tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
19.03.2010
Tư liệu
Đặng Nghiêm Vạn, nhà dân tộc học đầu ngành

Đường đời, đường khoa học Đặng Nghiêm Vạn nhiều lần bị những thiên thạch ngẫu nhiên va chạm phải làm thay đổi quỹ đạo. Đang học trường Bưởi thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông hăng hái tham gia họat động. Rồi toàn quốc kháng chiến, 16 tuổi đầu, ông xếp bút nghiên đánh giặc tại khu phố, rồi rút ra khỏi Thủ đô lên Việt Bắc, để lại một "kinh thành nghi ngút cháy sau lưng". Những tưởng được thoả chí trai: "Ta tráng sĩ hề một thời loạn lạc/ Như cá gặp nước hề ta vẫy vùng", nhưng tháng 4 năm 1947, tổ chức lại cử ông đi học trường Trung học Kháng chiến để tạo nguồn. Năm 1950, tốt nghiệp xuất sắc ban Sinh - Hóa, ông được cử làm giáo viên Trường Sư phạm Trung ương. Thế là, một lần nữa, ông chuyển từ cây súng sang cây bút, làm nghề dạy học.


Năm 1951, Đặng Nghiêm Vạn lại được phân công sang công tác ở khu Học xá Nam Ninh, Trung Quốc tại trường Sư phạm Sơ cấp, phụ trách hai lớp con em dân tộc thiểu số. Năm 1953, thể theo nguyện vọng của các đồng nghiệp người dân tộc, ông được Bộ Giáo dục điều từ khu học xá về làm Hiệu phó trường Sư phạm miền núi Trung ương ở Tuyên Quang. Trường đặt trực tiếp dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục, do Lê Văn Giạng, Vụ trưởng làm Hiệu trưởng. Năm 1955, trường rời về Hà Nội, theo lệnh Bác Hồ, Thứ trưởng Nguyễn Khánh Toàn, Bí thư Đảng Đoàn Bộ Giáo dục, trực tiếp làm Hiệu trưởng, trước đóng ở trường Bưởi sau ở trường Nguyễn Trãi, Cửa Bắc, rồi lại về Láng. Năm 1956, ông được đề bạt làm Hiệu trưởng thay Nguyễn Khánh Toàn.


Năm 1958, Đặng Nghiêm Vạn được cử sang Liên Xô học về giáo dục học các dân tộc thiểu số, hẳn để ông phát huy hơn nữa sự nghiệp giáo dục dân tộc miền núi. Nhưng Sứ quán ta nghe/ đọc nhầm hoặc cố tình nhầm (ai mà biết được!) lại cho ông học Dân tộc học thuộc khối Sử tại Đại học Tổng hợp quốc gia Lômônôxốp. Thế là, một sự tình cờ nữa lại đưa ông đến một nghề mới: nghiên cứu dân tộc học. Về điều này, ông vẫn thường đùa rằng cái nghề mà ông suốt đời lao tâm khổ tứ cũng lại chỉ là một sự tình cờ.


Năm 1963, Đặng Nghiêm Vạn về nước giảng dạy tại Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, bộ môn Dân tộc học. Ông vừa giảng dạy vừa nghiên cứu. Địa bàn thực địa của ông là miền núi phía Bắc, Tây Bắc, và Tây khu Bốn. Trong những chuyến đi điền dã dân tộc học như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã phát hiện ra sự có mặt ở người Khơ Mú một hình thức của tôtem giáo. Rồi nhân một chuyến đi viết lịch sử Đảng cho một xã ở Đại Từ, Thái Nguyên, ông phát hiện ra gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú có những tư liệu khẳng định Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rất sớm. Hẳn tài năng phát hiện mà ông đã có từ hồi Cách mạng tháng Tám khi đi thu thập tin tức tình báo này đã giúp ông chấm dứt giai đoạn chuyển tiếp vừa dạy vừa học vừa nghiên cứu, thực ra chủ yếu là dạy học, để chuyển sang nghiên cứu mặc dù vẫn không thôi dạy học.


Năm 1967, Đặng Nghiêm Vạn chuyển sang Viện Dân tộc học. Từ đây, công việc chính của ông là nghiên cứu. Các tộc người Môn – Khmer và Thái được ông đặc biệt quan tâm. Bởi thế ông lại tiếp tục lăn lộn ở Tây Bắc và miền Tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Sau năm 1975, ông mở rộng địa bàn của mình xuống các tộc người Trường Sơn – Tây Nguyên. Cũng trong giai đoạn này, Đặng Nghiêm Vạn cho xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của ông. Và, chắc hẳn, không chỉ của ông. Vì thế, năm 1991 ông được Nhà nước phong hàm Giáo sư. Và cũng trong năm này, do nhu cầu thành lập ngành mới, ông lại rời ghế Viện phó Viện Dân tộc học đã ấm chỗ và những công việc quen thuộc để sang làm Trưởng ban Khoa học về Tôn giáo vừa thành lập. Thế là một lần nữa, lần cuối, ông lại chuyển ngành, dẫu không phải chuyển nghề như lần trước.


Từ Ban, rồi Trung tâm, rồi đến Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cả ba giai đoạn này Đặng Nghiêm Vạn đều là người đứng đầu. Đến năm 1999, khi Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo ra mắt, lại ông làm Tổng biên tập. Nói như trên là để biết, ông là người đứng mũi chịu sào trong việc xây dựng một viện mới, và quan trọng hơn, ngành khoa học mới. Đặc biệt là một khoa học nhạy cảm ở vào một thời điểm nhạy cảm, trong một đất nước nhạy cảm! Đặng Nghiêm Vạn, có lẽ là một người biết chèo chống, nên chỉ trong một thời gian ngắn, 1991-2000, ông và Viện đã thực hiện được nhiều công trình về nghiên cứu tôn giáo. Từ năm 2000 cho đến nay, tuy đã nghỉ hưu, đúng hơn là nghỉ mà không hưu, Đặng Nghiêm Vạn mài miệt với một công trình tổng kết. Tổng kết một đời khoa học!


Như vậy, cuộc đời Đặng Nghiêm Vạn đã trải qua ba giai đoạn: công tác Giáo dục - công tác nghiên cứu Dân tộc học - công tác Tôn giáo học. Và, những lần chuyển nghề hoặc chuyển ngành đều có sự can thiệp của những yếu tố ngẫu nhiên, bởi xét cho cùng thì nhu cầu của tổ chức, quyết định của cấp trên, mà ngoài ý muốn của đương sự thì cũng chỉ là ngẫu nhiên. Tuy nhiên, mọi ngẫu nhiên, xét cho cùng, đều có một cái tất nhiên ẩn giấu. Thứ  Thượng đế giấu mặt này người ta gọi là số phận. Số phận của Đặng Nghiêm Vạn là ở cả ba lần thay đổi đều có một yếu tố không thay đổi: đó là Tộc người và miền núi. Bởi thế, sau này, trong cuộc đời mình, ông "dĩ bất biến, ứng vạn biến".


Đi kháng chiến đã ở miền núi, bên Nam Ninh lại phụ trách hai lớp con em dân tộc miền núi, sau lại về làm Hiệu phó rồi Hiệu trưởng Trường Sư phạm miền núi, nên miền núi phong cảnh và con người, không chỉ trở thành tâm cảnh mà còn là chính tâm hồn Đặng Nghiêm Vạn. Bởi thế, ông rất hiểu, thông hiểu tâm tư, lối sống, phong tục của con em miền núi. Bởi thế, khi chuyển sang nghiên cứu Dân tộc học, nhất là các tộc người miền núi, ông không hề bỡ ngỡ mà đã chuyển những tri thức về miền núi của thời kỳ dạy học sang. Hơn nữa, những tri thức tản mạn, tình cờ đó lúc này còn được tổ chức lại và được soi sáng bằng những lý thuyết Dân tộc học tiếp thu được ở Liên Xô. Còn khi từ nghiên cứu dân tộc học sang nghiên cứu tôn giáo thì cũng thuận như vậy. Sự chú ý đến tôn giáo ở ông được lóe sáng ngay từ khi còn ở trường Đại học Tổng hợp M. Lômônôxốp khi được học thầy S.A. Tôcarép, tác giả cuốn sách nổi tiếng Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng. Đấy là chưa kể về sau này, khi nghiên cứu văn hóa tộc người thì không thể bỏ qua được tôn giáo của tộc người đó. Vì thế, ở lĩnh vực mới, lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo, Đặng Nghiêm Vạn chỉ việc mở rộng từ nghiên cứu các tôn giáo sơ khai sang nghiên cứu các tôn giáo nói chung, cũng chuyển từ tôn giáo tộc người sang tôn giáo của dân tộc, chuyển từ thời xa xưa đã hóa thạch sang thời nay nóng hổi.


Đời người thì ngắn, con đường khoa học thì dài lại lắm ngã ba ngã bảy. Bởi vậy, với bất kỳ một nhà khoa học nào mà có được một cốt lõi không đổi thì đó là điều vô cùng hạnh phúc. Và ở Đặng Nghiêm Vạn, cốt lõi đó, theo tôi là Dân tộc học. Nó giống như khối nặng ở đáy chiếc thuyền buồm thể thao giữ cho con thuyền dù nghiêng ngả đến đâu cũng không bị lật. Đặng Nghiêm Vạn dù đi đâu, làm gì, cũng không thoát khỏi sự chi phối của Dân tộc học. Bởi thế, ông thực chất là một nhà Dân tộc học, một trong những nhà Dân tộc học đầu ngành của Việt Nam.


Sự tình cờ còn chi phối Đặng Nghiêm Vạn ngay cả khi ông đã là nhà Dân tộc học. Vấn đề là chọn tộc người nào để nghiên cứu. Là một người Việt, dẫu sinh ra ở biển  (Cát Bà, Quảng Ninh), lớn lên ở thành phố (Hà Nội), hoạt động ở miền núi, Đặng Nghiêm Vạn - một cách tự nhiên cảm tính muốn nghiên cứu tộc người Việt thân thuộc của mình. Nhưng S.A. Tôcarép, người thầy kính mến của ông, bảo nếu nghiên cứu người Việt thì ông dễ chỉ thấy mặt tốt của nó, bởi người mới vào nghề thì chưa đủ kinh nghiệm và bản lĩnh để nhìn mình bằng con mắt của kẻ khác. Bởi thế, nên chọn một tộc người thiểu số nào đó mà mình thân thuộc nhất. Thế là, để tránh nhìn vào một chiếc gương nịnh mặt, Đặng Nghiêm Vạn lại trở về với vùng Tây Bắc và Việt Bắc quen biết của ông.


Bài báo đầu tiên có tiếng vang của Đặng Nghiêm Vạn là tôtem giáo của người Khơ Mú. Có thể nói, đây là eureka đầu tiên của một người từ Liên Xô trở về! Và tác động khoa học của nó không phải là nhỏ. Như tiếng gà gáy sáng, nó gọi nhau và gọi cả bình minh. Kể cả sau này Trần Quốc Vượng, theo tư tưởng của Lévi – Strauss, phủ nhận sự tồn tại trên thực tế của hình thái tôn giáo đầu tiên này. Ông cho rằng, tôtem, thực ra chỉ là các biểu tượng; tôtem giáo, do đó, chỉ là lối tư duy biểu tượng nguyên thủy. Cho đến nay, với tư cách là nhà khoa học thực địa, Vạn vẫn không chịu Vượng. Bởi lẽ, chính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh người Khơ Mú diễn lại huyền thoại tôtem. Hơn nữa, về phương diện lý thuyết, chính S.A. Tôcarép cũng đã phê phán lại Lévi – Strauss, rằng ông ta là người duy lý, rằng ông ta chỉ căn cứ vào những vang bóng của một sự kiện đã mất từ lâu để kết luận. Còn Đặng Nghiêm Vạn thậm chí sau này còn thấy cả tôtem về giới ở người Gié Triêng. Tuy nhiên, tôi vẫn cho rằng, các lý thuyết văn hóa, xét cho cùng chỉ là những giả thiết để làm việc, bởi thế không nên quá phân biệt kiểu mèo trắng, mèo đen, miễn là có hiệu quả thực tế. Kinh tuyến, vĩ tuyến có thật đâu, chỉ là quy ước, nhưng lại có thể chỉ ra đích xác vị trí của một con tàu đang SOS.


Việc trở thành một nhà Thái học cũng vậy, vẫn đôi chút tình cờ. Theo lời khuyên của thầy học, Đặng Nghiêm Vạn chọn người Thái làm đối tượng nghiên cứu, bởi lẽ trong thời gian quản lý ở trường Sư phạm miền núi, ông quen thân với nhiều học sinh Thái hơn, trong đó có nhà Thái học tương lai Cầm Trọng. Nhưng muốn nghiên cứu sâu về Thái, phải lấn sang Tày - Nùng để có tư liệu đối chiếu. Bởi thế, sau tập sách nghiên cứu diện Sơ lược giới thiệu các dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam cùng viết với Lã Văn Lô (phần chung và phần Thái, 1968) và cuốn sách điểm Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái  (1977). Đây là những công trình mở đường vào xã hội Thái. Những cuốn sách đẻ ra sách. Đúng thế, những cuốn sách trên của Đặng Nghiêm Vạn đã nuôi ý tưởng cho những cuốn sách khác, cũng về Thái, của Cầm Trọng, đó là Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978), Văn hóa Thái Việt Nam (1985)...


Như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã trở thành một nhà Thái học, bởi ông là người đầu tiên phát hiện và giới thiệu bộ luật Thái, và khẳng định phương thức sản xuất châu Á ở xã hội Thái. Tuy nhiên, trên phương diện khoa học, Đặng Nghiêm Vạn không được sâu sắc, độc đáo như nhà Mường học Từ Chi, bởi lẽ tính cách và định hướng nghiên cứu của hai người khác nhau. Nếu Từ Chi là người thâm canh thì Đặng Nghiêm Vạn là người quảng canh. Trên mảnh đất mà Từ Chi đã thu họach thì ít ai còn mót được gì, ngoại trừ phương pháp canh tác, còn Vạn thì ngược lại, ông khai hoang, thu hoạch lấy một vụ đầu rồi "du canh" sang mảnh đất khác, nên những người đến sau, đa số là học trò ông cả, tha hồ hưởng lợi.


Sang năm 1975, mảnh đất mới của Đặng Nghiêm Vạn là Trường Sơn – Tây Nguyên. Đây là một mảnh đất màu mỡ của tộc người học. Các tộc người ở đây thuộc đủ các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo... thuộc đủ các trình độ phát triển. Bởi thế, bức thổ cẩm nhiều màu sắc, lắm hoa văn này gợi lên cho nhà dân tộc học biết bao suy nghĩ, tham vọng. Nhưng do nhu cầu điều tra tổng thể vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, nên Đặng Nghiêm Vạn chỉ có thể đưa ra một cái nhìn khái quát trong Các dân tộc ở Gia Lai - Kon Tum (1981) những bài tổng luận về kinh tế - xã hội Tây Nguyên trong 2 cuốn Những vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên và Tây Nguyên trên đường phát triển (1986 và 1987) hoặc Những ai lên Tây Nguyên cần biết (1988)... Còn điều mà ông tha thiết nhất là nghiên cứu tôn giáo sơ khai được ấp ủ từ hồi còn dưới cánh S.A. Tôcarép và tận mắt thấy hiện hữu ở Tây Nguyên thì cứ lùi xa, lùi xa kể cả khi ông đã chuyển sang nghiên cứu tôn giáo, dẫu ông lại sớm thành công với tư cách là nhà Dân tộc học khi sớm phát hiện ra vấn đề sở hữu đất đai ở Trường Sơn – Tây Nguyên (1988).


Là người ủng hộ việc nghiên cứu Việt Nam như một dân tộc đa tộc người, Đặng Nghiêm Vạn buộc phải giải quyết một số vấn đề có tính lý luận sau: 1. Phải phân biệt dân tộc (Nation) và tộc người (Ethnie); 2. Phải thừa nhận tính chất không phổ quát về định nghĩa dân tộc của Stalin và 3. Phải chứng minh được sự tồn tại các dân tộc tiền công nghiệp hay tiền tư bản ở các xã hội phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đây là cơ sở để coi dân tộc Việt Nam như một thể hợp thành từ xa xưa của 54 tộc người sống trên mảnh đất này. Đặng Nghiêm Vạn, tôi nghĩ, đã làm được điều đó trong tác phẩm Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc (1993) và được Giải thưởng Nhà nước. Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn phát triển cuốn sách đó sâu rộng hơn, nâng số trang lên gấp 2 lần thành: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người (2003). Nhưng có lẽ, điều quan trọng hơn, là tìm được một cách tiếp cận tổng thể trong nghiên cứu dân tộc Việt Nam, tránh được con đường tổng hợp, thậm chí tổng cộng, 54 tộc người.


Cố gắng của Đặng Nghiêm Vạn trong sự tìm kiếm con đường tiếp cận ấy cũng thật đáng nể. Dân tộc Việt Nam, theo ông, vốn hình thành lâu đời trong lịch sử như là một sự hội lưu của tất cả các tộc người. Nhưng do quy luật phát triển không đồng đều nên ngày nay ở những vùng địa lý khác nhau thì các tộc người có sự phát triển khác nhau. Và dựa vào trình độ khác nhau ấy, người ta có thể dựng lại được quá trình  hội lưu như là một sự thống nhất lịch sử. Theo Đặng Nghiêm Vạn thì hiện nay trên bản đồ địa lý học, tộc người còn tìm thấy ba trình độ kế tiếp nhau:


Các tộc người sống ở Trường Sơn – Tây Nguyên hiện đang còn ở tình trạng manh nha có giai cấp.


Các tộc người ở Tây Bắc hiện đang còn ở giai đoạn kinh tế cống nạp.


Các tộc người sống ở Đông Bắc đồng bằng – ven biển hiện đang ở tình trạng kinh tế – xã hội phong kiến phương Đông tiền tư bản.


Có thể sơ đồ hóa sự phát triển lịch sử ba giai đoạn này của dân tộc Việt Nam như sau:


Manh nha giai cấp                Cống nạp            Phong kiến phương Đông


 




Trường Sơn – Tây Nguyên    Tây Bắc              Đông Bắc và đồng bằng


Điều thú vị là cả ba trình độ phát triển này có thể tìm thấy được ở vô vàn những biểu hiện văn hóa vật thể và phi vật thể. Chẳng hạn như ở hệ thống thủy lợi, ăn, mặc, ở. Hoặc, cụ thể hơn, ở sự phát triển của ba hình thái của chiếc cày, của khung nhà vì kèo và không vì kèo... Trong đời sống tôn giáo cũng vậy.


Con đường thứ hai mà Đặng Nghiêm Vạn muốn tìm kiếm là xây dựng và chứng minh có một tôn giáo Việt Nam của Việt Nam. Trước đây, cũng có người muốn nâng đạo thờ Mẫu lên thành một tôn giáo để xóa bỏ mặc cảm là Việt Nam không có tôn giáo bản địa mà chỉ có tôn giáo ngoại lai. Đặng Nghiêm Vạn, hẳn không phải cùng một động cơ như thế, chẳng qua ông muốn tìm một cách tiếp cận một cách tổng thể đến với văn hóa Việt Nam như một quốc gia đa tộc người. Đó là Đạo Tổ. Sở dĩ ông dùng chữ đạo vì, theo ông, Việt Nam không có khái niệm tôn giáo theo đúng nghĩa của phương Tây: thờ một đấng tối cao duy nhất. Đạo ở phương Đông và ở Việt Nam còn vắng các tôn giáo độc thần, vẫn còn là những tôn giáo đa thần. Đạo Tổ có ba cấp độ: 1. Gia đình: thờ cúng Tổ tiên của gia đình và của dòng họ (gia đình mở rộng); 2. Làng bản: thờ cúng Thành hoàng, người bảo trợ cho làng bản và 3. Quốc gia: thờ cúng người có công dựng nước và giữ nước. Ở cả ba cấp độ này, đều có ở tất cả những tộc người sinh sống trên đất Việt Nam. Ông còn nêu ra một nhận xét đáng lưu ý: Ở phương Tây chỉ tôn thờ Đức Chúa Lời, còn ở phương Đông thì tất cả đều là đối tượng thờ cúng. Công với gia đình thì con cháu thờ; công với làng, làng thờ; công với nước, nước thờ. Vậy nên, xưa nay ở châu Âu trọng ngày sinh, ở châu Á trọng ngày giỗ... Tính nhân văn còn biểu lộ rõ rệt ở việc thờ những người chết bất đắc kỳ tử, những người không được xã hội thừa nhận, không được con cháu thờ cúng.


Cuối cùng, con đường thứ ba mà Đặng Nghiêm Vạn muốn xây đắp là tìm hiểu những huyền thoại, truyền thuyết của các tộc người về nguồn gốc tộc người mình. Ông đã tìm thấy ở hầu như tộc người nào cũng đều có huyền thoại về cặp đôi ban đầu, trong đó có huyền thoại về quả bầu như là nơi sản sinh ra không chỉ tộc người đó mà còn các tộc người anh em khác. Sự thống nhất này một mặt cho thấy các tộc người trên mảnh đất Việt Nam hầu hết đã qua nền "văn minh bầu bí" trước văn minh trồng lúa và, quan trọng hơn, có chung một nguồn gốc. Tâm thức này làm cho các tộc người dễ hợp lưu để trở thành đồng bào của một dân tộc. Ông cũng đồng thời tổng kết vốn văn học dân tộc thiểu số đến năm 2000, in trong Tổng tập văn học Việt Nam và trong Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đều là khổ to. Ở đây, ông không chấp nhận văn học khuyết danh là thuộc phạm trù dân gian, mà phải dựa vào chân giá trị của tác phẩm vì nếu cho là dân gian thì chỉ duy ở Việt Nam có văn học bác học, còn về mỹ thuật (theo Thái Bá Vân), hội họa (Lưu Công Nhân) đều là dân gian ư? nên ông đồng tình với Từ Chi là có nên gọi là dân gian hay không dân gian?


Những thành công trong học thuật của Đặng Nghiêm Vạn phụ thuộc vào cá nhân ông một phần và phần khác, quan trọng hơn, vào những đặc điểm của lứa con đầu của cách mạng trong lĩnh vực khoa học, mà ông là một người tiêu biểu. Đặng Nghiêm Vạn, xét về con người, mặc dù không mang tiếng là "dur" (cứng rắn) trong việc bảo vệ ý kiến riêng của mình, thực ra lại rất chất phác, hồn nhiên và thẳng thắn. Từ Chi cũng rất hồn nhiên, chất phác, nhưng đó là cái hồn nhiên chất phác của một người thấu hiểu lẽ đời, người thấy không có gì đáng để mà long trọng cả. Tính cách giàu thiên nhiên này rất thuận lợi cho nhà Dân tộc học khi họ tiếp xúc với người sơn cước. Chỉ có tâm hồn cởi mở thì mới cởi mở được tâm hồn.  Người Mường coi Từ Chi như người nhà, thậm chí còn kết nghĩa anh em với ông. Còn hầu hết các nhân sĩ trí thức Tây Nguyên như nghệ sĩ Y Dơl, họa sĩ Su Man, nhà giáo Y Ngông và Nay Đe, bác sĩ Ksơ Krơn, đặc biệt là anh hùng Núp... đều có tình cảm sâu đậm với Đặng Nghiêm Vạn.


Hẳn không phải vì lý do "được yêu mến" mà Đặng Nghiêm Vạn thích đi điền dã và gắn bó với thực địa. Mà đó là sự say mê công việc, tinh thần trách nhiệm với công việc, sự liêm khiết trí thức của nhà khoa học. Đặc biệt, với một nhà Dân tộc học. Nếu không có những đức tính trên thì không ai rời bỏ căn phòng ấm cúng, đầy đủ tiện nghi lặn lội sang tận những cánh rừng rậm đầy muỗi, vắt Nam Mỹ, châu Phi, Tây Nguyên, những cô đảo trên Thái Bình Dương như Lévi – Strauss. Malinowsky, G. Condominas, A.G. Haudricourt, Từ Chi, Đặng Nghiêm Vạn... Với các nhà Dân tộc học Việt Nam, dẫu sao, họ cũng đều là những người tham gia kháng chiến, quen chịu gian khổ, những cán bộ đã biết mùi "ba cùng". Họ là những cán bộ khoa học.


Thật vậy, Đặng Nghiêm Vạn trước hết là một anh cán bộ. Vốn sinh ra trong một gia đình nhiều truyền thống yêu nước, lại tham gia cách mạng từ trẻ, ông có một tinh thần trách nhiệm rất cao. Được phân công việc gì cũng làm, kể cả việc làm khoa học vốn đòi hỏi những khả năng trời cho và sự chuẩn bị, ông đều vui vẻ làm với tinh thần trách nhiệm của người cán bộ. Phần cán bộ của Đặng Nghiêm Vạn được thể hiện ở chỗ luôn làm công việc được trên giao và luôn luôn vươn lên đáp ứng các nhu cầu của cách mạng, của xã hội, của thời cuộc.  Từ giáo dục chuyển sang nghiên cứu Dân tộc học rồi Tôn giáo học là một minh chứng. Rồi làm Dân tộc học trước hết để góp phần xác định thành phần tộc người và xây dựng bản đồ tộc người, nghiên cứu các tộc người Tây Nguyên về kinh tế – xã hội cũng nhằm phục vụ chương trình điều tra và khai thác Tây Nguyên của Nhà nước. Nghiên cứu tôn giáo trước hết cũng để trả lời cho những câu hỏi nổi cộm, "tế nhị", "tồn tại" của thời cuộc... là những minh chứng khác. Bởi thế, phần khoa học của ông, tuy mang tính đi đầu, có khi đột phá, thường dừng lại ở những vấn đề khái lược tổng quan (như Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam, Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam...), hoặc chưa đẩy đến cùng (như Đạo Tổ, Nguồn gốc các tộc người...), hoặc quá ứng dụng (Những điều cần biết khi lên Trường Sơn - Tây Nguyên, Những điều bộ đội cần biết)...


Công bằng mà nói, đấy là một đặc điểm chung không của riêng ai mà của cả một (hoặc những?) thế hệ khoa học mà tôi tạm gọi là cán bộ khoa học. Đường đời, đường khoa học của họ phụ thuộc vào quan hệ giữa hai yếu tố cán bộ và khoa học. Nếu quá nghiêng về phía cán bộ thì họ sẽ trở thành nhà quản lý, quan khoa học, một loại người hồng, còn nếu nghiêng về khoa học thì sẽ chỉ làm anh nghiên cứu viên thuần tuý, một loại người chuyên, mà thành tích khoa học chưa chắc đã ăn ai. Tự do như Trần Quốc Vượng mà cũng không hết bản chất cán bộ. Họa chăng là Từ Chi, một nhà khoa học ngoài lề, một nhà nghiên cứu, theo phát giác của Chu Quang Trứ, cho đến chết vẫn chưa được biên chế nghiên cứu viên mà chỉ là biên dịch viên (của Viện Nghiên cứu Mỹ thuật). Đặng Nghiêm Vạn, theo tôi, là một người cân bằng. Một cuộc đời viên chức tương đối hanh thông tuy không tránh khỏi vấp váp, một sự nghiệp khoa học sôi động. Ông còn có một người vợ đảm – nhà giáo Nguyễn Kim Dung, làm chỗ dựa tin cậy, giúp việc nhà để ông yên tâm làm khoa học. Cuộc đời ông thật may mắn. Bởi thế, mặc dù Đặng Nghiêm Vạn cả đời gắn với rừng sâu núi cao, nhưng nghĩ đến ông, tôi vẫn luôn nghĩ tới một miền Trung du hiền hòa, trù mật.


Đỗ Lai Thúy


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


Những tác phẩm chính của Đặng Nghiêm Vạn


1.          1958, Chủ biên cùng học sinh sư phạm miền núi TW: Truyện cổ tích miền núi.


2.          1968, cùng Lã Văn Lô: Sơ lược giới thiệu các dân tộc Tày – Nùng – Thái ở Việt Nam.


3. 1969, cùng Cao Huy Đỉnh – Nguyễn Đổng Chi: Phương pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn.


4. 1972, Chủ biên, đồng tác giả: Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Việt Nam.


5. 1973, Chủ biên, đồng tác giả: Ethnografiaj Donitajoj Fredloing và Eldajo (tiếng Esperanto).


6.          1976, Chủ biên, đồng tác giả: Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái.


7.          1978 – 1984, Đồng tác giả: Các dân tộc ít người ở Việt Nam


8.          1981, Chủ biên, đồng tác giả: Các dân tộc Gia Lai – Kon Tum


9.          1986, (tái bản 1993, 2001) cùng Chu Thái Sơn – Lưu Hùng: Les ethnies minoritaires du Viet Nam (bản tiếng Anh, tiếng Pháp).


10.        1986, Chủ biên, đồng tác giả: Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên.


11.        1989, Chủ biên, đồng tác giả: Tây Nguyên trên đường phát triển.


12. 1993, Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc (giải thưởng Nhà nước năm 2000).


13. 1993. The flood myth and origin of ethnic groups in Southaest Asia, trong Journal of American Folklore, Vol 106, No.241.


14. 1995, Chủ biên, đồng tác giả: Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài.


15. 1996, Ban biên tập (ủy viên): Việt Nam atlas quốc gia (giải thưởng Hồ Chí Minh tập thể, năm 2005).


16. (Tái bản năm 2000), Chủ biên, đồng tác giả: Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số  trong Tổng tập văn học Việt Nam. (1 quyển 4 tập khổ to).


17.        1998, Chủ biên, đồng tác giả: Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo Việt Nam.


18.        1998, Les Sedangs (Bản tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp).


19.        1998 (tái bản 2001), Ethnological and religious problems in Viet Nam (giải thưởng Nhà nước năm 2000).


20. 2001, Dân tộc, văn hóa, tôn giáo (khổ lớn).


21.        2001 (tái bản 3 lần, 2003, 2005, 2007), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam.


22.        2002, Chủ biên, đồng tác giả, Tổng tập văn học dân tộc thiểu số Việt Nam (4 quyển, 6 tập, khổ lớn).


23.        2003, Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »