Em Phúc!
Trong thư báo tin mừng về cái kết quả rực rỡ của mười năm em đèn sách, em có ngỏ cho anh hay nỗi phân vân của em trước sự chọn nghề. Hồi còn học ở trường, em đã làm nhiều thi ca; em đã đọc nhiều tiểu thuyết; em đã dùng những điều ghi nhớ được trong các danh văn mà chắp chểnh thành dăm ba cái đoản thiên; rồi em tự tín như vậy là có tài, có thiên tài và quyết định trở nên thi sĩ! Trường ngoại giao, thầy em đã dùng hết thế lực để đưa em vào, em cho là không thích hợp với cái thói quen độc lập của em, của tuổi trẻ.
Em đã chín chưa? Em đã biết rõ rằng sau này em sẽ làm nghề ngỗng gì chưa? Em còn trẻ, em mới mười chín tuổi đầu, em nhìn đời còn thấy tươi đẹp, vị đời em cũng mới nếm qua ngon ngọt, chứ chưa từng biết đến chua cay. Liệu đấy: nỗi chua cay em biết tới nơi rồi!
Em mơ màng những cái vinh quang mà, khốn nạn, em có biết con đường gai góc em sẽ phải qua để không chừng khi tử hậu mới đến được những cái vinh quang ấy chăng?
Em chưa bước một bước nào về cái mục đích lý tưởng ở xa ngoài cõi đời ấy, em chưa mở cái động cơ nó vò xé tim em, thì hãy chịu khó nghe anh; và, nếu sự can đảm của em không do dự trước sự đau khổ đợi chờ em, em cứ việc tiến lên, cứ hăng hái tiến lên, đừng ngoái lại, đừng run sợ, đi, điềm nhiên và nghiêm nghị, cố thâu cho được những ý tưởng quang minh. Hãy bắt chước thầy Đường Tăng, không nề lao khổ, vượt nghìn dặm gian nguy để cầu chân giải.
Em sẽ từ bỏ cái thế giới quyền quý để bước lên cái thế giới trí tuệ, em sẽ từ bỏ cái thế giới uể oải mà lên cái thế giới nấu nung. Em liệu, gắng gỏi làm việc đi, chớ ngừng, chớ nhãng, thu hết khí lực để đánh một miếng quyết liệt, giống như cây to nọ gạn lọc nhựa mình trong hàng mấy mươi năm để rồi phát sinh một cánh hoa đẹp vô song.
Đừng vội nhé; hãy nhìn kỹ quanh mình trước khi nhúng tay vào việc, nhất là đừng có hoáng mắt về những cảnh ngộ nó chờ em. Người đời vẫn yên chí rằng bọn văn nhân sống một cách hoang dâm vô độ, rằng những thú vui quái ác là những cái họ ưa tìm. Nhưng, em ơi, nếu em được thấy tận nơi cái cách văn nhân sinh hoạt, em sẽ ngạc nhiên biết chừng nào về sự khổ hạnh lại thán phục biết chừng nào sự xả thân vong kỷ của hạng người ấy! Em mở sách Rênê, thử đọc lại câu châm ngôn thiên cổ này xem: “Văn nhân thuộc về dòng dõi thần minh; văn nhân chiếm giữ cái tài hoa độc nhất mà Cao xanh đã làm cho thế tục. Đời của văn nhân là cái đời vừa thơ ngây vừa trác tuyệt; văn nhân bao giờ cũng giản dị hơn hết thảy mọi người; văn nhân nói chuyện hoặc dớ dẩn như con trẻ hoặc thâm thuý như các vì bất tử; văn nhân giảng nghĩa các định lệ của vũ trụ rất tài, nhưng nếu bảo suy tính một việc tầm thường của bọn dung tục thì, thôi, đành chịu”.
Gần văn nhân, em sẽ thấy kiếp tài hoa thường bị vùi dập dưới những lớp sóng cơ hàn mà tấm lòng thơ không lúc nào không bị những nỗi sầu thương day dứt.
Phải lánh xa những nỗi dày vò của thực tế, văn nhân ẩn mình vào cõi mộng để thở than với những đấng thần minh để lắng nghe những mặc tưởng, để yêu dấu những cái bóng mĩ miều do tưởng tượng của văn nhân cấu tạo ra. Trong lúc ấy, văn nhân mặc quách tiếng eo sèo câu phỉ báng hoặc những lời phản đối dèm pha của hạng dung tục. Sống giữa xã hội, văn nhân tự họp thành một phái riêng nói riêng một thứ thần ngữ. Vượt qua hết, khinh thường hết, văn nhân cặm cụi, mải miết theo đuổi sự khoái lạc tinh thần. Nhiều phen giữa lúc đang mơ màng những cảnh Bồng Lai, những cuộc Giao Đài hội ẩm, những cái vuốt ve của Tiên nữ, văn nhân nằm chết còng queo trên sàn gỗ mọt, bên mẩu bánh khô... Cái bệnh ấy giết người dễ lắm em ạ. Anh biết, vì anh trải việc đời hơn em. Làm kẻ tiên phong cho nhân loại trên con đường mai hậu, làm bọn khai sơn phá thạch đi tìm những nền luân lý, những sự tín ngưỡng, những tôn giáo mà người ta chưa ai từng thấy; bị vu cáo vì không kẻ hiểu mình; bị khinh rẻ vì phải nhiều tiếng thị phi vu cáo; bị ruồng rẫy vì đã bị khinh rẻ, văn nhân thấy mình sa cơ thất thế, nghèo khổ lẻ loi giữa đám đông tư bản, thuyền thợ, con buôn mà văn nhân vẫn mỉa mai bằng cái danh hiệu trưởng giả, một câu thống mạ nặng nề nhất của tiếng nước ta.
Vẫn phải chen chúc với bao kẻ bỉ tiện quanh mình, văn nhân chẳng hề hạ giá xuống ngang hàng với họ và bao giờ cũng vẫn giữ phẩm cách riêng không hỗn tạp, ví như dòng sông đổ vào cái hồ đục, vẫn giữ màu trong.
Số phận của văn nhân là phải người khác hiểu nhầm, là phải đau ngấm, khóc thầm, nhưng ngoài môi vẫn giữ nụ cười tươi để cho cái đám đông thô lỗ khỏi chê bai.
Em tất sẽ nói: chính những cái ấy là sức mạnh của văn nhân; nếu văn nhân ít khổ cực thì làm sao có thể trở nên vĩ đại. Em cũng nhớ câu của Jean Paul: “Linh hồn ta như một cánh hoa, phải vò nát mới thấy nhiều hương đặm”. Đúng lắm!
Vậy cái gì sẽ cứu vớt văn nhân ra khỏi những nỗi hành hạ điêu đứng ấy? Chính là cõi lòng tự tôn vậy! Tự tôn, cái thói quen của những người muốn hóa kẻ khác làm hình nhân máy để cho mình vận động; tự tôn, cái đức tối cao nó giúp ta nhận thấy sức ta. Tự tôn, ta sẽ chịu hết thảy các nhục hình, tuy nó làm cho các nhục hình ấy thêm tàn khốc. Em ơi, đến khi em cần phải tự chủ, em liệu có sờn lòng chăng?
Em đã nghĩ về những đức tính em cần phải có và hiểu rõ những đức tính ấy chưa? Nhà nghệ sĩ, nhất là văn sĩ phải như thứ cây kia có đủ hai tính chất âm dương; phải vừa thái nhiên vừa đa cảm, vừa có khối óc của nam nhi, vừa có trái tim của phụ nữ, anh hùng vì can đảm, vượt lên trên dục vọng cũng như con hải âu bay liệng trên cảnh phong vũ ba đào.
Chưa hết đâu! Em đã nghĩ đến sự nghèo khổ chưa? Vẫn biết, tuy không giàu, em đã có một cái gia bản đủ cung cho một cuộc sống bình thường. Đã đành thế, nhưng cái gia bản ấy có thể mất đi được, rồi một ngày kia, khi bừng mắt dậy, em sẽ thấy mình tay không. Bể dâu là lẽ thường. Lúc ấy em tính sao? Em sẽ làm việc ư? Em sẽ viết văn đem bán ư? Hỡi đứa em quý mến và ngây thơ của anh ơi, cổ lai có nhà văn nào đem văn chương ra kiếm được tiền bao giờ!
Em cạy cục mặc lòng, nếu muốn giữ mình như sen trắng, em sẽ thấy lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da. Hay lúc bấy giờ, em sẽ làm nhà viết báo về chính trị, cái nghề buồn đến khóc được? Hay em sẽ bắt chước nhà văn sĩ thượng thư kia, cũng nói rằng: Văn chương, nếu ta biết tùy lúc thôi nghề, thực có lắm cái lợi; nó là cái hang cho ta lên tới những địa vị béo bở an nhàn. Em xem gương nước Pháp đối đãi với các văn nhân của mình sao thì rõ. Chẳng qua đều như thời Lui thập tứ, người ta đã để cho: Moliere không có ba thước đất vùi thây mà Corneille thì thiếu cả đến giầy đi!
Lúc em cám cảnh nghèo là lúc em bắt đầu cuộc luân lạc. Ôi! Ghê gớm thay! Phí đời mình cho những mối tranh đoan vô hứng thú, tổn thời giờ vào những việc mưu y, mưu thực lại nhiều hơn để viết tập văn hay, phải chịu những nỗi đày đọa, tủi cực, thất vọng của cái nghèo, phải lẩn lút trong những xó nhà lạnh lẽo về mùa đông, nóng thiêu về mùa hạ, phải nằm nhà thương khi bệnh tật và cố ở lại đấy lâu ngày vì ít ra còn có cái ăn, phải tìm trong sự dâm cuồng để lấy một chút an ủi không bao giờ có, phải cảm thấy khí lực tiêu mòn đi, phải làm cái việc chẳng đủ cơm ăn, phải kẻ này lợi dụng, kẻ khác bán rao, hết thảy thờ ơ hắt hủi, sống như thế bao năm tháng cho tới khi gần tới cõi vinh quang thì vừa kiệt lực, đấy đời luân lạc!...
Em liệu đấy! Đừng có thả mồi bắt bóng! Cái việc chính ở đời chẳng là sự vinh thân phì gia đó ư? Em chớ mày mò tới những đường gai góc khi khu, hãy theo lối thênh thang đã mòn nhẵn dưới bao vết chân đi. Em nên nhận lấy, nhắm mắt nhận lấy cái nghề thầy em muốn cho em. Đời em sẽ được tươi tốt và sẽ khiến cho lắm kẻ thèm thuồng. Em sẽ có bộ cánh bảnh bao, có thanh gươm cẩn, có vô số huy chương; em sẽ vẻ vang, nghĩa là sẽ mất hết bản sắc, sẽ mài nhẵn những cái gì mà tâm tính em khác thường để cho hợp với khuôn khổ thường. Các bà cụ già sẽ khen em là người thanh niên đặc biệt, các cô xuân nữ sẽ khen em là gã bảnh trai, các vị phu nhân sẽ vì em liếc mắt đưa tình; em sẽ được theo quan Chánh Sứ, sẽ có một chỗ ngồi trong các cuộc cãi vã của tụi nghị viên; em sẽ giơ tay đón các vị phu nhân, sẽ nhặt giùm nàng Công chúa bó hoa rơi, sẽ cầm hầu quạt cho bà công tước, rồi các bạn ngoại giao trẻ tuổi sẽ vì em mà khô héo lửa ghen hờn. Ban ngày, em sẽ ngồi trong buồng giấy, sẽ làm những việc tối quan trọng như đóng dấu xi vào công điệp, dán phong bì, quấn thuốc lá, vót lông ngỗng với ngáp dài. Ở xứ này chán, em đổi sang xứ khác, cũng vẫn những công việc ấy. Rồi, năm em ba mươi tuổi, thầy em sẽ cưới cho em một cô tiểu thư quyền quý để em nhờ lấy được cao thăng. Cụ Thượng sẽ ký vào hôn ước của em, vợ em sẽ đẻ cho em một xốc con nó chẳng giống em chút đỉnh rồi chiều chiều, ở sở về em đùa giỡn với chúng nó, vui sướng chừng nào!
Viết tới đây, anh nghe thấy em lẩm bẩm: “Anh ấy giễu mình một cách đáng buồn và khốn nạn”.
Phải, khốn nạn và đáng buồn thực, vì chính anh nói đến đây cũng ngao ngán lòng. Than ôi, nhưng đó lại là sự thực ở đời vậy. Trước hai cái địa vị: một bên là sự vô dạng nhưng vẻ vang, một bên là tài tình nhưng khốn cực, nếu em còn lưỡng lự, đời sẽ chê em là kẻ thái ngu. Em chọn đi! Nhưng nếu em còn giữ được tấm linh hồn hăng hái và thanh cao như anh đã thấy hồi em còn nhỏ, nếu em thực đáng ăn miếng cơm hẩm của trượng phu và cam tâm đau đớn vì một cái lý tưởng thì em đừng phân vân gì cả. Em có cái can đảm ấy, anh sẽ bảo em: Khá lắm, anh cầu nguyện đấng Cao xanh giúp em được bền lòng.
Em quả quyết đi! Trơ như đá vững như đồng, hãy tiến lên, hãy coi thường các trở lực, chớ lùi, chớ sợ, như nhà chiến sĩ quyết phơi gan mật giữa sa trường. Em muốn làm văn sĩ? Thì hãy yêu văn chương hơn hết, hơn cả bạn hữu, hơn cả tình nương, hơn cả chính mình em. Văn chương, vị nữ thần ấy hay ghen lắm, chẳng chịu có tình địch bao giờ. Em nên nhớ tới các bậc đã tận tụy vì văn chương và nên coi làm một sự vẻ vang được nối gót các Ngài, vì các Ngài là những bậc thiên bẩm của Thượng đế tạo riêng ra.
Em nên rỏ đến giọt mực, giọt máu cuối cùng. Em hãy hy sinh một cách hoàn toàn tuyệt đối. Và cần nhất chớ bỏ tính tự lập. Không tự lập thì còn đâu lực lượng với đức tính hay! Dù sao em cũng đừng hối hận là trước kia chẳng chọn đường khác mà đi. Hãy ném tư tưởng xa hơn cái chết và cứ mong mỏi hoài! Em ơi, em biết đấy, kẻ gieo hạt giống thường có được gặt đâu! Nhưng hạt đã gieo rồi chẳng bao giờ mất được: nó nuôi người hay nuôi muông thú, có ngại gì! Chỗ nào nó có ích lợi, Cao xanh sẽ cho nó được xanh ngọn nảy cành.
Thuật theo ông Hàn Lâm
Maxime du Camp
Theo đông Phương Báo, 5- 12- 1934.
TÌNH VỚI CẢNH
Tình yêu thiên nhiên phát ra trong lòng người từ bao giờ là một điều ta không thể quyết định được. Hình như nó lẩn trong sự quan hệ của người với cảnh vật xung quanh.
Dù thời nào cũng vậy, loài người vẫn sống mật thiết với hoàn cảnh của mình. Chính hoàn cảnh cung cho người những thức cần để sống. Nhưng, sự liên lạc hai bên với nhau nếu còn do mục đích vị lợi thì chẳng bao giờ có được cái phong thú của cảm tình.
Thiên nhiên không đủ những thức cần để người ta dùng ư? Người sẽ cưỡng thiên nhiên phải cho mình thỏa nguyện. Nghĩa là, đối với thiên nhiên, con người vẫn giữ thái độ một kẻ ăn xin có khí giới: Nào đuổi theo những loài chim, thú để bắn giết hoặc để bắt về nuôi. Nào cuốc xới đất hoang để ép sinh màu mỡ. Gió, mưa, sấm, chớp, người coi là thù địch cả vì người tự thấy cuộc sống của mình luôn luôn phải tùy theo sự đổi thay khe khắt của thời tiết éo le.
Thành thử, lúc đầu, người ta phải chật vật, đau đớn lắm mới hòng chống lại với thiên nhiên mà sự quan hệ hai bên chỉ thấy trong tấn thảm kịch mưu sống hàng ngày.
Đến bây giờ cũng vậy, mỗi khi thấy hoa màu bị tàn phá bởi nước tràn, nắng cháy, người nhà quê bất lực vẫn băn khoăn tự hỏi: “Rồi ra lấy gì mà ăn?”. Câu ấy là tiếng vang của sự lo lắng hồi xưa. Dân quê đời này còn không biết có tình yêu mến thiên nhiên, nói chi loài người khi man mọi.
Xem như vậy đủ biết rằng cảm tình đối với thiên nhiên mãi sau này mới phát sinh trong lòng người, khi nhân loại hay một phần nhân loại, nhờ hợp quần, đã vượt lên trên nỗi khốn quẫn hàng ngày, có thể bình tâm ngắm bầu trời sắc nước hoặc chờ hoa xuân nở, đợi trăng thu tròn. Sự hoạt động của người từ trước vẫn cục cằn sống sượng, khi ấy, trở nên thanh nhã phong lưu. Đã được thiên nhiên cho ấm cật no lòng, người đem ngay cảm tình, tư tưởng của mình gán vào thiên nhiên, hóa thiên nhiên thành tấm gương phản chiếu bóng mình: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Và lấy thiên nhiên làm đề cho văn chương mĩ thuật, làm cái khung mĩ lệ của ái tình.
Trong thời gian phải tranh đấu với thiên nhiên, người ta vì đã biết họp thành đoàn thể mà đắc thắng. Đoàn thể giúp người được thắng lợi và giữ cho sự thắng lợi ấy bền lâu, cho người ta có đủ thức cần, nhưng đoàn thể lại buộc mỗi người phải hạn chế hoặc hy sinh hẳn những thiên linh riêng mình. Vì thế, sự giao tiếp giữa người và cảnh mới đổi sang một trạng thái mới.
Thoạt đầu, đoàn thể cần cho người bao nhiêu thì nay đoàn thể trở nên khó chịu cho người bấy nhiêu. Sống trong đoàn thể, mỗi người bắt buộc phải luôn luôn gắng sức, phải xung khắc với kẻ quanh mình, phải ganh đua, ghen ghét, phải giả hình, phải tức giận, phải làm những tội ác ngược với lương tâm.
Còn thiên nhiên, trái lại, là cõi nghỉ ngơi mơ mộng, là nơi sướng thích tự do.
Lắm người giàu tính tự ái, không chịu uấn mình theo khuôn sáo của đời chung chạ lại thêm bẩm tính tài hoa, như Rousseau, Châteaubriand, Nguyễn Du, Lý Bạch, đều tìm cách xa miền thành thị, lẩn lút yên hà, đem những nỗi nhớ, niềm thương gửi vào cảnh đẹp.
Vẫn biết trong tình yêu thiên nhiên có lắm phần mơ mộng. Nhưng chính vì thế tình yêu ấy có một sức mạnh phi thường. Những thực trạng của thiên nhiên: Con đường hoa râm mát, sắc mây chiều tốt tươi, làn nước long lanh, mùi hoa đượm nhạt đều khiến cho những tình cảm êm đềm, những ảnh tượng kỳ tuyệt dễ phát sinh ra trong linh hồn người ta. Thiên nhiên, như vậy là nguồn cảm hứng, là máy dẫn ý rất ly kỳ. Người ta, mỗi khi chán nản, chắc ai cũng muốn theo gương Đào - Cúc - Nhân, hoặc “bước lần theo ngọn tiểu khê, nhìn xem phong cảnh...” hoặc “đề huề lưng túi, mặc cho ngàn liễu rung cương sóng gợn tình” mà ngâm câu quy khứ.
Về đi thôi, về đi thôi!
Lợi danh ngán lắm, ai ôi! Đi về!...
Những lúc ấy, thiên nhiên, tri kỷ âm thầm của ta mới đem những cảm tình, tư tưởng ta đã gán cho giao trả lại ta, sau khi đã ướp đẫm hương thơm, tô nhiều vẻ đẹp.
Thành thử, trước cảnh nước non tươi nhuận, cảnh sương tỏa đồng không, cảnh sóng khơi dào dạt, ta thấy những cảm giác, tư tưởng của ta trở về mà không biết, lại coi là những tặng vật rất quý, thiên nhiên hậu đãi để an ủi lòng ta.
Ta nhầm. Sự nhầm ấy, tuy vậy rất êm đềm, vì chính nó đã cho ta được gặp gỡ và say đắm Nàng Thơ.
Theo Đông Phương Báo, số 4, thứ hai, 19-11-1934.
Nguồn: Rút từ Lan Khai tuyển tập, tập 2, Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, sắp phát hành. |