tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
17.03.2010
Lê Quang Trang
Phẩm chất chiến sỹ: Dũng cảm hơn và nhìn vấn đề sáng hơn

 


“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, là câu trong Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang vào giai đoạn quyết liệt, tuy chỉ nói là “để anh chị em tham khảo” nhưng đã tạo một hiệu ứng mạnh mẽ trong đội ngũ văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến. Đó không chỉ là tâm tình của Bác như ở một cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ thông thường mà là bày tỏ một quan điểm mới của cách mạng về nghệ thuật, về nhiệm vụ trực tiếp của nghệ thuật. Nếu chúng ta biết thêm rằng trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy, hầu hết những văn nghệ sĩ lớn của nền văn nghệ ta đều trưởng thành từ lò đào tạo của phong kiến thực dân, cho nên, mặc dù nhiều người đã qua bốn năm năm lăn lộn cùng kháng chiến, nhưng các quan điểm văn nghệ của họ vẫn chưa thoát khỏi những gì được hấp thu từ thuở ban đầu. Trong suy nghĩ của họ, khi tham gia kháng chiến, có phần yêu nước, căm ghét áp bức xâm lược, có phần giác ngộ do ảnh hưởng của lý luận và phong trào cách mạng, nhưng trong thẳm sâu tâm hồn họ, cảm quan lãng mạn, lý tưởng nghệ thuật tháp ngà vẫn còn ăn sâu trong tâm trí nhiều người. Cho nên, câu nói đơn giản, thân mật như một lời trò chuyện ấy mà đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ, mở ra những nhận thức mới về trách nhiệm của người nghệ sĩ cách mạng, thôi thúc các văn nghệ sĩ hăng hái tham gia kháng chiến bằng việc ý thức rõ hơn lấy văn nghệ phụng sự kháng chiến, phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Và thực tiễn cho thấy, cùng với nhiều cách truyền bá quan niệm mới về văn nghệ cách mạng, sau đó, trong tư tưởng của họ đã có nhiều chuyển biến, để rồi nhiều tác phẩm xuất sắc theo chiều hướng gắn bó với cuộc kháng chiến ra đời, trong đó có những tác phẩm của những tên tuổi lớn từng là “chủ soái” hoặc “những cánh chim đầu đàn” của các trường phái lãng mạn, tượng trưng, siêu hình, những người chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật” trong các loại hình nghệ thuật như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Sỹ Ngọc, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Thương, Trần Hoàn… Tinh thần ấy còn thể hiện toàn diện và rõ rệt hơn trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau này. Nhiều tác phẩm có giá trị góp phần tạo nên sức mạnh cho lực lượng cách mạng đi đến thắng lợi trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng thời cũng là phần chủ yếu đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân trong suốt nhiều thập kỷ.


Sau khi hòa bình về lại với cả nước, chiến tranh dần lùi xa, những điều kiện mới mở ra, đòi hỏi cách nhìn và những giải pháp mới cho sự phát triển của văn học nghệ thuật. Đấy là một việc cần thiết và đúng đắn. Cách nhìn cứng nhắc, phiến diện, một chiều xuất hiện ở nơi này nơi khác trong quá khứ, cần phải thay đổi, cần được thay thế bằng thái độ và quan niệm cởi mở hơn, mềm dẻo hơn, toàn diện hơn. Một số vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ được nhận thức lại, các lý thuyết, trào lưu văn nghệ trên thế giới được tiếp nhận rộng rãi và toàn diện hơn. Các hoạt động văn nghệ được tăng cường tính luật pháp để đi vào nề nếp hơn, hiệu quả cao hơn, loại bỏ dần những việc làm tùy tiện, tránh để xảy ra oan sai trong quá trình xử lý. Một số loại hình, tuy đã quen thuộc với nước ngoài nhưng còn xa lạ với công chúng Việt Nam như nghệ thuật trình diễn (Performance Art), sắp đặt (Installation)…vẫn được du nhập. Tất cả những điều đó tạo ra một làn gió mới, khiến cho không khí văn nghệ sôi động, đa dạng và phong phú hơn. Nhưng lợi dụng sự cởi mở này, một số quan điểm, một số cá nhân đã tiến đến cực đoan, quá đà. Một số quan điểm xuất hiện công khai, sau đó đã bị phê phán trên các phương tiện thông tin đại chúng, như có người cho rằng văn nghệ cách mạng trong thời gian qua là thứ “văn nghệ tuyên truyền”, “văn nghệ minh họa” một chiều đường lối chính sách, là thứ văn nghệ “không có tính nghệ thuật”, là “văn nghệ phải đạo”, “văn nghệ nửa sự thật”; những người sáng tạo văn nghệ chỉ là những “người cán bộ”, nền phê bình ấy là thứ “phê bình quan phương”, cần phải “đọc lời ai điếu” tức là khai tử cho nó. Cùng với những quan điểm chê bai phủ nhận các thành tựu, là những đề xuất thiếu thiện chí, hoặc nhấn vào những chỗ vặt vãnh tạo ra những hiểu lầm hoặc đi chệch đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Thí dụ như việc đề xuất lý thuyết “văn học không phải là phản ánh hiện thực (như phản ánh luận của chủ nghĩa Lênin ), mà là nghiền ngẫm về hiện thực”. Có người còn lớn tiếng kêu gọi “dòng chủ lưu của văn học hôm nay là các vấn đề tiêu cực” để cổ vũ cho những cây bút chỉ hăng hái phanh phui mặt trái của xã hội mà coi nhẹ việc đề cao con người mới, những điển hình tích cực, hoặc quá nghiêng về chức năng giải trí của nghệ thuật và coi nhẹ các chức năng nhận thức giáo dục(*). Phát ngôn công khai trên báo chí và trong các hội thảo, người ta chỉ thấy hoặc chỉ nhấn mạnh văn học nghệ thuật là “sân chơi”, thậm chí đi xa hơn, coi văn học nghệ thuật là “trò chơi vô tăm tích”. Từ đó họ sẵn sàng lăng-xê những thứ văn nghệ nghiêng về lối gọt giũa hình thức cầu kỳ, bí hiểm, tắc tỵ, ca ngợi những câu chữ  vô nghĩa “vọt ra từ vô thức”, những thứ “thơ vụt hiện”, những trang văn miêu tả chuyện dục tình, thậm chí là vô luân, nhưng lại được bao biện bởi quan niệm cho rằng đấy là thứ “ tình yêu thuần túy và không vụ lợi”. Những cách nghĩ, cách đánh giá trên đây chúng ta không thể đồng tình và như vậy rõ ràng là trong cuộc sống vẫn có sự trái ngược về nhận thức về vai trò, vị trí của văn nghệ. Nói cách khác là, về thực chất cuộc đấu tranh quan điểm không phải mất đi mà được biến dạng sang một hình thức mới, có thể tinh vi hơn, tế nhị hơn, nhưng vẫn rất nóng bỏng. Có người công khai kêu gọi đòi Đảng và Nhà nước ta cần tách văn nghệ khỏi chính trị, để văn nghệ được “tự do” hành động, nhưng nhìn kỹ vào các hoạt động của họ thì không khó để thấy ngay rằng họ đòi tách khỏi chính trị này, loại bỏ thứ chính trị này cũng chính lại là cách thức phục vụ cho một thứ chính trị khác. Và chỉ với con mắt nhìn của người chiến sĩ, toàn tâm toàn trí gắn bó với dân tộc này, đất nước này, sự nghiệp này chúng ta sẽ thấy rõ hơn những vấn đề mà cuộc sống đặt ra và tìm giải pháp phù hợp để giải quyết. Nhưng đấy vẫn là những chuyện đã qua, không phải mất hết, song các quan điểm ấy cũng đã và đang lui dần vào quá khứ. Gần đây, ta lại thấy có những vấn đề mới xuất hiện. Chẳng hạn, khi đề cao một nữ nhà văn trẻ mà tác phẩm từng gây xôn xao dư luận, đến hiện nay sự đánh giá vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất, thì một nhà văn lớn tuổi được coi là từng trải, một người xuất hiện khá thường xuyên trên các diễn đàn với danh nghĩa là người “mạnh miệng” đã lớn tiếng: “Tôi đã có lần nói rồi, và lần này xin nói lại, và trước khi nói tất nhiên phải xin lỗi tất cả những người cầm bút: Để mà tính chuyện đi ra thế giới, tức là cái mà người ta gọi là mở rộng không gian văn học, và như thế cũng tức là không gian đất nước, ra với thế giới, với bàn dân thiên hạ, tức là cái sự bây giờ được gọi một cách nghiêm trang và hơi lo sợ là “hội nhập”, mà không phải sợ bất cứ ai hết, thì theo tôi trong văn học hiện đại ta có thể có mấy cái: Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là hai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ba, và nay là Cánh đồng bất tận. Tôi nói thế này mà không sợ quá đáng đâu: Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hoá hôm nay một cách đàng hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết. Nó đưa văn chương, và như thế cũng là con người của ta, ra toàn cầu, để cho toàn cầu biết rằng ta cũng là con người chẳng hề thua gì họ”(*). Thật ra, với những ai có theo dõi tình hình văn học vài ba chục năm gần đây thì những phát biểu này không có gì lạ. Bởi lẽ, những tác phẩm, tác giả được nhắc đến đã từng được ông quảng bá ở nhiều nơi, nhưng trừ Số đỏ của nhà văn họ Vũ, còn lại đều là những tác phẩm tạo scandal (bê bối) hơn là những kiệt tác có giá trị lâu bền. Hơn nữa, theo cách nhìn của tôi, hầu hết cái hiện thực được phản ánh trong những tác phẩm nói trên, không thể nói là tiêu biểu cho chân dung tinh thần của dân tộc ta mấy chục năm vừa qua, hoặc rộng hơn là nửa cuối thế kỷ 20 và 10 năm đầu thế kỷ 21 này. Những điều mà những ai đó đề cao, như sự cởi mở trong cách nhìn và thể hiện chuyện tính dục, về tính chất phản chiến hoặc dám vạch trần cái tàn bạo của chiến tranh theo quan điểm nhân đạo chung chung, trong các tác phẩm trên đây khó có thể chiếm được sự đón nhận nồng nhiệt của người đọc nước ngoài, bởi lẽ, với họ, những quan điểm và lối thể hiện ấy đã quá quen thuộc, thậm chí, những giá trị đỉnh cao trong văn học thế giới mà những tác phẩm này na ná đã ra đời từ vài ba chục năm trước. Không ít các nhà văn, nghệ sĩ nước ngoài khi trao đổi về chuyện giao lưu văn hóa đều có chung mong muốn, cái mà họ cần được biết đến là đời sống của dân tộc ta trong lịch sử, đặc biệt là những tháng năm kháng chiến hơn nửa thế kỷ vừa qua, được tiếp cận với những tác phẩm mang tâm hồn và phong cách đặc thù của Việt Nam. Thế thì cái đóng góp của những tác phẩm trên là gì trong cuộc hội nhập này mà lại tự cao, tự hào một cách vô lối “bước vào toàn cầu hoá hôm nay một cách đàng hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết ”!


Từ câu chuyện hội nhập trên đây, tôi lại liên tưởng tới đến một cách đề xuất sản xuất những tác phẩm nghệ thuật đưa ra giao lưu với bạn bè quốc tế, mà tôi cho là thiếu chín chắn và lệch lạc. Nhìn theo một khía cạnh nào đấy đề xuất của anh được coi là một người năng động, khi anh chủ trương để có thể ăn một cái giải gì đó kiểu như Nobel hay Booker v.v. và muốn để tác phẩm của chúng ta đến được với người đọc thế giới, nhất là người đọc phương Tây, thì chúng ta phải xem cách họ làm hàng ra sao, từ đó học lấy đem về mà sản xuất, thì may ra mới hy vọng được họ xem xét. Tôi cho đó là ý tưởng thật ngây thơ và dại dột. Trong văn chương, nghệ thuật, tác phẩm chỉ có giá trị khi nó nêu lên và giải quyết những vấn đề của con người, của nhân loại, lại cũng phải là thứ sản phẩm độc đáo, đơn nhất. Học cách của người, theo mẫu mã, kiểu dáng của họ mà làm hàng, thì chắc chắn không bao giờ họ thèm để mắt tới chứ đừng nói họ đề cao. Tôi nghĩ rằng sản xuất và quảng bá sản phẩm trong nghệ thuật và trong kinh tế, có nhiều điểm khác nhau nếu không muốn nói là hoàn toàn khác biệt. Nếu như trong kinh tế ta có thể phải phấn đấu và đạt tới những tiêu chuẩn nào đấy có tính chất toàn cầu thì trong nghệ thuật lại không hoàn toàn như vậy. Phải làm sao cho ta thật là ta, và khi ta đạt tới đỉnh cao của ta cũng là khi ta gặp nhân loại. Tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh là như vậy. Ở những trường hợp này, không phải là ta làm hàng theo tiêu chí của họ, mà tác phẩm của các nhà văn hóa này đã phản ánh đúng những vấn đề nổi bật của những cá nhân trong đời sống dân tộc vào những thời điểm có ý nghĩa quan trọng của lịch sử, lại được thể hiện bằng một thứ nghệ thuật cao đẹp, tinh tế, sâu sắc, chuyển tải được những dấu ấn tâm hồn và đặc điểm Việt Nam. Đấy là lý do để bạn bè yêu quý, tiếp nhận và đánh giá cao. Đấy cũng có thể xem là hiện tượng của thực tiễn và là bài học quý cho việc hội nhập và giao lưu văn hóa trong thời đại hiện nay. Một đằng đến với người mang cho ta cảm giác xấu hổ, còn một đằng đem cho ta niềm vinh dự tự hào, chọn lối nào cho hợp đạo lý và thấu nhân tình đây? Tôi nghĩ rằng, nếu ai đó còn mang trong mình phẩm chất chiến sĩ, với tâm hồn và cách nhìn của người chiến sĩ, thì vấn đề sẽ trở nên sáng rõ hơn, đúng đắn hơn.


Nói như vậy, song để tìm được cách ứng xử phù hợp với hàng loạt vấn đề tương tự nảy sinh trong cuộc sống hiện nay quả thật cũng không hề đơn giản. Có thể là những quan điểm mới, nhưng tinh thần và cách nghĩ thì không mới. Lại có thể là những quan điểm cũ, nhưng được mang những bộ mặt mới, những chồi đọt mới nhằm đánh lừa bạn đọc. Dưới nhiều cách trình diễn, có khi được khoác những sắc mầu rực rỡ của bộ cánh “đổi mới”, khi ngon ngọt dịu dàng, khi trấn áp dữ dội và quyết liệt, lại có sự liên kết ở nhiều tầng nấc, nhiều không gian, khiến bạn đọc nếu không tinh tường cũng không phải dễ dàng nhận chân được bản chất sự việc. Đấy là chưa kể rất nhiều thế lực đây đó giấu mặt nhưng không bao giờ đồng tình và chấp nhận mục tiêu cao đẹp và nhân bản chúng ta đề ra. Khi đánh hơi thấy đây đó có những tiếng kêu trở cờ sám hối, hoặc mang danh “đối lập”, lập tức được phóng to lên, mở rộng không gian, tăng cường quảng bá, nhằm kích động và lôi kéo những bạn đọc mơ hồ chính trị hoặc người nào mang ấm ức trong lòng vì một bất mãn nào đấy. Có nhiều thí dụ để chứng minh cho luận điểm này trong văn học những năm gần đây. Chung quanh việc trao giải thưởng nhà nước về văn học cho một số nhà văn nhà thơ từng dính líu đến vụ Nhân văn- Giai phẩm là một thí dụ. Việc bóp méo ý tưởng của người viết cho phù hợp với ý đồ của mình trong trường hợp phê bình tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là một thí dụ khác. Ở thí dụ thứ nhất, đúng là với một số trường hợp như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần việc xử lý có phần quá tay, nhất là để chậm việc xem xét phục hồi quyền lợi sau kỷ luật. Nhưng việc trao giải cho những đóng góp của họ cũng là đàng hoàng, đường đường chính chính. Những người có tâm dễ cảm thấy xót xa cho những việc làm chưa thật tốt, để lại nỗi đau không đáng có,  bởi hoàn cảnh của lịch sử, bởi trình độ của cơ quan và người giải quyết vụ việc, nhưng không ít người, nhân sự kiện này lại đi sâu bới móc một cách thiếu thiện chí những tình tiết lẽ ra không nên nhắc lại, cố tình cậy vết thương đã liền da thịt, để máu lại chảy ra, không chỉ gây mối bất hòa giữa người xử lý và người bị xử lý, giữa thể chế và cá nhân, mà còn xúc phạm ngay chính người mà họ muốn đề cao. Hoặc ở thí dụ thứ hai, khi đánh giá tác phẩm của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư, một cây bút trên một báo mạng nước ngoài tỏ ra khá hâm mộ văn của Tư, nhưng trong hai bài bình luận tràng giang của mình chỉ lẩy ra và nhấn mạnh những truyện, những hình ảnh nói “về người dân quê phải gánh chịu biết bao là phũ phàng cay đắng, biết bao là nợ nần chồng chất, biết bao là thất vọng ê chề », tất cả làm sao cho trôi được ý muốn nhấn vào « cái thực trạng thê thảm của người dân quê miền Nam sau “giải phóng”.” Trong khi đó, Nguyễn Ngọc Tư nêu lên trong truyện của mình khát vọng gìn giữ ngọn lửa truyền thống cách mạng trong lớp người trẻ tuổi được biểu tượng bằng ngọn hải đăng không bao giờ tắt, dường như không hợp lắm với khẩu vị và thái độ chính trị của người bình luận, thì ông ta không ngần ngại phán rằng “Truyện kể còn lan man, lộn xộn, thiếu mạch lạc và chưa thành hình rõ rệt”(*).


Những thí dụ như trên còn có thể nêu ra nhiều nữa, cũng không phải không có người biết, nhưng trong tâm trạng xã hội hiện nay nhiều người lại không muốn nói lên, không muốn đấu tranh cho rõ trắng đen phải trái. Không muốn phiền toái đến mình đã là một lẽ, và cái cách giải quyết vấn đề của Đảng và Nhà nước ta lại là một lẽ nữa. Thực tế cho thấy, nhiều việc nhiều cuộc tranh luận rất mất công sức tâm lực, nhưng rồi các cơ quan có trách nhiệm cũng lại buông xuôi, không giải quyết triệt để, để nhiều khi những quan điểm sai trái xuất hiện trở lại, tình hình lặp lại y nguyên hoặc tệ hơn cũ mà cứ thản nhiên để mặc cho qua, như vậy khác gì “nước đổ lá khoai”. Nhưng đấy cũng là khi nghĩ “đi” có phần tiêu cực, chứ thực sự, bình tĩnh một chút, hồi tưởng một chút về một thời chưa xa, một thời bao trí tuệ, bao máu xương mấy chục năm đổ xuống cho mảnh đất này, chế độ này, thì ngọn lửa trong con người chiến sĩ lại được hâm nóng, lại thấy cần phải dũng cảm nói to lên cho mọi người cùng biết, cùng thảo luận, đấu tranh và giải quyết. Hãy giữ lấy phẩm chất chiến sĩ, yếu tố cốt lõi nuôi trong ta sự dũng cảm trước cuộc đời, trước lẽ phải, phải chăng đó chính là tinh thần câu nói như một lời tâm tình của Bác năm nào với những người làm văn học nghệ thuật. 


Cuộc sống luôn luôn vận động, các vấn đề mới luôn luôn nảy sinh, nếu có ai đó, một lúc nào đó, niềm tin bị dao động, nhuệ khí bị giảm sút, trước cuộc đời chỉ “muốn mũ ni che tai” thì câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là lời nhắc nhở chân thành, là phương châm cho ta nhìn rõ và đúng sự việc, để phân tích và đánh giá các chuyện ở đời, phân biệt đúng sai, tìm ra chân lý, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, nhân dân ta tiến đến mục tiêu đã chọn là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


LQT


www.trieuxuan.info


 


 







(*) Xem thêm Báo Văn nghệ các năm 1987, 1988.




(*)  Nguyên Ngọc: Không gian của Nguyễn Ngọc Tư, Sài Gòn tiếp thị 1-2-2008.




(*) Kiệt Tấn: Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, xem Viet-studies.info (trang về Nguyễn Ngọc Tư)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »