cách lấy thủ cấp trong đám tang Cam Ahier, dù thao tác có khéo gọn đến đâu nhưng chưa bao giờ tạo sự bằng lòng từ bất kì một ai cả. Ai cũng thấy thế, và tưởng tượng đến lượt mình cũng phải chịu thế. Nhưng có ai đặt vấn đề này ra cho cụ thể và tìm giải pháp cho rốt ráo? Các giải pháp cho một vấn đề không thể là giải pháp một lần cho tất cả, quyết toán một lần rồi thôi. Vấn đề luôn trở lại, buộc chúng ta phải có những cách tiếp cận mới, giải đáp mới.
Văn hóa - văn minh Champa sau hơn hai trăm năm chìm dưới lớp bụi của thời gian và sự vô tình của lòng người, như một cánh rừng hoang chưa được khai phá. Nó vừa hấp dẫn đồng lúc thách thức và làm chồn chân kẻ thám hiểm. Các cố gắng của cá nhân hay tập thể mong vỡ hoang nó từ gần một thế kỉ qua, dù có những thành tựu nhất định, cũng chưa thật tương xứng với tầm vóc của nó.
Người Chăm, chủ nhân hôm qua của nền văn hóa - văn minh ấy, hôm nay đang thừa hưởng những mảnh vụn của nó và chịu sự tác động trực tiếp từ nó. Những con người ấy đang đứng trước ngưỡng thế kỉ XXI đầy cam go và thử thách. Chúng ta đi về đâu? Và sẽ đi như thế nào? Khi đất nước và cả thế giới đang lao về phía trước đầy tự tin và dũng mãnh.
Các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm là nỗ lực suy tư về và cho mình đồng thời những con người xung quanh của người viết. Mong tìm bạn đồng hành để cùng trao đổi, học hỏi. Những nhận định dù sơ lược nhất cũng đều dựa trên nền tảng vấn đề được nghiên cứu cẩn trọng.
Đức tính của phụ nữ Chăm, nét đẹp của hoa văn thổ cẩm Chăm, sự giàu sang của văn chương Chăm với những sắc thái đặc thù Chăm được làm nổi bật. Vấn đề chế độ mẫu hệ, ngôn ngữ - chữ viết, kinh tế - đời sống Chăm, vấn đề sưu tầm - nghiên cứu và cả sáng tác được đưa ra ánh sáng để phân tích, mổ xẻ, bình luận đồng thời thử đề xuất các giải pháp khả thể riêng và chung.
Qua nghiên cứu, trao đổi, người viết hi vọng các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam hiểu rõ người Chăm hơn, dân tộc Chăm nhìn kĩ mình hơn, biết mình biết người hơn, bớt kiêu hãnh hão về mình và cuối cùng yêu dân tộc mình sâu đậm hơn. Dám nhìn vào thực tại, chấp nhận mình như là mình. Để có thể sống, lao động, sáng tạo và hi vọng.
Sài Gòn, mùa Hè 1999.
VĂN CHƯƠNG - SUY NGHĨ TOÀN CẦU, HÀNH ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG
I. Từ tư duy...
Chiếc Lexus và cây Ô liu.
Sau Chiến tranh lạnh, trong khi một nửa thế giới nỗ lực không ngưng nghỉ cho hiện đại hóa về mọi mặt trong thời đại toàn cầu; thì nửa kia vẫn tiếp tục đổ máu để xem ai là chủ của cái cây Ô liu mỏng manh nào đó. Đây là khám phá độc đáo sau thời gian dài quan sát biến động trên thế giới của Th. L. Friedman, trong cuốn sách thời danh của ông: The Lexus and the Olive Tree (2000).
Chiếc Lexus tượng trưng cho động lực làm giàu và hiện đại hóa; cây Ô liu: cho bảo tồn bản sắc truyền thống của một cộng đồng. Cuộc chiến giữa Lexus và Ô liu đang xảy ra trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực, một đất nước, một cộng đồng và thậm chí, trong tâm hồn của một cá nhân. Đó là bi kịch của nhân loại. Ngày xưa, bản sắc này tìm mọi cách loại bỏ bản sắc khác; hay nói cách hình tượng, cây Ô liu này luôn muốn nhổ bỏ cây Ô liu kia thì nay, cây Ô liu còn phải ra sức chống lại sức mạnh ghê gớm đến từ chiếc Lexus – cái Lexus có mặt quanh nó và, trong nó.
Vậy, làm sao cho Ô liu sống cạnh/chung/với Lexus mà không bị èo uột hay khô héo? Hay, làm sao một cộng đồng, dân tộc, cá nhân có thể giữ được bản sắc mà vẫn có thể hiện đại hóa xã hội, có thể dung hòa truyền thống với tiến bộ khoa học kĩ thuật siêu hiện đại? Đó là câu hỏi sống chết của hôm nay, đặt ra cho mỗi thành viên cộng đồng, nhất là cho mỗi trí thức của cộng đồng ấy – không thể chạy trốn. Chúng ta đã từng sợ hãi: sợ mất bản sắc, mất cái tinh túy nhất do cha ông để lại. Đứng trước thách thức quá lớn đến từ các nền văn hóa lớn hơn, các nước có nền kinh tế mạnh hơn, nền khoa học tiên tiến hơn, ta thấy mình quá lép vế. Ta nhìn các cuồng phong ấy thổi tới với con mắt đầy mặc cảm: vừa khư khư ôm truyền thống vừa lắm lét học đòi hiện đại; vừa ra sức bảo tồn bản sắc vừa thầm hiểu rằng bản sắc kia sẽ bị tiêu vong, không chóng thì chày.
Nhưng sợ hãi, đâu phải chỉ tồn tại nơi tâm hồn Ô liu mà, sợ hãi còn hiện hữu ngay chính tinh thần của Lexus nữa!
Nhìn từ trung tâm...
Trong cuốn Nationalist Postnationalism (1998), Frederick Buell bàn về văn hóa của các nhóm di dân vào Hoa Kì, rất đáng đọc. Tạm tóm tắt vài ý chính:
– Quen với thái độ sống “độc văn hóa” (monoculturalism) đầy óc bảo thủ địa phương, thiển cận và thậm chí lỗi thời, Hoa Kì luôn nhìn bằng con mắt kì thị các nền văn hóa khác.
– Tính chất đa văn hóa của nhóm di dân được du nhập vào Hoa Kì đã làm Hoa Kì giật mình tỉnh thức.
– Các nhóm di dân mặc dù chấp nhận các nghề dưới đáy xã hội, nhưng chính họ đã làm phong phú nền văn hóa đa chủng của Hoa Kì, tránh cho Hoa Kì mặc cảm tự ti văn hóa hậu thuộc địa cũ kĩ (old postcolonial cultural inferiotiti complex). Từ đó Hoa Kì biết rời bỏ đại tự sự (grand narrative) lạc hậu, và học chấp nhận tiểu tự sự của nền văn hóa khác.
– Các nền văn hóa của các nhóm di dân này, chẳng những không tác hại Hoa Kì mà còn mang đến cho nó một vị thế và một sức mạnh văn hóa mới phù hợp với tiến trình toàn cầu hóa (globalization).
Và ngoại vi ...
Về nền văn hóa Champa, nếu người Chăm biết duy trì truyền thống văn hóa dân tộc bhap ilimo (từ dùng của Pauh Catwai), chẳng những Chăm không tự đồng hóa để mất hút vào nền văn hóa lớn là văn hóa Việt Nam và thế giới mà còn thêm vào đó một sắc thái mới, dòng chảy mới, rất đáng trân trọng. Hậu hiện đại từ chối tinh thần dân tộc chủ nghĩa bài ngoại (xenophobic nationalism), dẹp bỏ bệnh sợ ngoại nhân (xenophobia), thay thế chủ nghĩa dân tộc bằng chủ nghĩa dân tộc mở (open nationalism). Điều này thích hợp với tất cả dân tộc thiểu số khác. Và, thiết yếu với mọi nền văn hóa/dân tộc đa số khác. Nó rất nhân bản.
Một thế hệ mới...
Gia nhập APEC, WTO, hệ thống Đại học chúng ta buộc phải mở, để bằng cấp Đại học Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khi đó, sinh viên không còn thụ động lắng nghe giáo sư và ghi chép – đúng bài, đúng theo sách mà, là: hỏi, hỏi và hỏi. Các câu hỏi buộc giáo sư, giảng viên phải trả lời. Nếu không đáp ứng được lúc này, thì ông/bà phải “học” để có khả năng đó. Không thể thỏa mãn được đòi hỏi thiết yếu ấy của sinh viên, thì ông/bà thôi việc hoặc, tự ghi danh vào danh sách giáo sư thất nghiệp. Sinh viên sẽ tìm tới giáo sư khác, hay đi tìm trường khác. Ở đó, có giáo sư khác trả lời cho đòi hỏi ngày càng cao của họ. Nhà nước không mất công tổ chức thi lại bằng giáo sư, tiến sĩ cho các giảng viên.
Đâu là nguyên nhân có mặt của tháp Chàm trên khắp miền Trung? Tại sao Mĩ Sơn là di sản văn hóa - lịch sử nhân loại? Cuối cùng, dân tộc sở hữu nền văn minh ấy đã hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam như thế nào? Nữa, một dân tộc đã sáng tạo nên nền kiến trúc - điêu khắc lớn như thế, lẽ nào họ trống vắng văn học? Vậy văn học Chăm ở đâu? Tại sao mãi đến hôm nay nền văn học của dân tộc đó chưa có mặt trong văn học sử Việt Nam? Các nhà viết văn học sử lần nữa lại làm việc: tính toàn vẹn của văn học Việt Nam cần được đảm bảo. Gần hơn, học văn chương thế giới, sinh viên có quyền được biết về các trào lưu văn học đương đại, từ Hoa Kì cho đến Hàn quốc, từ Châu Mĩ La tinh cho đến Nga. Khi đó, nếu giảng viên đứng giảng đường ú ớ hoặc tán hươu vượn, mất ghế là cái chắc!
II. Qua hiện thực
Hiện thực văn học Dân tộc thiểu số, cụ thể hơn: thơ dân tộc thiểu số thế nào?
Tôi đã bàn về thơ hiện đại Chăm trong bài: Sáng tác văn chương Chăm hôm nay và Sáng tác thơ Chăm, chặng đường năm năm; và về thơ Dân tộc thiểu số: Thơ Dân tộc thiểu số Việt Nam – từ một hướng nhìn động, xin miễn nhắc lại. Chỉ biết rằng, thơ ca chúng ta đang đứng hẳn lại, ở đề tài, ngôn ngữ thể hiện lẫn thi pháp. Đó là chưa nói đến thơ được viết bằng tiếng mẹ đẻ. Khía cạnh này chưa ai đánh giá được.
Trong khi thử làm cuộc đối sánh với thơ người Việt hiện đang sinh sống tại Hoa Kì; cũng hoàn cảnh tương tự chúng ta nhưng họ đang rất khác. Họ hòa nhập khá nhanh, tự tin sáng tác, từ đó nổi lên vài khuôn mặt sáng giá. Sáng tác bằng tiếng Việt có: Phan Nhiên Hạo, Lê Thị Thấm Vân,… bằng tiếng Anh, Pháp có: Mộng Lan, Linda Lê,… vừa tiếng Anh vừa tiếng Việt có: Đinh Linh, Lưu Diệu Vân, … Mới đây họ còn lập ra cả Website văn chương: damau.org, tập hợp một cả lực lượng hùng hậu. Còn ta? Chưa có gì cả. Chăm mới có tuyển tập Tagalau mỗi năm một số. Các dân tộc khác – trống vắng!
III. Cho đến ý hướng
Chúng ta giải quyết thực trạng lép vế và kém thế này như thế nào?
Chủ nghĩa hậu hiện đại quyết đánh đổ những đại tự sự (grands récits, từ dùng của Lyotard), để thay vào đó bằng tiểu tự sự (petits récits). Cá nhân/cộng đồng kể chuyện về mình, suy tư, phản ứng hay hành động một cách riêng tư trước vấn đề rất cụ thể mà thế giới đặt ra cho mình/cộng đồng mình.
Nó không lo lắng cho cả thế giới, nó chỉ lo lắng cho nó thôi, bởi nó cũng là một thế giới. Khi nó lo lắng cho nó rốt ráo, nghĩa là nó đã lo lắng cho thế giới rồi. Ví dụ, khi ta trồng cây trong khuôn viên nhà ta, nhắc anh em ta đừng phá rừng là ta đã giúp nhân loại bảo vệ phần nào môi trường thế giới rồi. Nó bày ra trò chơi cho nó, vì nó, nó chơi trò chơi đó, chơi hết mình. Nhưng nó biết thế giới không phải chỉ có mỗi nó: nó với trò chơi duy nhất. Vì, bên cạnh nó và cùng tham gia trò chơi thế giới (chữ dùng của Heidegger) với nó còn có những “nó” khác. Những “nó” này đang chơi trò chơi của họ.
Nhưng chúng không hề tin tất cả trò chơi nhỏ ấy là mảnh vụn của trò chơi vĩ đại nào đó, trò chơi của Chúa chẳng hạn, hay của quy luật biện chứng nào đó con người nghĩ ra, manh tâm áp đặt nó cho nhân loại hay, mơ tưởng rằng thế giới đã/phải như thế.
Văn chương không phân biệt ngoại vi hay trung tâm, dân tộc thiểu số hay đa số, giàu hay nghèo, nam nữ, trung ương địa phương, chính lưu ngoài luồng, trong nước hải ngoại. Đã có nhiều phân biệt, nhưng đó là sự phân biệt giả tạo xuất phát từ mặc cảm giả tạo. Vượt qua mặc cảm đó, người nghệ sĩ của dân tộc ngôn ngữ thiểu số (tiếng Chăm so với tiếng Việt, văn chương tiếng Việt đặt cạnh văn chương Anh ngữ), khi sáng tác phẩm của anh/chị ta đạt tiêu chí nghệ thuật cao, tác phẩm đó khả năng đạp đổ vách tường ngăn trung tâm/ngoại vi đầy tệ hại. Nhiều văn nghệ sĩ di dân thành danh ở Hoa Kì chứng minh sáng giá cho chân lí đó.
Ở trong nước, xung quanh ta từ nửa thế kỉ qua, các sáng tác của hàng chục nhà văn dân tộc thỉểu số một lần nữa khẳng định sự thật đó. Vậy, tại sao chúng ta không tự tin nhập cuộc!
Sài Gòn, tháng 12.2006.
HÀNH TRÌNH VỀ NGUỒN CỦA TÔI
1. Tôi, thằng Klu nhỏ…
Tôi sinh năm Đinh Dậu tại làng Chăm Caklaing - Ninh Thuận. Một năm đại hạn, mẹ tôi nói. Hãy tưởng tượng, vùng đất nắng nóng nhất nước lại chịu thêm hạn. Có lẽ thế chăng mà tôi bị cọc (trong gia đình tôi, cao mét sáu nhăm là cọc). Nhưng may mắn tôi ít bị bệnh vặt. May mắn nữa là sống trong một gia đình nông dân nghèo gồm sáu anh chị em nhưng tôi được học hành liên tục. Đó là một ân huệ lớn mà gia đình đã dành cho tôi. Ân huệ thứ hai là tôi có người cha nông dân mẫu mực: hiền từ, cần cù và ham mê sách cổ nhân. Có lẽ tôi được truyền tình yêu này từ người. Chính trong những đêm trăng thơ mộng nơi thôn trang, nhiều lần được nghe người ngâm thơ mà tôi thuộc nằm lòng Ariya Glơng Anak ngay thời tôi mới năm, sáu tuổi, khi còn chưa cắp sách đến trường.
Caklaing, làng Chăm duy nhất hôm nay có tên trên bi kí cổ Champa, nghĩa là nó có mặt ít nhất cũng hơn một ngàn năm. Một làng chuẩn, theo cách nhìn Chăm:
Cơk mưraung, kraung birak
Núi hướng nam, sông hướng bắc
Những con sông, bao nhiêu là con sông tuổi thơ tôi nhảy giỡn, tắm gội. Chúng nuôi nấng, vỗ về tâm hồn tôi. Dù hôm nay chúng đã mất đi không còn dấu vết, nhưng tên chúng đã mãi vang vang ở bề đáy tâm thức tôi: Kraung Biuh - Sông Luỹ, Kraung Likuk - Sông Sau, Ribaung Lah - Mương Tháo, Ribaung Kanu - Mương Gò, Ribaung Dhaung - Mương Trũng, Katơng Lamưy - Vũng Lamưi (tên người), Danaw Kaxon - Đầm Kaxôn, Kraung Lakưk (tên cô gái Kinh chết đuối được dùng đặt cho con sông)… Hơn chục con sông, mương, đầm là chi lưu sống hay chết của sông mẹ: Sông Lu. Chúng đã chết. Cùng chết với chúng là Sông Lu được vạch dòng quy hoạch.
Sông Lu với cánh đồng quê tôi
như thần Shiva với thế giới
Shiva sáng tạo và hủy phá
sông Lu làm lũ lụt và bồi phù sa
khi sông Lu được vạch dòng quy hoạch
nó hết làm lũ lụt
cũng lúc thôi bồi phù sa.
(Inrasara, Lễ tẩy trần tháng Tư, 2003)
Năm 1969, tôi rời làng và những con sông tuổi thơ lên thị xã Phan Rang để vào trung học. Năm 1976, vào Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, chưa đầy hai năm thì tôi bỏ giảng đường do một vài sự cố riêng tư. Đến năm 1982, tôi được mời về làm việc ở Ban biên soạn sách chữ Chăm - Thuận Hải (cũ), rồi năm năm sau thôi việc để tập trung cho nghiên cứu. Để đến năm 1992, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á thuộc Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh mời tham gia vào nhóm nghiên cứu văn hóa Chăm. Năm 1998, tôi lại nghỉ việc tại Đại học. Dù sau đó vài nơi mời công tác nhưng tôi muốn – tự do. Cởi bỏ mọi vướng bận cho cuộc hành trình. Vài bạn trách tôi dại dột hay kiêu ngạo. Song, mặc.
Có ai hiểu Sông Lu đang chảy trong tôi?
2. Một cuộc đi dài…
Sáu năm Trung học, vào những chiều Thứ bảy, Chủ nhật – thay vì “xuất trại” (kí túc xá Pô-Klong) về quê như các bạn, tôi lang thang đến các làng Chăm khác: Phước Nhơn, Thành Tín, Văn Lâm, Hữu Đức… Bước chân tuổi trẻ tôi rong ruổi trên khắp ngõ hẻm quê hương. Tâm hồn tôi mở ngõ đón nhận những mới lạ, ngạc nhiên tiếp ngạc nhiên: câu hát, giọng nói, phương ngôn, màu áo…
Và cả những con sông. Dù chúng mang tên khác, hình thành từ suối nguồn khác hay chảy vào cửa biển khác nhưng tôi cứ gọi chúng là Sông Lu. Sông Lu với tôi là một biểu trưng. Cuộc đi vô định, gập ghềnh và bấp bênh, nhưng đôi lúc tôi cũng nhìn thấy suối nguồn. “Sông Lu cùng tôi thức đêm nay”, “Sông Lu và tôi” là bài thơ được sáng tác vào mùa hè năm 1999, ghi nhận vài cuộc hội ngộ hi hữu đó.
Tôi hồn nhiên tắm trong không khí đời sống Chăm, như thế. Mãi khi gặp thầy Phạm Đăng Phụng, tôi mới chú ý hơn đến ngôn ngữ - văn chương, bắt đầu công cuộc sưu tầm có ý thức hơn, không chỉ để nghiên cứu văn chương cổ nhân mà còn để học tập kinh nghiệm sáng tác của cha ông. Thật ra, thầy Phụng không giúp đỡ gì tôi cả. Thầy chỉ hơi tiếc cho hoàn cảnh của mình. Nghiêm Thẩm, Nguyễn Bạt Tuỵ đã có thành tựu về dân tộc học, ngôn ngữ Chăm; trong khi thầy đang ngồi trên kho vàng mà không biết, lại đi nghiên cứu Hán Nôm với thiếu thốn mọi bề, nhất là về tư liệu. Tỉnh lẻ đành vậy. Thầy hỏi: Tại sao các em không thử đi vào lãnh vực này? Thế thôi. Đến lúc làm sinh viên, tôi đã có một tập thơ sáng tác bằng tiếng Chăm và một bộ sưu tập văn học cổ điển Chăm kha khá rồi.
Rời trường Đại học, tôi lần nữa làm vài cuộc đi dài khắp các làng Chăm ở Ninh Thuận. Vừa sưu tầm văn học dân gian, vừa tìm cảm hứng để sáng tác. Có lẽ đây là khoảng thời gian làm việc và sáng tạo hứng thú nhất của tôi. Sau đó, năm năm làm việc ở Ban biên soạn sách chữ Chăm, theo dõi thí điểm dạy và học ở các trường Tiểu học có con em Chăm học, tôi cũng đã có dịp đi nhiều. Để duyệt lại những gì mình thu nhặt được.
Thôi việc ở Ban biên soạn sách chữ Chăm năm 1986, làm đủ mọi việc: kế toán, dạy học, làm ruộng, thú y, buôn bán để có cái ăn vừa viết. Đến năm 1992, cơ bản thì bộ sách Văn học Chăm đã hoàn thành. Như vậy, khi về công tác tại bộ phận biên soạn Từ điển của Trung tâm, tôi đã có một hồ sơ từ vựng đáng kể. Năm năm ở Ban biên soạn sách chữ Chăm, tôi học tập rất nhiều từ thế hệ cha anh; khi phiên dịch tác phẩm cổ điển Champa sang tiếng phổ thông, tôi đã tích lũy được nguồn tư liệu quan trọng; bên cạnh đó, thời gian làm Từ vựng Việt - Chăm vào năm 1975 cũng là một kinh nghiệm quý giá.
Trời ạ! Đó là vào tháng Tư năm 1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều mấy sư đoàn lính cộng hoà về tử thủ Ninh Thuận. Bom đạn gầm rú. Cháy kho xăng phi trường Thành Sơn. Di tản. Tôi cứ bị đóng cứng vào bàn làm Từ điển Việt - Chăm! Cũng như nửa năm sau đó: vào tập đoàn sản xuất, rầy nâu, cơm độn… tôi mượn ở người bạn Dictionnaire Cam - Français của Aymonier và Cabaton, và mải mê ngồi chép. Trong ba tháng ròng rã. Bản thảo Từ vựng thì bị mối xông hai năm sau đó. Còn Từ điển nay đang thất lạc nơi đâu, tôi không biết nữa. Cũng như:
– Từ vựng học tiếng Chăm, 1984, đã diễn trình ở Tọa đàm trí thức Chăm ở Mĩ Nghiệp năm 1990, in ronéo chục bản, nay trong tay tôi không còn bản nào.
– Tự học tiếng Chăm, 1985, được trình bày tại Hội nghị chuyên đề ở Ban biên soạn chữ Chăm, sắp in thì NXB Giáo dục làm mất bản thảo duy nhất. Cuốn này được viết lại để dùng làm giáo trình cho sinh viên ở Trung tâm. Tôi phải viết nó, trong thế buộc.
Hành trình về nguồn của tôi là một đam mê. Bởi đam mê nên không tính toán đến thành tích hay lợi lộc. Làm là làm chơi. Đó là tâm tính Chăm đặc sệt. Hơn nữa, từ tuổi hai mươi, tôi đắm mình trong tư tưởng Nietzsche và Krishnamurti. Bị hai triết gia này ảnh hưởng nặng. Tôi luôn luôn ở tư thế của kẻ sẵn sàng vứt bỏ tất cả. Để lên đường. Do nhập nhằng giữa phá/xây, gom nhặt/làm mới, nghiên cứu/sáng tạo nên hơn hai lần tôi đem cho tất cả những gì sưu tầm được. Làm lại thì luôn mất hứng thú ban đầu. Vì nhiều tài liệu quý bị thất lạc. Ngay Ariya Bini - Cam mà tuổi mười tám tôi còng lưng ra chép từ ciet sách của cụ Huỳnh Phụng nay cũng không còn. Sau này tôi mới hay đó là bản chép tay duy nhất tại Ninh Thuận. Thế mới khổ chứ!
Ngay cả nếu không tình cờ gặp ông Nông Hoàng Thụ (nguyên giám đốc NXB Văn hóa Dân tộc) ở Sài Gòn và “bị” ông thúc, thì bộ Văn học Chăm cũng không biết bao giờ ra đời được. Tư liệu có sẵn, tôi viết chúng vào những buổi tối, sau khi suốt ngày đánh vật với ngôn ngữ, trong thời gian biên soạn Từ điển tại trường Đại học. Nghĩa là tôi làm việc trên mười hai tiếng một ngày. Liên tục trong ba năm liền.
Và tôi đuối. Cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Tôi tìm đến thi ca. Ở khoản này nữa, nếu không có nhà thơ Nông Quốc Chấn trước kia hay bạn hữu sau này giục thì Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng (1997), Hành hương em (1999) cũng không cơ hội chào đời. Mong tìm giải thoát. Nhưng thơ không phải là phương tiện để giải thoát hay cứu rỗi mà nó đẩy tôi đối mặt với vấn đề – gây cấn hơn, quyết liệt hơn. Nói một cách hình tượng: tôi phải nhìn Sông Lu từ một chiều kích khác, đến với Sông Lu bằng những bước đi khác.
3. Động cơ, khó khăn và thuận lợi
Tôi thường nói đùa các bạn rằng ví tôi là công dân Đức, hẳn tôi đã thành triết gia rồi, hay nếu làm người Raglai đi thì tôi chỉ chuyên làm thơ. Đằng này, là Chăm nên tôi phải gánh trách nhiệm. Một trách nhiệm nặng nề – như thiên hạ nói. Bởi tôi biết, Chăm luôn bắt đầu từ con số không, từ con số âm – có lẽ: không mảnh tư liệu ban đầu, không tiền bạc, không nguồn tài trợ. Còn mục tiêu thì xa hun hút. Nhưng tôi xuất phát từ niềm vui. Tôi làm bởi tôi vui thích làm, nó làm cho tôi vui thích, tôi biến nó thành cuộc chơi vui thích. Chứ không vì mục đích to lớn gì cả. Trên bước đường, nhiệt tình của tuổi trẻ đã nâng đỡ tôi, niềm vui đã đẩy tôi lao tới.
Còn cụ thể ư? Có thể nói tôi muốn tìm hiểu tâm hồn dân tộc mình và tôi nghĩ văn chương là biểu hiện trọn vẹn nhất. Bên cạnh đó, tôi cũng mong giới thiệu với thế giới bên ngoài về nền văn chương có bề dày truyền thống lại đang nguy cơ thất truyền. Song, để hiểu thấu đáo nền văn học này, hay nói một cách cụ thể hơn là để đọc và hiểu được các văn bản chép tay đang nằm rải rác các khắp làng Chăm với biết bao sai lệch, dị biệt này, điều kiện tiên quyết là phải nắm thật vững vốn cổ ngữ Chăm. Do đó, trong thời gian sưu tầm, tôi tự mày mò học và học ở nhiều gru (thầy) cách đọc chữ Chăm cổ chép trên lá buông, giấy bản.
Văn học Chăm là lĩnh vực chưa có một nhà nghiên cứu nào chú ý đào sâu, chưa có một dịch phẩm nào nghiêm túc được giới thiệu rộng rãi cho công chúng. Đó là lí do giải thích vì sao trong văn học sử Việt Nam hoàn toàn vắng bóng nền văn học dân tộc độc đáo này. Dẫu vậy, trong cuộc đi dài tìm đến khuôn mặt văn học dân tộc, dường như không có khó khăn hay trở ngại gì cả. Không chủ quan đâu. Mọi cánh cửa mở ra với tôi, mọi vòng tay đón nhận một đứa con Chăm hồn nhiên và nhiệt tình đến với chữ nghĩa cha ông. Ở tất cả các làng Chăm, các cụ dễ dàng cho tôi mượn bản chép tay như của gia bảo về mà không chút ngại ngần; hay đãi cơm cho tôi được ngồi chép, dù đó là thời buổi chúng ta đang trường kì ăn độn (1977-1980). Ví cụ Thiên Sanh Cảnh được xem là một học giả khó tính (theo nghĩa tốt) vẫn thoải mái tiếp tôi mấy lần tại tư gia khi tôi mới lớp Bảy, khi bạn học Lưu Văn Đảo giới thiệu tôi làm quen với cụ; hay sau đó bạn Trượng Ngọc Toán dẫn tôi qua gặp ông Bac Dauh ở Bầu Trúc. Đó là cái may mắn!
Tôi đã nói rồi: thiếu tiền là khó khăn chứ không làm trở ngại. Thiếu tiền thì công việc sẽ chậm hơn nhưng nếu thiếu tình là thiếu tất cả.
Buồn nỗi là tư liệu Chăm còn quá ít. Vốn văn học dân gian được truyền chẳng còn là bao. Văn học viết cũng thế. Văn học Chăm chưa được thừa hưởng kĩ thuật in ấn nên tác phẩm không được nhân bản nhiều. Và rồi mất mát. Hơn mười sáu thế kỉ có mặt, như vậy là quá ít, với một dân tộc yêu thích văn chương - nghệ thuật như Chăm.
4. Phương pháp làm việc
Thế hệ tôi có mươi bạn theo học chữ, tiếng Chăm, yêu thích văn chương dân tộc và có hướng đi vào nghiên cứu. Nhưng theo thời gian, do nhiều nguyên nhân khác nhau, họ đã rớt lại hay bỏ cuộc. Lại hi vọng ở thế hệ nối tiếp thôi.
Còn phương pháp của tôi ư? Chẳng có phương pháp gì đâu, tôi làm hoàn toàn cảm tính, và xin nhắc lại: vô mục đích. Tôi mê ngôn ngữ Chăm và yêu cái âm vang của lời. Thời trẻ gặp lúc các bà Chăm ở quê cãi vã, chửi bới nhau, mấy bọn trẻ chạy túa đi xem, tôi cũng thế. Nhưng khác các bạn, tôi không nhìn hành vi, cử chỉ mà nghe âm vang của lời, rồi ghi. Các tục ngữ, thành ngữ bật ra theo tiếng chửi rủa, cãi vã. Các từ rơi vãi ra, các từ không thể tìm thấy trong bất cứ từ điển nào, của Aymonier lẫn Moussay.
Ngay đến bây giờ, sau khi cùng nhóm nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á soạn xong Từ điển Chăm - Việt, Từ điển Việt - Chăm, mỗi lần về quê hay khi nói chuyện với người đồng tộc, tôi luôn lắng nghe, đãi các từ chưa từng có mặt trong văn bản. Và ghi vào sổ nhỏ (nhỏ thôi – bởi tôi vốn không chịu nổi kẻ làm ra vẻ trịnh trọng, long trọng).
Một câu tục ngữ – một dòng ca dao
nửa bài đồng dao – một trang thơ cổ
tôi tìm và nhặt
như đứa trẻ tìm nhặt viên sỏi nhỏ
(những viên sỏi người lớn lơ đãng giẫm qua)
để xây lâu đài cho riêng mình tôi ở
lâu đài mà một ngày kia họ ghé đụt mưa – chắc thế!
(Inrasara, Tháp nắng)
Liên tục đi, liên tục tìm, lắng nghe và ghi chép. Ví ai làm được vậy thôi cũng có công với cha ông rồi. Đó là việc sưu tầm. Thứ hai là nghiên cứu. Được tiếp cận nhiều phương pháp (hay trường phái) nghiên cứu - phê bình khác nhau đã giúp tôi rất nhiều trong công việc vỡ vạc mảnh đất văn học dân tộc. Văn học so sánh có thể giúp ta nghiên cứu sử thi - akayet hay các sáng tác bình dân Chăm. Nghiên cứu - phê bình trường ca trữ tình thì vận dụng thuyết cấu trúc là thích hợp hơn cả. Trong lúc thuyết xã hội sẽ hỗ trợ ta khám phá cái u uẩn đằng sau thơ ca thế sự. Dĩ nhiên khi viết Văn học Chăm - khái luận, tôi chưa áp dụng triệt để các phương pháp vào cuộc. Đó là lí do vì sao, đã qua mười năm, tôi vẫn chưa có ý tái bản nó, dù nhu cầu từ bạn đọc và các nhà nghiên cứu là khá lớn.
Và cuối cùng: viết liên tục.
5. Ngôn ngữ
Như một ngôn ngữ dân tộc nào bất kì, ngôn ngữ Chăm cũng chịu sự biến động. Vốn từ cũ chết đi hoặc mặc vào nghĩa mới; vốn từ mới được sáng tạo. Nhưng với Chăm, bởi hoàn cảnh đặc thù, lượng từ chết nhiều hơn, nhanh hơn cái được sáng tạo. Mà sáng tạo lại èo uột, chắp vá.
Từ điển Aymonier được ấn hành vào đầu thế kỉ. Đến đầu thập niên bảy mươi, G. Moussay đã tập hợp xung quanh mình các vị trí thức hàng đầu của Chăm lúc ấy để làm ra Từ điển Chàm - Việt - Pháp. Rồi gần ba mươi năm sau, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh với sự chủ trì của Bùi Khánh Thế (có sự cộng tác của Inrasara, Phú Văn Hẳn, Thành Phần, Lương Đức Thắng) trình làng bộ Từ điển Chăm - Việt, Từ điển Việt - Chăm. Mỗi lần từ điển mới xuất hiện là một lần bớt đi từ cổ và thêm thắt từ mới. Một thêm thắt cần thiết nhưng chắc gì có ai dùng!
Cả Ban biên soạn sách chữ Chăm nữa. Gần một phần tư thế kỉ, Ban này cũng đã đẻ ra được vài trăm từ mới phục vụ cho thông tin mới. Đã không ít vị cho họ làm sai bét. Chuẩn hóa chữ Chăm sai, và nhất là sáng tạo chữ mới sai tuốt. Thật sự việc chuẩn hóa akhar thrah của Ban biên soạn là một cách chọn lựa(1). Riêng sáng tác, dù chưa đồng ý lắm, nhưng cũng đành chấp nhận. Làm sao bây giờ?! Bởi còn ai vào đây để làm nữa? Trong khi Ban đã tập hợp được các vị uy tín nhất về ngôn ngữ Chăm. Mà nhu cầu đáp ứng thông tin mới thì rất bức xúc. Có kẻ đề nghị làm như Malaysia làm: vay mượn thẳng tiếng Ănglê chứ đừng đẻ đái gì cả.
Mẹ cha ơi!
Theo thống kê ngày 1.4.1999, dân số Chăm ở Việt Nam hiện nay có: 152.312 người được phân bổ trong mười tỉnh như sau: Ninh Thuận: 61.000 người, Bình Thuận: 29.312 người, An Giang: 30.000 người, Bình Định và Phú Yên: 20.000 người, Đồng Nai: 3.000 người, Tây Ninh: 3.000 người, Bình Phước và Bình Dương: 1.000 người, TP Hồ Chí Minh: 5.000 người. Cư dân Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận theo Bàlamôn và Hồi giáo bản địa hóa, trong khi người Chăm ở TP Hồ Chí Minh và Nam bộ theo tôn giáo Islam. Ngôn ngữ họ sử dụng thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm đã có chữ viết từ những thế kỉ đầu Công nguyên. Đây là thứ chữ vay mượn từ Nam Ấn, qua nhiều biến thể, trở thành akhar thrah và được lưu truyền đến ngày nay. Nhưng hôm nay hầu như chỉ có Chăm Panduranga còn sử dụng thứ chữ này.
Còn tiếng nói? Bởi cư dân Chăm rải rác nhiều khu vực nên ảnh hưởng của “ngôn ngữ bản địa” vào tiếng Chăm nơi đó là cái chắc. Chăm Bình Định, Phú Yên bổ sung tiếng Bana, tiếng Việt vào vốn từ của mình. Chăm An Giang, Tây Ninh... mượn Mã Lai và Việt. Chăm Campuchia từ Khmer. Chăm Panduranga thì đang nhập tiếng phổ thông vào ngôn ngữ nói đến 30 - 40% trong đối thoại hàng ngày.
Ai có thể cản bước tiến [hay bước lùi] của ngôn ngữ Chăm hôm nay? Nói chi vốn từ cũ đã và đang chết, ngay từ mới Ban biên soạn đang dạy trong nhà trường hôm nay cũng hiếm ai ứng dụng nó trong giao tiếp. Buồn. Nhưng, chịu. Trong lúc ngôn ngữ chỉ sống và sinh sản qua sáng tác và giao tiếp cộng đồng. Vậy mà ngày nay, có ai còn sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ? Cộng đồng Chăm thì đang phân hóa: khu vực, tôn giáo-tín ngưỡng, kinh tế-xã hội… Đó là chưa nói đến cộng đồng Chăm ở hải ngoại. Do vậy, một đề nghị duy ý chí như thế thì nhiêu khê biết bao, nếu không nói là hão huyền.
Yêu tiếng mẹ đẻ, mê đắm ngôn ngữ Chăm, tôi đã sáng tác thơ bằng tiếng Chăm đăng báo tường ngay thuở trung học. Rồi mùa hè 1975 tôi đã mở ba lớp dạy chữ Chăm tại Caklaing cho sáu mươi anh chị em lớn nhỏ. Ngay khi ấy, tôi đã nhận thấy nguy cơ suy thoái tiếng dân tộc có cả gần hai ngàn năm văn minh này đang đến gần. Lo, nhưng làm sao? Bởi ngay cả các vị được đánh giá giỏi tiếng mẹ đẻ cũng đã sai chính tả, ngữ pháp rất căn bản. Nền văn học cổ mất đi có thể được cứu vãn, một di tích nát tan có thể được dựng dậy trở lại. Nhưng một ngôn ngữ?
Sáng tác thơ bằng tiếng Chăm không gì hơn là dựng một “ngôi nhà an cư” (chữ của M. Heidegger) của riêng tôi, cho tôi.
6. Văn học Chăm
a. Kho báu
Có lẽ xưa kia kho báu văn học Chăm rất phong phú. Thử điểm danh những thứ kiểm kê được. Về văn học dân gian Chăm có hàng trăm thần thoại, truyện cổ tích, hàng ngàn câu tục ngữ, câu đố, hơn năm mươi bài ca dao, đồng dao đã được sưu tầm. Về văn học viết thì từ thế kỉ thứ II, người Chăm đã có văn bi kí. Đến nay đã có hơn hai trăm năm mươi minh văn được sưu tầm, tuy ít hơn, nhưng có trước văn chương bi kí Khmer. Các trước tác thành văn, đến nay đã sưu tầm được năm sử thi, bảy trường ca trữ tình, mười tập thơ kí sự, ba tác phẩm gia huấn ca. Có sử thi như Akayet Dewa Mưno dài 472 câu, Ariya Bini - Cam 162 câu, hay kí sự bằng thơ như Ariya Ppo Parơng 216 câu. Pauh Cawai dài 132 câu, mỗi câu đều hàm chứa một ý nghĩa như một châm ngôn. Hay Damnưy Cei Xit(2), kể về vị vua Ppo Klaung Garai (thế kỉ XII), mà người Chăm tôn vinh là vị vua anh minh tài ba nhất trong lịch sử dân tộc. Tháp mang tên vị vua này, hiện còn nguyên vẹn ở Phan Rang là một trong những cụm tháp đẹp nhất của nền kiến trúc Chăm. Bên cạnh đó, hàng năm, người Chăm có mươi cuộc lễ, tế, mỗi cuộc với hàng mấy chục bài tụng ca, chứa đựng nội dung hết sức phong phú về đời sống tinh thần dân tộc.
Thời gian qua, nhóm nghiên cứu Chăm tại Malaysia thuộc EFEO đã có nhiều nỗ lực trong việc giới thiệu văn chương cổ điển Chăm đến với thế giới. Đáng trân trọng. Song vẫn có vài nhầm lẫn như nhầm lẫn giữa hư cấu và hiện thực, giữa địa danh lịch sử với địa danh văn chương,… Từ đó dẫn tới những nhận định lệch lạc, tai hại(3).
Về các sưu tầm - nghiên cứu - dịch văn học Chăm của tôi, tôi chỉ xem đó như một khai phá bước đầu. Còn nhiều sơ suất và thiếu sót, cả nhầm lẫn nữa. Đừng giả vờ khiêm tốn: tôi đánh giá khá cao việc làm của mình. Không ở Văn học Chăm - khái luận; ai có tương đối đầy đủ tư liệu đều làm được. Không ở Trường ca Chăm; các bản chép tay đã có sẵn trong ciet sách gia đình Chăm, chịu khó đi, xin photocopy, hệ thống lại, dịch nữa là xong, mà ở Tục ngữ - Thành ngữ - Câu đố(4). Đây là tư liệu cực kì quý, hiếm; và nói không ngoa: chỉ mình tôi có. Tôi phải trả giá nó bằng cả tuổi thanh xuân của mình: đi, lắng nghe, và ghi nhận. Đây là suối nguồn tinh khiết nhất sông Lu ban tặng cho tôi, như là tặng phẩm sâu thẳm dành cho những con người sẵn sàng đến với nó bằng bước chân nhiệt tình, việc làm vô vị lợi và tâm hồn phiêu lãng.
b. Sử thi
Giữa các thuật ngữ văn học thường được dùng trong văn bản: ariya, dulikal, damnưy, kabbon, thể loại akayet là gì? Có ba tác phẩm bằng thơ được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Chăm: Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup.
Akayet được Aymonier dịch là “commencement”(sự bắt đầu) trong cuốn từ điển của ông, còn Moussay dịch là “tác phẩm bằng thơ” (oeuvre poétique). Sau này ông đã dịch lại là sử thi, như ông đã gọi Dewa Mưno là một épopée (L'épopée Dewa Mano). Aymonier đã nhầm lẫn như thế vì ở các thi phẩm này đều “bắt đầu” bằng từ akayet. Còn lối dịch của Moussay vào năm 1971 thì không được tinh xác lắm. Vì một ariya hay damnưy Chăm cũng là một “tác phẩm bằng thơ”. Như vậy, dịch akayet là épopée (sử thi, anh hùng ca, tráng ca) thì ổn hơn cả.
Theo các nhà nghiên cứu gần đây, các dân tộc Êđê, Bana, Giarai, Raglai có thể loại gọi là sử thi với tiếng bản ngữ là: Khan, Hơmon, Hơri, Jukar. Các “thuật ngữ văn học” này đều có quan hệ mật thiết với Chăm. Khan trong tiếng Chăm là akhan hay khan nghĩa là kể; hơmon tiếng Cham là mưmaun (đọc là mưmon) có nghĩa nói thầm; jukar tiếng Chăm là dulikal (hay dalikal) có nghĩa truyện cổ, hơri, tiếng Chăm là hari có nghĩa ngâm đọc. Sở dĩ các dân tộc này vẫn còn giữ chất truyền khẩu của sử thi bởi vì lúc đó họ chưa có văn tự ghi chép thành văn bản như Chăm. Do đó, họ “thuần” hơn, mang tính kể nhiều hơn đọc (pwơc), ngâm (hari). Cả người Chăm ở Bình Định, Phú Yên cũng mang đậm chất dân gian trong sử thi.
Người Chăm vùng xuôi và khu vực Panduranga (Phan Rang, Phan Thiết) ngược lại, có chữ từ thế kỉ thứ IV (bia Đông Yên Châu). Họ đã ý thức chép truyện thành văn bản. Ví dụ bản Akayet Dewa Mưno hiện nay, được sáng tác và chép lưu truyền từ đầu thế kỉ XVII. Bước ngoặt đó thể hiện ngay ở câu đầu của sử thi nổi tiếng này:
Dulikal Dewa Mưno twơk twei ariya.
Truyện (cổ) Dewa Mưno được sáng tác (chuyển) theo thể thơ
Như vậy trước khi có sử thi thành văn, Dewa Mưno được kể như truyện cổ tích. Cũng vậy, một văn bản ở Pháp có tên Pram Dit Pram Lak mà G. Moussay cho là sử thi (akayet) trong lúc người Chăm ở Phan Rang vẫn còn gọi là truyện cổ (dalikal). Văn bản thể hiện nó bằng văn xuôi. Một điều cần lưu ý thêm là Đam San của Êđê rất giống Dam Xơng (hay Dam Xen) của Chăm ở cốt lõi nhưng cách kể hay thể hiện thì hoàn toàn khác, đến nỗi Dam Xơng của Chăm nay chỉ được coi như một truyện cổ rất ngắn, dấu ấn cũng khá mờ nhạt trong tâm thức Chăm. Trong khi nó lại là niềm hãnh diện lớn của dân tộc Êđê.
c. Truyện cổ
Truyện cổ Chăm là thể loại văn học được chú ý sưu tầm, ghi chép sớm hơn cả. Từ cuốn Contes Tjames in năm 1887(5) đến ấn phẩm mới nhất của Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm - Ninh Thuận(6), việc công bố thể loại văn học dân gian này đã có thành tựu nhất định. Thế nhưng, do các thao tác nghiên cứu chưa được đảm bảo nghiêm ngặt nên đã xảy ra nhiều tình trạng rất khó xử cho nhà nghiên cứu đi sau: 1. Truyện được sao đi chép lại: đây là trường hợp gần như phổ biến. 2. Nhầm lẫn giữa truyện cổ và sáng tác thành văn: “Hoàng tử Umrup và cô gái chăn dê” với Akayet Um Mưrup. 3. Các nguồn sưu tầm không được ghi đầy đủ hoặc ghi qua loa, không gây được sự tin cậy cho giới chuyên môn. 4. Không có đối chiếu dị bản ở các vùng, miền người Chăm sinh sống. 5. Các chú thích sai lạc, tuỳ tiện: ví dụ trong Tuyển tập truyện cổ tích các dân tộc ở Việt Nam(7) ghi: “Truyện này (Cucai - Marut) được kể theo một truyện dài bằng thơ trên 2000 câu của đồng bào Chăm”. Ngay cả ấn phẩm mới nhất, khá dày dặn là Truyện cổ dân gian Chăm(6) cũng đã không khắc phục được hết các khuyết điểm trên. Dễ gây cho người đọc như đang đọc một ấn phẩm phổ thông chứ không phải một công trình sưu tầm folklore nghiêm túc. Từ những lỗi lầm trên (nhất là ở lỗi 1) nên nhiều nhà làm tổng, tuyển tập khi chưa phân tích kĩ đã vội đưa chúng vào bộ sách của mình rồi gán chúng là văn học Chăm.
Có một ấn phẩm mang tên Truyện thơ Chàm(8). Dịch giả gồm một người Kinh và một người Chăm (Quảng Đại Cường). Tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng làm tư liệu tham khảo. Và mặc dù năm 1991, G. Moussay có bài đối chiếu, so sánh (và bình phẩm) truyện “Hoàng tử Um Mrup và cô gái chăn dê” với văn bản Chăm: Akayet Um Mrup trong “Um Mrup dans la littérature Cam”(9) thế mà năm 1992, nó được in lại trong Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam(10).
Nhưng đây có phải là một tác phẩm dịch văn học Chăm không, hay chỉ là những câu chuyện có nhiều nét xa lạ với các văn bản Chăm hiện có, hoặc chỉ là các “phóng tác” và “tưởng tượng” như Moussay và Inrasara đã nhận xét như thế? Và mặc dù chính bản thân tôi với bài “Xung quanh việc công bố Akayet Dewa Mưno, đặt lại vấn đề nghiên cứu văn học cổ Champa” đã đăng trên ba tạp chí chuyên ngành, in thành sách rồi phê phán nó trên các diễn đàn khoa học, nó vẫn được in lại trong Tổng tập Văn học dân gian Việt Nam V(11). Rồi Tổng tập Văn học Việt Nam nữa!
Hai dấu hỏi quan trọng nhất mà ít nhà làm tuyển, tổng tập chúng ta đặt ra: đâu là văn bản gốc? Chúng được sưu tầm ở đâu, bởi ai, mức độ tin cậy đến đâu?
Trong nghiên cứu, sai một li đi một dặm là vậy. Khốn khổ thay!
7. Buồn vui cuộc đi
Vui, rất nhiều. Nhưng cái gây cho tôi xúc động nhất là sau ba tháng Văn học Chăm II - Trường ca xuất bản, trong dịp dự Ramưwan tại làng Văn Lâm - Ninh Thuận, một ông cụ Chăm bố vợ của người bạn bệnh nan y sắp qua đời, cho mời tôi sang nhà dùng trà. Bằng giọng run run, ông nói: làm được như cháu quý lắm, chưa ai trước cháu tập hợp chữ nghĩa ông bà nhiều như thế cả. Lại cả dịch nghĩa và chú thích từ khó nữa. Hai tháng nay chú chỉ đọc mỗi mình nó. Qua bên kia, chú sẽ nói với ông bà. Thú thật, dù đã từng nhận được bao nhiêu lời khen, khích lệ (đôi khi cũng hơi quá) bấy lâu, nhưng hôm nay tôi đã run lên bần bật. Không ngờ việc “làm chơi” của mình lại được bà con trân trọng đón nhận như thế. Sau đó không lâu, thêm vài bạn trẻ viết thư tâm đắc với việc làm của tôi.
Buồn cũng lắm. Đáng buồn nhất là ngộ nhận. Ngộ nhận dài hạn. Anh em, người thân, người dưng. Từ đó, hiềm khích không đáng có. Thật không nên có trong xã hội Chăm chật chội này. Nhiều chân trời bao la mở trước mắt chúng ta, mời gọi chúng ta tung cánh; chứ gì mỗi nghiên cứu văn hóa? Mà nghiên cứu là nghiên cứu đa ngành và liên ngành, tương tác và hỗ trợ; làm gì có chuyện triệt tiêu nhau, mà lấy làm điều!
8. Giải thưởng
Tôi nghĩ, không ai sáng tác hay nghiên cứu với ý định sẽ ăn một giải nào đó cả. Nên giải đến với tôi thật ngẫu nhiên và đột ngột. Cả tác phẩm nghiên cứu đầu tay lẫn sáng tác đầu tay đều có. Lạ.
Giải thưởng nghiên cứu năm 1994 của Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinoise (Sorbonne - Pháp) dành cho Văn học Chăm I quả là một bất ngờ đối với tôi. Dự hội thảo quốc tế về Tư liệu và cách tiếp cận Việt Nam tại Aix–en–Provence, giáo sư Bùi Khánh Thế Trưởng khoa Đông phương học (Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh) có mang theo cuốn sách để giới thiệu. Về nước, Giáo sư cho biết công trình sẽ được tặng thưởng. Nửa tháng sau, tôi nhận giấy báo. Vào đầu thế kỉ này, một học giả uy tín người Pháp P. Mus đánh giá văn học Chăm có thể chỉ tóm gọn trong vài mươi trang sách, nghĩa là không gì đặc sắc cả. Thế mà hôm nay, có kẻ chứng minh ngược lại. Và theo thiển ý, phần thưởng như một xác nhận cho lí lẽ đó. Sau đó, năm 1996, tôi có một giải thưởng nữa của Hội đồng dân tộc (Quốc hội khóa IX) ttặng cho tác phẩm xuất sắc nhất trong năm của NXB Văn hóa Dân tộc: cuốn Văn học Chăm II - Trường ca. Đó là niềm vinh dự lớn. Chẳng những là phần thưởng xứng đáng cho công sức tôi mà còn cho cả cộng đồng Chăm nữa.
Nhưng có lẽ phần thưởng quan trọng nhất, đáng quý nhất là tấm lòng bà con Chăm dành cho công trình nghiên cứu cũng như sáng tác của tôi. Nó là duy nhất và không gì thay thế được!
9. Nhìn về tương lai
Về lực lượng nghiên cứu: hiện nay không chỉ những người ngoại quốc như ở đầu thế kỉ mà còn có công dân Việt Nam, cả Kinh lẫn Chăm. Riêng người Chăm ở trong nước, Thành Phần và Bá Trung Phụ có luận án phó tiến sĩ. Luận văn cử nhân của Phú Văn Hẳn, Đàng Năng Hòa. Văn Món và Thông Thông Khánh mỗi người đã có một đầu sách. Ban biên soạn sách chữ Chăm (Thuận Hải) thành lập năm 1978 đã có một nhóm nghiên cứu mới. Đặc biệt ở TP Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu về Chăm ở Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á do Giáo sư Bùi Khánh Thế chủ trì, đã xuất bản một số công trình quan trọng về ngôn ngữ.
Ở nước ngoài, Po Dharma (đang công tác ở CHCPI thuộc Đại học Sorbonne, Pháp), ngoài luận án tiến sĩ về tư liệu hoàng gia Chăm, còn có tác phẩm Panduranga(12) và nhiều bài viết giá trị. Abdul Karim là một khuôn mặt mới, đáng kể. Cũng nên hi vọng vào tên tuổi cũ làm việc lại: Dohamide và Dorohiêm.
Điều đáng mừng hơn nữa là đại bộ phận quần chúng đã có cái nhìn thoáng hơn về dân tộc, một quan điểm lành mạnh về dân tộc, công nhận các cống hiến xứng đáng của văn hóa dân tộc thiểu số vào nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam.
Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Trong bài “Vấn đề xã hội - văn hóa Chăm, nghĩ và làm”(13), tôi viết: “Từ hai mươi năm nay, mặc dù ở TP Hồ Chí Minh không thiếu người Chăm làm việc trong các trường Đại học hay cơ quan khoa học, nhưng chưa một ai có tác phẩm nào viết về dân tộc mình được xuất bản cả, chứ chưa nói đến tạo một tiếng nói có trọng lượng. Như vậy, qua lớp sương mù của quá khứ, nếu trí thức Chăm không giúp được quần chúng Chăm hiểu nền văn hóa dân tộc mình và từ đó, hiểu rõ mình thì làm sao người ngoài có thể hiểu đúng chúng ta? Trong khi lúc này, thực sự chúng ta muốn gì?
Một dân tộc Chăm hiểu biết lịch sử - văn hóa dân tộc, ý thức được vị thế của mình trong lòng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập. Một dân tộc Chăm đủ ăn, đủ mặc đồng thời là một dân tộc đoàn kết, sống đầy tính trí tuệ và nhân bản. Các thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam hiểu nhau, xem nhau như ruột thịt để cùng xây dựng và tiến bộ.”
Người Chăm có truyền thống hiếu học, nhưng ít có cơ hội hay điều kiện để phát triển, chưa có được sự đầu tư dài hơi. Vấn đề dạy và học tiếng Chăm vẫn còn dừng lại ở cấp Tiểu học. Sau đó, các em chưa có sách, báo hay tạp chí viết bằng tiếng dân tộc mình để đọc thêm. Các nhà nghiên cứu mảng đề tài Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh mạnh ai nấy làm, chưa có sự tập trung nghiên cứu định hướng. Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Chăm ở Ninh Thuận là một bộ phận thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, kinh phí hạn hẹp, chưa làm được gì nhiều. Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á, thuộc Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh có một tổ nghiên cứu về Chăm, nhưng đã ngưng hoạt động từ năm 1997. Người Chăm nay đã có cả ngàn người trình độ Đại học và trên Đại học trên tổng số hơn 150.000 dân, nhưng mới có mặt bằng mà chưa có đỉnh cao.
Cạnh đó, Chăm hôm nay chưa thật sự nhập cuộc, như còn ở ngoài lề. Inrasara được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, ít anh em Chăm biết mà chúc mừng. Thì chuyện cá nhân Sara. Đành vậy! Nhưng tại sao Trượng Ngọc Anh, Đại biểu Quốc hội khóa IX, đại đa số Chăm không hay không biết? Các bài báo, cuốn sách viết sai về Chăm và văn hóa Chăm, đã không vị nào có bài trao đổi. Thì chuyện khả năng chuyên môn. Cũng đành! Nhưng tại sao ngân sách chi cho dân tộc thiểu số ít có phần cho Chăm, mà chúng ta chẳng có ai lên tiếng, dù không ít làng Chăm còn nghèo, còn quá nghèo?
Chúng ta chưa nhập cuộc. Chưa hết mình cho công cuộc đổi mới đất nước, chưa hết mình vào bảo tồn văn hóa dân tộc mình để làm phong phú nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam. Tagalau, tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm do tôi và một số anh em trí thức Chăm góp sức làm, cần xem là một khởi động cho cuộc hoà hợp văn hóa, hòa hợp dân tộc lâu dài.
Nhìn vào thế hệ tương lai thì cũng chưa thấy lạc quan lắm. Cuốn theo dòng xoáy của văn minh vật chất hiện thời, giới trẻ Chăm đang xa rời nguồn cội, trong lúc những gì cha ông để lại ngày càng bị hư hao, mất mát. Mà theo tôi, bên cạnh trách nhiệm chung của các tổ chức, cơ quan nghiên cứu, sự say mê của những cá nhân xuất sắc đóng một vai trò quyết định.
Nói đến người Chăm là người ta nhớ ngay tới một nền kiến trúc phát triển rực rỡ, điển hình là Khu thánh địa Mĩ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 29.11.1999, một nền điêu khắc phong phú và đặc sắc trong đó “có nhiều kiệt tác có thể sánh với những tác phẩm đẹp nhất của nghệ thuật thế giới” (Trần Kỳ Phương), bên cạnh một nền văn học, cả văn học truyền miệng lẫn văn học thành văn mà nếu biết khai thác, nó cũng sẽ cống hiến cho nền văn học chung những hương thơm cỏ lạ đáng trân trọng.
Ngoài ra còn phải có cả đóng góp của con người ngày hôm nay nữa!
Đà Lạt - Sài Gòn, 1998-2001.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa xã hội Chăm, Nghiên cứu & đối thoại. Tiểu luận, Phê bình của Inrasara. NXB Văn học, 2003 & 2008.
www.trieuxuan.info
____________________________
Chú thích:
(1) Chuẩn hóa chữ viết Chăm, Ban biên soạn sách chữ Chăm - Ninh Thuận, 1985.
(2) Có thể tìm đọc các tác phẩm này trong: Inrasara, Văn học Chăm I - Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994; Văn học Chăm II - Trường ca, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1996.
(3) Po Dharma,… , Nai Mai Mâng Mâkah - EFEO, Malaysia, Kuala Lumpur, 2000, p. 26.
(4) Inrasara, Văn học dân gian Chăm - tục ngữ, thành ngữ, câu đố, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
(5) Landes, A. ..., Contes Tjames, Exc, et Rec. XIII, Paris, 1887.
(6) Trương Hiến Mai, … Truyện cổ dân gian Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2000.
(7) Tuyển tập truyện cổ tích các dân tộc ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 1987, tr. 59.
(8) Tùng Lâm, Quảng Đại Cường, Truyện thơ Chàm, NXB Văn hóa, H., 1982.
(9) “Um Mrup dans la littérature Cam”, trong Le Campa et le Monde Malais, Paris, 1991, pp 95-107.
(10) Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam III, NXB Khoa học xã hội, H., 1992, tr. 469-578.
(11) Tổng tập Văn học dân gian Việt Nam V, NXB Giáo dục, H., 1999.
(12) Po Dharma, Le Panduranga 1802-1835, EFEO, Paris, 1987.
(13) Inrasara, Các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.