tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
09.08.2010
Hoàng Sỹ Nguyên
Thơ Mới 1930-1945 nhìn từ sự vận động thể loại (3)

Bích Khê không có tuyên ngôn, tuyên bố gì về thơ. Quan niệm thơ của thi sĩ được thể hiện qua thực tiễn sáng tác của mình. Trong bài Xuân tượng trưng, thi sĩ viết:


               Hỡi lời ca man dại,


              Điệu nhạc thở hơi rừng,


            - Đêm nay, xuân đã lại


                          Thuần túy và tượng trưng.


“Thơ thuần túy” là chịu ảnh hưởng từ Valéry, “Thơ tượng trưng” là chịu ảnh hưởng từ Edgar Poe, Baudelaire. Trong bài phê bình văn học Bích Khê, thi sĩ thần linh, Hàn Mặc Tử đã biểu lộ quan điểm thơ của bạn mình. Theo Hàn Mặc Tử, “Văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị”. Thơ chàng “nhuộm đầy máu huyết của Baudelaire”. Bích Khê làm thơ là “...lay chuyển hết các sợi dây thần kinh trong người thi sĩ, xô đẩy thi sĩ đến những bến bờ xa lạ của cảm giác, đắm chìm vào sa ngã khoái lạc của thần hồn cũng như thể xác”, “thơ là linh cảm sẽ qua hết những không khí nhiệm màu, bay cao đến tột cùng của Nước Trời hay chìm đắm xuống đáy sâu Địa Ngục”. Bích Khê tôn thờ Baudelaire, gọi Baudelaire  “Người là Vua Thi Sĩ” (Ăn mày). Bích Khê luôn muốn chiếm lĩnh thế giới cùng cái đẹp nguyên sơ, toàn vẹn, như một thể thống nhất. Trong sáng tác, Bích Khê dựa vào tất cả các giác quan, vào tưởng tượng và liên tưởng, vào cả vô thức và bản năng. Bích Khê là một trong số những nhà thơ có sự gia công, gọt đẽo ngôn từ, tạo được dấu ấn đặc biệt trong ngôn ngữ thơ. Ông ý thức rất rõ về nghề, về hiệu quả nghệ thuật của lời, chữ, nhạc, nhịp điệu. 


 Lời nối lời bố trí lộc tinh hoa


             Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy


             Một hỗn hợp đẹp xô bồ sóng dậy.


                                      (Duy Tân - Bích Khê)


            Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời


                      Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ


                              (Nàng bước tới - Bích Khê)


         Quan niệm nghệ thuật thi ca của nhóm Xuân thu nhã tập là sự bổ sung cuối cùng vào sự vận động của Thơ mới những năm cuối của trào lưu này. Theo họ, trong cái tôi cá nhân của Thơ mới hiện có, và cần có thêm những tín điều huyền diệu, linh thiêng, khó nắm bắt, có màu sắc siêu nhiên. Họ cho rằng "Thơ chỉ hình dung cái bản ngã thuần túy, cái bản ngã cuối cùng của thi sĩ hay sự vật. Thơ chỉ là một sự nhớ lại, một cuộc trở về, cuộc trở về của thi sĩ trong cái tôi của mình nằm trong sự vật" [Theo Đông Hoài - Quỳnh Thư Thiên: 56,36]. Cái "bản ngã" này là cái tôi đã thoát khỏi cái tôi trần thế thông thường, là cái tôi siêu thực với những nội dung không xác thực của nó. Họ lập luận: "Là bài thơ nếu bài văn chương (dù ở thể nào, loại nào) có chất thơ, hàm súc cái rung động siêu thoát, phảng phất cái hương vị tuyệt vời... và giá trị của nó định ở cái lượng hàm súc cùng cái phảng phất kia, truyền dẫn nhịp nhàng trên cánh nhạc, bồng tới chỗ Trong, Đẹp, Thật = Đạo trong nghệ thuật. (.......) Bài thơ theo nghĩa chặt chẽ (kết bằng những câu có vần điệu, hay theo những niêm luật rõ rệt hay tiềm tàng) có được trọn vẹn cái lượng và cái phẩm nói trên kia" [Theo Đông Hoài - Quỳnh Thư Thiên: 56,38]. Quan niệm này đã đưa thơ vào địa hạt siêu hình. Rất tiếc thực tế sáng tác của họ chưa được bao nhiêu.


            Chỉ trong một thời gian ngắn mà quan niệm về thơ của các nhà Thơ mới đã luôn biến động, thay đổi. Điều đó chứng tỏ, họ luôn có ý thức cách tân thơ, chú công tìm tòi đổi thay, làm cho tác phẩm của mình có một vẻ đẹp cao qúy. Đỗ Lai Thúy nhận xét: "Thơ mới cũng như Tự lực văn đoàn, trong sự tồn tại ngắn ngủi của nó, không dẫm chân tại chỗ mà luôn rảo bước về phía trước, phía đồng thời và hiện tại. Sau Thế Lữ, Nguyễn Bính đến Xuân Diệu, Huy Cận, Thơ mới đã chớm sang tượng trưng. Đinh Hùng, Bích Khê đã là tượng trưng, còn Hàn Mặc Tử đã bước một chân vào ngôi đền thơ siêu thực" [157,70]. Đây là sự vận động không ngừng, biểu thị khát vọng thay đổi và phát triển của thơ Việt Nam.


            2.3.2. Cùng với sự đổi thay trong quan niêm nghệ thuật thi ca gắn với kiểu nhà Thơ mới  là một “nhãn quan thi pháp” mới. Đó là “cái lí” của hình thức tổ chức bên trong hình tượng nghệ thuật, là hệ thống thi pháp cấu trúc nội tại của tác phẩm. Từ lâu, con người luôn là vấn đề trung tâm của văn học, "văn học là nhân học" (Gorki). Dẫu cho tác phẩm văn học nói về cây hoa, cánh bướm, dòng sông, vầng trăng... thì chung quy lại cũng là thể hiện con người. Sự xuất hiện của cái tôi cá nhân đã làm thay đổi thi pháp quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ trung đại. Trong xã hội phong kiến, sự độc đáo cá nhân chưa được coi là đẹp, là tài, “Chữ tài liền với chữ tai một vần” (Nguyễn Du). Mỗi cá nhân không được coi là một cá tính nên thơ ca trung đại không chú trọng đi sâu thể hiện đời sống nội tâm của con người một cách trực tiếp. Họ thường có một khuôn chung cả trong cảm xúc lẫn trong nghệ thuật. Con người trong thơ cổ chìm lẫn vào trong vũ trụ, là một phần trong "vạn vật nhất thể" của vũ trụ, hòa vào thiên nhiên. Đó là một Nguyễn Trãi với "Núi láng giềng, Chim bầu bạn. Mây khách khứa, Nguyệt anh tam"; Một Nguyễn Công Trứ muốn tương thông với vạn vật, muốn trở thành vạn vật "Làm cây thông đứng giữa trời mà reo"; Một Nguyễn Khuyến thu nhỏ mình lại "Tựa gối ôm cần" để tan vào trong cái lạnh lẽo của ao thu.


Đến Thơ mới, con người hiện ra nguyên hình, cụ thể, tươi rói bức tranh hiện thực:


              Tôi bước lên, chân đếm những vần thơ


              Mặc gió lạnh bên tai sùi sụt thổi


             Và để mặc lòng người đang khóc đói


             Phấn mưa bay đọng giọt bám quanh vành


             (Người phóng đãng - Xuân Diệu)


  Ý thức con người cá nhân phát triển hơn bao giờ hết. Con người trở thành trung tâm của vũ trụ, ý thức rất rõ về sự tồn tại của cá nhân mình:


            Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất


            Không có chi bè bạn nổi cùng ta.


                          (Hi Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)


Quyền lợi của con người cá nhân giờ đây không đồng nhất với một cặp phạm trù cộng đồng nữa mà đã được ý thức ở một cấp độ mới: một vấn đề xã hội, một triết lí nhân sinh. Bởi vậy, nếu thơ cổ quan tâm đến một tình cảm ở dạng khái quát nhất thì Thơ mới lại thiên về cái riêng, quan tâm đến tự do cảm xúc, tự do tư duy. Bản thân con người giờ đây đã trở thành một đối tượng thẩm mĩ, khai thác không bao giờ cạn.


            Cái tôi trữ tình Thơ mới cần đến một hệ thống thi pháp mới về không gian, thời gian nghệ thuật.


            Nếu trong thơ cổ, thiên nhiên, vũ trụ bao la chỉ để "nhìn ngắm", "đề vịnh" thì trong Thơ mới không gian được chiếm lĩnh như một đối tượng thẩm mĩ. Nếu Huy Cận tìm ra những con đường kinh nghiệm nội tâm hòa hợp với không gian: nước, mộng mơ và tình yêu, thì Xuân Diệu kéo cả vũ trụ lại gần mà thụ hưởng trong cái thế giới trần gian của mình. Với vầng trăng, người xưa sẽ là "vọng nguyệt". Xuân Diệu lại xem "trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ - Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy". Cũng vậy, một phần lớn trong thế giới nội tâm của Hàn Mặc Tử  là thế giới nội tâm của nguồn trăng. Trăng say, trăng nằm ngủ, trăng bải hoải như chính xác hồn Hàn Mặc Tử. Trăng trong thơ cổ là "nguyệt", "trăng sáng", "ngọc thỏ", "bạn cố tri"... Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử là hình ảnh nhân hóa, so sánh dí dỏm, trăng hóa người thiếu nữ:


                      - Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu


                        Đợi gió đông về để lả lơi


                     - Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm


             Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.


                              (Bẽn lẽn - Hàn Mặc Tử)


Thiên nhiên trong Thơ mới luôn thấm đượm chất sống của đời:


            - Gió vừa chạy, vừa rên vừa tắt thở


            - Nước suối đã lờ đờ khép mắt


                 (Tiếng gió - Xuân Diệu)


Không gian trong Thơ mới là không gian vỡ vụn, không bao trùm toàn khối như không gian trong thơ cổ. Con đường và dòng sông trong Thơ mới dường như bị cắt đoạn, bị giới hạn. Nó chỉ là một khúc "đường thơm" trong thơ Huy Cận, "con đường nho nhỏ" trong thơ Xuân Diệu hay một đoạn đường nhỏ của làng chài ven sông trong thơ Tế Hanh. Dòng sông ở đây chỉ là một khúc sông, một đoạn sông tâm trạng phẳng lặng nào đó từ một bến đò vắng khách trong thơ Anh Thơ, ven một biền dâu trong thơ Phạm Hầu, một Bến My Lăng trong thơ Yến Lan hay một bãi vắng đìu hiu trong thơ Huy Cận. Trong Thơ mới, các thi sĩ không miêu tả một rừng thu, một trời non nước bảng lảng chiều tà như trong thơ cổ mà cái mênh mông, bát ngát được hóa thân bằng những vật cụ thể, nhỏ nhoi như trong thơ Huy Cận: một cành củi khô, một cồn nhỏ lơ thơ, những cánh bèo dạt trôi trên mặt nước... bởi như thế chúng mới dễ chuyên chở cảm giác cô đơn, dợn ngợp của con người.


Thi pháp quan niệm về thời gian trong Thơ mới cũng thay đổi theo điểm nhìn của cái tôi trữ tình, khác với thơ trung đại. Nếu thời gian trong thơ cổ được tính theo chiều vĩ mô: nghìn thu, thiên thu, ngàn đời, vạn năm thì thời gian trong Thơ mới được tính bằng thời gian đời tư, tâm trạng, cảm tính. Vừa thoát khỏi cái ta làng xã ngàn năm, cái tôi thị dân - tư sản sau những phấn chấn ban đầu đã rơi ngay vào sự cô đơn. Tương lai thì mờ mịt, hiện tại thì bơ vơ, cái tôi lãng mạn lấy quá khứ làm tương lai. Khác với Xuân Diệu sau này, các nhà Thơ mới buổi đầu như Thế Lữ, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp... đã chọn con đường quay về quá khứ. Một cái ngày xưa mơ hồ nào đó giúp họ lí tưởng hóa, thơ mộng hóa cõi mộng ước khôn nguôi. Thế Lữ ví mình như con Hổ vườn bách thú nhớ rừng xưa, sống với những ngày xưa... Nguyễn Nhược Pháp có cả một tập thơ lấy tên là Ngày xưa nhằm làm sống lại một thời xưa với "sắc màu tươi", "hình dáng ngộ nghĩnh". Cũng với tâm trạng u hoài thời gian hiện tại, đến lượt Chế Lan Viên, ông tìm về một nước Chàm xưa để than khóc. Nguyễn Bính van em "giữ nguyên quê mùa" như hôm qua, như thuở trước. Vũ Đình Liên nhớ bóng dáng của Ông Đồ viết câu đối Tết thuở nào với một niềm da diết: "Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ". Thời xưa quan niệm thời gian không đi mất mà quay trở lại, vĩnh viễn tuần hoàn nên người làm thơ thường sùng cổ, xem chuẩn mực của chân lí là ở quá khứ. Các bậc nho sĩ thường vô tư, nhàn tản, ung dung, đứng ngoài thời gian nên không vội vàng, giục giã. Ở Thơ mới, cái tôi cá nhân tiểu tư sản thì khác hẳn, họ rất ý thức về sự mất mát của thời gian:


            Thong thả chiều vàng thong thả lại...


            Rồi đi... đêm xám tới dần dần...


            Cứ thế mà bay cho đến hết


            Những ngày, những tháng, những mùa xuân.


                           (Giờ tàn - Xuân Diệu)


Cái tôi nhà thơ càng nặng nỗi đời bao nhiêu thì càng sợ sự trôi chảy của thời gian bấy nhiêu. Với họ, thời gian là của cải, là công danh sự nghiệp, là tuổi trẻ và tình yêu nên họ cố công tận dụng hết thảy:


            - Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ


                                     (Giục Giã - Xuân Diệu )


            - Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm


                                     (Vội Vàng - Xuân Diệu )


            - Ôi vội vàng là những phút trao yêu


                                    (Tặng Thơ - Xuân Diệu)


Trong các nhà Thơ mới, Xuân Diệu là người đại diện tiêu biểu nhất cho triết lí hưởng thụ gấp gáp, chạy đua từng giờ từng phút với thời gian hiện tại. Nhiều lúc, ông muốn dồn nén thời gian của cả trăm năm, của đời người vào trong một phút giây:


            - Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối


                                      (Giục giã - Xuân Diệu)


            - Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi.


                                      (Cảm xúc - Xuân Diệu )


Đó không phải là một cách sống tiêu cực mà là một quan niệm nghệ thuật, một “nhãn quan thi pháp” về thời gian của kiểu nhà Thơ mới.


Kiểu nhà thơ như vậy là một kiểu lựa chọn hình thức trữ tình, một ý thức về vai trò, ý nghĩa tồn tại của nhà thơ trong đời sống thi ca. Xác định kiểu nhà thơ tức là vạch ra được một hệ thống thi pháp chủ đạo xuyên suốt mang tính loại hình trong tiến trình lịch sử thi ca. Hệ thống thi pháp này trở thành một áp lực quy định các sáng tác tiếp theo, vừa làm dễ dàng cho sáng tác ấy vừa bó buộc nó.


3. SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ MỚI


Cũng như những hình tượng nghệ thuật khác, cái tôi trữ tình không phải là bất biến, tĩnh tại, nó có đời sống vận động riêng. Thơ mới là quá trình tích lũy và tìm tòi thường xuyên, nâng cao kinh nghiệm lĩnh hội đời sống và "nội cảm hóa" thực tại. Trong quá trình này cái tôi trữ tình Thơ mới bộc lộ những sắc thái thẩm mĩ khác nhau. Các sắc thái cơ bản được đề cập dưới đây chỉ có tính đậm đặc hơn, đại diện cho từng giai đoạn vận động của nó.


3.1. Cái tôi trữ  tình buổi ban đầu


            Theo quy luật tâm lí, trước một cái mới, thụ hưởng cái mới, tâm hồn con người thường ngỡ ngàng, ý tứ. Dẫu có say đắm vẫn dè đặt. Tâm trạng lớp nhà Thơ mới buổi đầu cũng vậy. Đó là cái tôi trữ tình e ấp, tình tứ (e ấp là ngại ngùng, không mạnh dạn bộc lộ hết tâm tư, tình cảm. Tình tứ là bày tỏ tình cảm, bộc lộ tình cảm một cách tế nhị). Mỗi một nhà thơ có một khuôn mặt riêng, nhưng họ đều gần gũi với tiếng nói chung của lớp nhà thơ cùng thời đại.


Hưởng ứng lối Thơ mới mà Phan Khôi trình làng, thơ Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Thế Lữ ra đời đã nhanh chóng được giới trẻ tán dương, ủng hộ. Lưu Trọng Lư là người đầu tiên gửi thư và bốn bài thơ (đăng trên Phụ nữ tân văn số 153, 6/1932) cho Phan Khôi, hô hào cách tân và chủ trương “nếu cần phóng túng buông lung thì cứ phóng túng buông lung”. Cùng với Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư đã đăng đàn diễn thuyết cho Thơ mới (vào tháng 6/1934. Bài đăng ở Tiểu thuyết Thứ bảy số 27, 12/34). Đồng cảm với tinh thần của cái tôi trữ tình thời đại, ông hiểu họ đang “khao khát đi tìm thi nhân của mình như con đi tìm mẹ” (Người sơn nhân). Đó là thế giới nửa hư, nửa thực, thế giới của mộng mơ, nhớ thương được diễn tả bằng những vần thơ trong sáng, đượm buồn trong nhạc điệu vấn vương êm đềm:


                        Em không nghe mùa thu


                        Dưới trăng mờ thổn thức


                 .......................................


                        Em không nghe rừng thu


                        Lá thu kêu xào xạc,


                        Con nai vàng ngơ ngác


                        Đạp trên lá vàng khô?


                                           (Tiếng thu - Lưu Trọng Lư)


            Nỗi buồn mênh mông, bao la, sâu lắng. Đất trời, rừng quê như cũng mang cái hồn hiền hậu, chất phác của chú "nai vàng". Mã Giang Lân cho rằng Tiếng thu của Lưu Trọng Lư gần với những tiếng đàn thu não nùng của Verlaine trong Bài hát thu về. Nó nhẹ nhàng từ âm điệu, đến ý tưởng, tạo ra cái "rạo rực", "thổn thức", "ngơ ngác" của "người cô phụ", "con nai vàng" hay cả một thế hệ thi sĩ vừa bước vào "thế giới cái tôi"?.


Cái tôi cá nhân bộc bạch trong các bài thơ buổi đầu là tâm trạng bâng khuâng, mơ mộng, e lệ, ngại ngùng, lo sợ cho cả... hoa vì sợ ngượng mà hoa không nở:


...Trăng bên thềm lặng toả


                        E lệ dưới cành sương


                        Ngại ngùng hoa chưa nở...


                                    (Chờ hoa - Lưu Trọng Lư)


 Toàn bộ cảm xúc, ý tưởng của cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Trọng Lư có thể tóm tắt ở bốn chữ: mộng - tình - sầu - say. Lưu Trọng Lư sống nhiều trong cõi mộng. Bài thơ Hôm qua - bài in đầu tiên trong tuyển tập Thơ mới 1932 - 1945, tác giả - tác phẩm, (phần Lưu Trọng Lư), mở đầu là “chiêm bao” (Hôm qua bạn a! ta chiêm bao), kết thúc là “mộng” (Mộng, mộng mà thôi! mộng hão hờ). Tình yêu với người con gái quay tơ trong Thơ sầu rụng cũng chỉ là tình yêu trong cõi mộng. Âm điệu bài thơ dằng dặc nỗi buồn, thương nhớ nhưng không có khát khao gặp gỡ, tận hưởng như tình yêu sau này. Khác với Thế Lữ luôn có ý tưởng mới, Lưu Trọng Lư thường bàng bạc với hai nửa cũ - mới. Khao khát cái mới nhưng không đoạn tuyệt hoàn toàn với cái cũ. Nắng mới về mà lòng ông vẫn gửi  nơi dĩ vãng đau thương:


Mỗi lần nắng mới hắt bên song,


Xao xác, gà trưa gáy não nùng


Lòng  rượi  theo thời dĩ vãng,


Chập chờn sống lại những ngày không


                         (Nắng mới - Lưu Trọng Lư)


Thế giới trong thơ Thế Lữ cũng chưa phải là cuộc sống thực như ở thơ Xuân Diệu sau này. Thế Lữ thường khoác áo bồng lai tiên cảnh cho thanh cao hoặc tìm về với quá khứ oanh liệt:


            Êm như lọt tiếng tơ tình


            Đẹp như  ngọc nữ uốn mình trong tranh...


                                            (Tiếng sáo Thiên thai  - Thế Lữ)


            Ta sống mãi trong tình thương, nỗi nhớ.


            Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.


                                              (Nhớ rừng - Thế Lữ)


Tình yêu là chủ đề được nói đến nhiều trong Thơ mới, nhưng buổi ban đầu chủ yếu dừng lại ở Mộng và Đẹp. Huy Thông, Lưu Trọng Lư coi tình yêu là thơ mộng, là tưởng tượng:


            Niềm ái ân chưa được biết bao giờ


            Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng...


                                     (Gió đông xuân - Huy Thông)


            Mộng tràn trên bông


            Tình ấp trong gối


             Ruợu tân hôn không uống cũng say nồng


                                    (Còn chi nữa - Lưu Trọng Lư)


            Em chỉ là người em gái thôi


            Người em sầu mộng của muôn đời


                                 (Một mùa đông - Lưu Trọng Lư)


Thế Lữ ca tụng tình duyên của mình với Nàng Thơ (như La Muse trong thơ Pháp):


                        Ngày xưa còn nhỏ đi săn bướm


                        Bướm sợ bay tìm trốn dưới hoa


                        Ta thấy hoa cười mê mải ngắm


                        Thế là từ đấy biết nàng thơ.


                                               (Ngày xưa còn nhỏ - Thế Lữ)


Nhà thơ thỏa mãn với "cuộc tình" đó cả khi lớn lên:


            Yêu sống trong đời giản dị bình thường


            Cùng với nàng thơ tháng năm ca hát


                                              (Trả lời - Thế Lữ)


Ngay cả khi ngồi cạnh bên người yêu, hết lời ca tụng tình yêu nhưng chưa lúc nào thơ Thế Lữ đi đến lả lơi, suồng sã như Xuân Diệu, đề cao nhục cảm như  Bích Khê, Vũ Hoàng Chương,... sau này.


Nguyễn Nhược Pháp lại dựng trong thơ mình cái thế giới ngày xưa với những sắc màu tươi vui, nét hình ngộ nghĩnh. Trên nụ cười nhẹ nhàng, tình tứ đi suốt bài Chùa Hương là nỗi lòng xúc cảm nhè nhẹ, xao động hồn ta...


            ... Làn gió thổi hây hây


                        Em nghe tà áo bay


                        Em tìm hơi chàng thở


                        Chàng ôi, chàng có hay?


                                     (Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp)


Sự vận động của cái tôi trữ tình thường diễn ra trên hai cấp độ: là mạch vận động nội tại trong một giai đoạn, hoặc là sự thay thế ở hai giai đoạn khác nhau. Sự vận động của cái tôi trữ tình trong giai đoạn đầu của Thơ mới là sự vận động thay thế kiểu cái "ta" trữ tình trong thơ cũ. Khác với cái "ta" cao cả, tự đắc, tự tại, cái tôi Thơ mới ngay từ lúc mới được giải phóng đã muốn thể hiện một cảm xúc, "muốn bày tỏ cho chúng ta trước hết là về chính họ, là phơi bày tâm hồn, cõi lòng họ" [129,36].


Như "con chim đến từ núi lạ", cái tôi trữ tình Thơ mới buổi đầu thật dễ thương trong cái xao xuyến, e ấp, ngỡ ngàng. Do kinh nghiệm thể loại chưa nhiều nên chưa được tinh luyện như giai đoạn sau, song cái phóng túng, phơi trải thật hồn nhiên, khác lạ!


3.2. Cái tôi trữ tình giai đoạn tự khẳng định


            Không còn xôn xao như buổi ban đầu, chủ nghĩa tư bản phương Tây và những triết thuyết tôn vinh chủ thể con người đã làm cho con người cá nhân dần dần đi đến chỗ định hình. Hiện thực đời sống chính trị - xã hội thay đổi khác trước rõ rệt. Sau các phong trào cách mạng dân chủ thất bại, âm vang của các phong trào cách mạng hồi đầu thế kỉ và phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh tạm thời lắng xuống, người tiểu tư sản trí thức thành thị mất phương hướng, bơ vơ, bất lực trước thực tại, quay lưng lại với thời đại, ôm trong lòng nỗi buồn cô đơn chồng chất và khát vọng trần thế mãnh liệt. Ý thức cá nhân của nhà thơ rõ rệt hơn, họ không còn thích cái kiểu tự biểu hiện dàn trải, nhàn nhạt nữa mà luôn thấy cần sự mạnh dạn, sự "thành thực" mang khát vọng hưởng thụ cuộc sống. Ý thức nghệ thuật của  nhà thơ đã trưởng thành, kinh nghiệm về thể loại được tích lũy. Các yếu tố đó đã tạo cho cái tôi trữ tình Thơ mới vận động chiếm lĩnh đời sống đến độ sung mãn, đưa thơ đến giai đoạn hoàng kim của nó.


            Cái tôi trữ tình trong Thơ mới giai đoạn này vận động theo quy luật  hai chiều: vừa đối lập, vừa thống nhất. Một mặt, nó củng cố bản chất thuần nhất, phản ánh trung thành bộ mặt tinh thần và cảm xúc thời đại. Một mặt, nó tìm đến sự đa dạng phong phú của các phong cách, sắc thái cá nhân. Cảm xúc thuần nhất của cái tôi thời đại này là nỗi buồn, cô đơn và khát vọng được thỏa mãn một cách tối đa những nhu cầu của cuộc sống vật chất, của những tình cảm, cảm giác tinh vi, mãnh liệt mà tập trung đầy đủ nhất là ở Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới. Đến Xuân Diệu, không còn nỗi buồn "hiu hắt", "buồn tịch mịch trong những điều ấm nóng reo vui" như Thế Lữ nữa mà nỗi buồn ngự trị, bủa vây cả thế giới tâm trạng nhà thơ: buồn khi xuân đi, buồn khi thu đến, buồn khi chiều buông lưới, khi gió sớm bay về. Buồn cùng trăng, sầu cùng kĩ nữ, buồn có cớ và buồn vô cớ:


                        Hôm nay trời nhẹ lên cao


                        Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.


                                                   (Chiều - Xuân Diệu)


                        Gió sáng bay về thi sĩ nhớ.


                        Thương ai không biết đứng buồn trăng


                                                  (Buồn trăng - Xuân Diệu)


Đặc biệt, khi thi nhân ý thức đầy đủ, sâu sắc bản ngã của mình thì nỗi buồn được nâng lên thành đỉnh cô đơn chon von:


                        Hiu hắt nhỉ, bốn phương trời vò võ.


                        Lạnh lùng chăng, sầu một đỉnh chon von


                        ... Ta cao quá thì núi non thấp lắm


                        Chẳng chi so, chẳng chi đến giao hòa


                                                (Hi Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)


Không như Huy Cận có khi phải cầu thượng đế để giải thoát cho mình nỗi sầu vạn kỉ, không như "con nai vàng ngơ ngác" của Lưu Trọng Lư còn đạp được lá vàng khô, Xuân Diệu đơn độc như con nai bị cả trời chiều vây bủa:


            Tôi là con nai bị chiều đánh lưới


            Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối


                                     (Khi chiều buông lưới - Xuân Diệu)


Đó cũng chính là thực trạng tinh thần đau xót, tâm thế cô đơn - căn bệnh chung của cái tôi tiểu tư sản tri thức trong thời kì đỉnh cao của phong trào Thơ mới.  Lý Hoài Thu nhận xét: "Không triền miên trong sầu mộng như Lưu Trọng Lư, không ấp ủ nhiều giấc mộng chinh phu như Thế Lữ hay những hoài vọng xa xăm như Huy Thông... với Xuân Diệu, cái "tôi" cá nhân được ý thức sâu sắc và mới mẻ hơn" [151,11]. Có lẽ trong các nhà Thơ mới, không ai bộc lộ lòng ham sống đến mức thiết tha, cuồng nhiệt như Xuân Diệu. Cũng chỉ đến Xuân Diệu, ông mới thể hiện đầy đủ độ nồng nàn say đắm nhất chủ nghĩa lãng mạn Phương Tây với một triết lí hưởng thụ rất phương Tây và những vần thơ cũng rất Phương Tây:


                        Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ,


                        Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi:


                        Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối


                        Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.


                                                      (Giục giã - Xuân Diệu)


Như vậy, Xuân Diệu có mặt ở cả hai thái cực: buồn, cô đơn cũng ở đỉnh cao nhất, mà khát khao hòa nhập, tận hưởng cuộc sống cũng ở độ sâu sắc nhất. Không những mới lạ hoàn toàn so với các nhà thơ cũ mà Xuân Diệu mới với cả các nhà Thơ mới cùng thời. Khác với Lưu Trọng Lư chu du trong cõi mộng, khác với Thế Lữ nuôi ý tưởng lên tiên với Bồng lai, Tiên cảnh, Hạc trắng hay trở về "ngày xưa", khác với Huy Cận luôn nhập vào vũ trụ trăng sao, khác với Chế Lan Viên nguyện cầu "Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh. Một vì sao trơ trọi cuối trời xa...", Xuân Diệu hiện diện ngay giữa cõi đời với niềm quyến luyến say mê vô bờ bến:


                        Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn


                        Làm dây da quấn quýt cả mình xuân


                        Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần


                        Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất


                                                   (Thanh niên - Xuân Diệu)


Đến Xuân Diệu, cái tôi tiểu tư sản cũng không còn yêu một cách rụt rè, nhớ thương bóng gió nữa. Tình yêu trần tục, đắm say đã thay chỗ cho thứ tình yêu xa xăm, dè dặt lẫn trong sầu mộng. Với Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, người yêu còn như "Bông hoa phong kín ý yêu đương", đến Xuân Diệu "Kẻ uống tình yêu dập cả môi" nhưng vẫn không lúc nào nguôi nỗi khát thèm, "Uống xong lại khát là tình...". Ở Thơ Thơ, chúng ta còn thấy Xuân Diệu ngồi cạnh người yêu, đang "hẹn hò", đang được "tương tư", nhưng sang Gửi hương cho gió, khát vọng hòa hợp vô biên tuyệt đích, niềm khát khao hưởng thụ cuộc sống trần tục đã được giãi bày một cách chân thành, táo bạo:


                        Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,


                        Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự.


                        Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!


                Em em ơi! Tình non sắp già rồi


      (Giục giã - Xuân Diệu)


Điều đáng qúy là trong nỗi buồn đau với thực tại, một biểu hiện khác khá rõ nét trong sự vận động của Thơ mới là cái tôi trữ tình cá nhân luôn tìm về với quá khứ, nương tựa vào đó như sự cứu rỗi tinh thần. Từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, trong thơ họ đều có mặt của quá khứ, song giai đoạn cuối tần số xuất hiện nhiều hơn. Bài thơ được xem có giá trị làm lệch đôi gánh trong cuộc đấu tranh đang ở hồi quyết liệt, căng thẳng giữa thơ cũ và thơ mới là bài Nhớ rừng của Thế Lữ. Thế Lữ, cùng bài thơ này được xếp hạng là người đi tiên phong trong phong trào Thơ mới, nhưng cảm xúc lại gởi về quá khứ. Quá khứ trong thơ Thế Lữ không những được tự do, tự tại mà còn thấm đậm chất cao cả, trái hẳn với những cảnh đời thấp hèn không thể dung nạp được của hiện tại “những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối”. Nỗi than thở tuyệt vọng “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” vừa gợi nhắc quá khứ, vừa thể hiện tâm trạng chung của tầng lớp thanh niên trí thức Tây học buổi đầu: ý thức về quá khứ, về dân tộc nhưng bế tắc trước tương lai. Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò của hai nguồn thi cảm. Thế Lữ đã băn khoăn trước hai nẻo đường: nẻo về quá khứ với mơ mòng, nẻo tới tương lai và thực tế” [138,60]. Nếu “nẻo về quá khứ” của Thế Lữ còn được thể hiện bằng những sợi dây của mơ mộng (“Ta là một khách chinh phu”), nhớ (“Nào đâu những...”, “Đâu những...”), thì đến Vũ Đình Liên, nhà thơ như sống hẳn với quá khứ. Ông khẳng định “Lòng ta là những hàng thành quách cũ” để rồi được sống với không gian “tự ngàn năm”:


            Gió không thổi, nước sông trôi giá lạnh,


           Thuyền đi trong bóng tối lũy thành xưa.


                      Trên chòi cao, tự ngàn năm sực tỉnh


                      Trong giăng khuya bỗng vẳng tiếng loa mơ


(Lòng ta là những hàng thành quách cũ - Vũ Đình Liên)


Trong cảnh “gió Âu, mưa Á” đang hoành hành ở buổi giao thời như muốn triệt tiêu những giá trị cũ, Vũ Đình Liên lại nhận ra sự hẫng hụt, thiếu vắng của chiếc bút lông truyền thống:


 Năm nay hoa đào nở


 Không thấy ông đồ xưa


                         Những người muôn năm cũ


 Hồn ở đâu bây giờ?


         (Ông đồ - Vũ Đình Liên)


Quá khứ hiện về, trở trăn trong lòng nhà thơ. Không ai phủ nhận được đứa con tinh thần sáng giá nhất của Vũ Đình Liên, một trong những kiệt tác của Thơ mới là hình bóng một “Ông đồ”! Vũ Đình Liên không sờ những hàng thành quách cũ bằng tay, không nhìn hình ảnh Ông Đồ bằng mắt, không nghe tiếng loa xưa bằng tai được nữa nên nuối tiếc, bâng khuâng, để linh giác trải bày trên những trang Thơ mới có sức lay gợi sâu xa về quá khứ.


(còn tiếp)


Nguồn: Thơ  Mới 1930-1945 – Nhìn từ sự vận động thể loại.  Khảo luận của Hoàng Sỹ Nguyên. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »