Trong Thơ mới 1932 - 1945 tác giả và tác phẩm, có tám bài thơ ngay nhan đề đã mang chữ “xưa” (Hồ DZếnh: Tình xưa; Xuân Diệu: Mơ xưa; Huy Cận: Chiều xưa, Đẹp xưa; Ngân Giang: Ngày xưa; Tế Hanh: Trường xưa; Nguyễn Xuân Sanh: Buồn xưa) thì riêng Huy Cận có hai bài. Quả là Huy Cận sống nhiều với cái ngày xưa, mà theo ông thường đẹp và buồn:
Hỡi mây trắng phất phơ màu gió cũ!
Nước buồn ôi! Còn lại bến sơ xưa,
Cho ta gởi vọng xuôi về quá khứ,
Đôi chút sầu tư nước đẩy, mây đưa”
(Bi Ca)
Huy Cận có nhiều bài thơ hoài cổ. Ông luôn để lòng mình mặc cho quá khứ níu kéo, dẫu quá khứ đó có “quằn quại”, “phất phơ buồn”:
Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về
Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu
(Chiều xưa)
Nhà thơ như cũng hợp gu với những cái ngày xưa đó, thân mật với những “thi sĩ muôn xưa” đó nên đã lắm lúc gọi họ về để trò chuyện:
Cùng một bận chuyền nhau từng thế kỉ,
Thì về đây, hỡi thi sĩ muôn xưa!
Chiều hiu hiu khêu gợi nhớ nhung hờ,
Câu tâm sự gọi duyên người kim cổ
(Trò chuyện)
Cũng như Thế Lữ, Huy Cận sống thời nay mà mơ làm khách chinh phu thời xưa. Theo ông, dòng máu “anh hùng thời loạn” của thế kỉ trước luôn là hình ảnh biểu trưng cho cái đẹp, cái lãng mạn:
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon...
Đi rồi, khuất ngựa sau non;
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu...
(Đẹp xưa)
Thời gian nghệ thuật trong Lửa thiêng hầu như chỉ có quá khứ. Huy Cận ngược dòng thời gian, tìm về quá khứ, quá khứ không chỉ của riêng ông mà của tất cả. Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Toàn bộ Lửa thiêng là tâm sự của một kẻ đã từng được sống ở Thiên đường - cõi hài hòa tuyệt đối - nay bị đày xuống Trần gian để sống trong nuối tiếc” [155,25].
Quá khứ trong thơ Chế Lan Viên là Chiêm quốc điêu tàn:
Đây những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
(Trên đường về)
Nền văn minh độc đáo của dân tộc Chàm xưa giờ đã diệt vong, nhà thơ xúc động khôn nguôi. Bất mãn với hiện tại, nhiều nhà thơ tìm về quá khứ, thương tiếc quá khứ với nhiều cách biểu hiện khác nhau. Riêng nhà thơ Chế Lan Viên có cách trở về với quá khứ kì quái, kinh dị. Tác giả dựng lên một không gian siêu thực về đất nước Chàm có thực ngày xưa bằng cách đồng hiện và siêu hình hóa nó cho nỗi đau dồn ứ. Dĩ vãng được tái hiện bằng những “hồn”, “máu”, “quỷ ma”, “đầu lâu”, “cô hồn”, “tử khí”…
Sống giữa không gian đô thị hiện đại, nhưng trong tâm thức, lớp nhà Thơ mới vẫn luôn hướng về không gian làng quê, nơi lưu giữ những nét đẹp văn hóa “chân quê” - cội nguồn dân tộc. Khảo sát Thơ mới, chúng tôi còn thấy một biểu hiện đáng chú ý nữa là cái tôi trữ tình Thơ mới mang sắc thái mượt mà, ấm áp tình quê. Nguồn mạch văn hóa Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nên nông thôn, làng quê là nơi “bảo tàng” của những nét đẹp văn hóa truyền thống. Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX có tốc độ phát triển mau lẹ. Các tác giả Thơ mới là tầng lớp trí thức Tây học nên họ gắn với đô thị. Song, gởi thân nơi chốn phố phường náo nhiệt, nhiều người trong số họ lại đặt lòng mình về với không gian làng quê yên ắng, trong trẻo và hút nhụy sống tâm hồn ở đó. Trong Thơ mới, có biết bao hình ảnh mến thương của văn hóa truyền thống làng quê như: hình ảnh con đường làng, mảnh vườn, tiếng sáo và cánh diều, gốc đa và sân đình, lễ hội làng... Những biểu trưng văn hóa truyền thống này xuất hiện khá nhiều, thậm chí làm nên thành công và điệu tâm hồn riêng không thể lẫn được cho một số nhà thơ như Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Phạm Hầu.
Lạ thay, khi cuộc sống đô thị với những nhà lầu, xe hơi, con đường rải nhựa thẳng băng đang có sức cuốn hút ghê gớm lớp thanh niên thì chúng ta lại thấy trong Thơ mới hình tượng con đường vương đầy những kỉ niệm xưa. Họ quên sao được con đường đã góp phần tạo nên bức tranh quê tươi đẹp:
Tới đường làng gặp những người quen,
Ai cũng khen u nết thảo hiền,
Dẫu phải theo chồng thân phận gái
Đường về quê mẹ vẫn không quên
(Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ)
Đồng quê, vườn lượn chân trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
(Cổng làng - Bàng Bá Lân)
Cũng chính con đường đó dẫn họ đến với hội làng, gặp gỡ, hò hẹn với người thương:
Ta tưởng bao giờ ta có thể
Con đường như một mối tơ duyên
(Có những con đường - Đoàn Văn Cừ)
Con đường làng là không gian sinh hoạt đầm ấm của những người lao động, nơi đó thể hiện phần nào cuộc sống của thôn quê, ôm ấp bao kỉ niệm.
Đặc biệt, nhà thơ Tế Hanh đã nhập vai hóa thân thành con đường quê để nói lời tình cảm của mình với quê hương. Lời con đường quê cũng chính là nỗi niềm của tác giả dành cho quê hương:
Tôi con đường nhỏ chạy lang thang
Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng
Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng
Hương đồng quyến rũ hát lên vang
(Lời con đường quê)
Trong 46 bài thơ của Đoàn Văn Cừ, hình tượng con đường quê xuất hiện đến 23 lần (chiếm 50%). Đặt trong cái nhìn thiên nhiên toàn khối theo thi pháp thơ cũ, con đường là nhát cắt làm biến đổi không gian truyền thống, song nó lại có công kết nối các xóm thôn, đồng quê, kết nối không gian vũ trụ trong thơ, và đặc biệt kết nối cái tôi trữ tình Thơ mới, một mặt nào đó là sản phẩm của đô thị với làng quê cổ xưa dân dã.
Một trong những biểu trưng văn hóa khác của làng người Việt là cây đa, sân đình. Từ cội nguồn xa xưa, đình làng thường có trồng cây đa tỏa bóng che mát, vừa thể hiện sự hài hòa với thiên nhiên, vừa tăng cảm thức linh thiêng trong văn hóa tâm linh (“Thần cây đa, ma cây gạo”). Trong thơ Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, cây đa - sân đình được nhắc đến khá nhiều. Anh Thơ đã miêu tả hình ảnh đó một cách thân thiết:
Mới hửng sáng, đàn chim còn ngái ngủ
Trên chòm đa buông rễ ướt bên đình
Hạt sương sớm đã trao tay gió rũ?
Khắp mái lều rung bóng mặt trời xinh
(Họp chợ - Anh Thơ)
Sinh hoạt đình làng là sinh hoạt của cộng đồng. Nơi đó thờ cúng người có công khai cơ lập nghiệp làng - thường gọi là Thành Hoàng:
Trong chùa, điện hương đèn nghi ngút sáng
Tiếng mõ, chuông hòa nhịp trống bên đình
(Rằm tháng bảy - Anh Thơ)
Nơi đó cũng diễn ra những lễ hội quan trọng, linh thiêng như lễ cầu mưa, lễ cúng cơm mới, lễ đón giao thừa:
Tế Thánh vừa xong lại một ngày
Trong đình xôi thịt chén no say
(Ngôi đình - Đoàn Văn Cừ)
Bỗng tiếng pháo đẹt đùng xa nổ, báo
Ngoài đình trung làng đã tế giao thừa
(Đêm ba mươi tết - Anh Thơ)
Sân đình là nơi hội hè, ca hát, nơi ghi dấu bao sinh hoạt đáng yêu. Anh Thơ đã kịp ghi lại một trong những đêm hội không thể nào quên đó:
Trong đường xóm trống chiêng chung nhịp nổi
Trẻ con theo sư tử rước vang ầm.
Ngoài đình sáng tiếng cười chen tiếng nói
Gái trai làng ra họp hát trống quân.
(Rằm tháng tám)
Dưới gốc đa cổ thụ bên đình làng, cũng là nơi trao đổi, mua bán của người dân quê. Hàng hóa của họ, cách mua bán của họ mang cả tình quê trong đó:
Nhưng đắt nhất có chị hàng bán quạt
Ngồi trước đình không kịp đếm tiền xâu
(Chợ mùa hè - Đoàn Văn Cừ)
Mấy ông lão khiêng lồng lợn giống
Một bà già quẩy đến gánh bèo non
(Họp chợ - Anh Thơ)
Trong Thơ mới, tiếng sáo - cánh diều, hiện tượng mang nét thôn quê dân dã của làng quê Việt Nam cũng được đề cập. Những cánh diều tuổi thơ chuyên chở bao mơ ước bay lượn giữa bầu trời xanh thẳm của cánh đồng làng, vi vút tiếng sáo của các chú mục đồng đã từng nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách bao thế hệ:
Trời lam gấm, em cùng tôi đứng ngóng
Tiếng sáo diều của lũ trẻ chăn trâu
Tay cầm tay ta sẽ chỉ cho nhau
Chiếc diều đứng trên nền mây lụa đỏ
(Đoàn Văn Cừ - Lá thắm)
Nhớ lại năm xưa còn ở quê
Chiều bên đường cỏ đợi trâu về
Em nhìn chim vút lên trời thẳm
Anh lắng diều than trong tiếng tre
(Trở lại đồng quê - Bàng Bá Lân)
Lớn lên, đi xa, nhớ quê hương, họ nhớ cánh diều, tiếng sáo. Tiếng sáo làm lòng người lữ thứ có những cái nao nao buồn giàu sắc thái nhân văn:
Những buổi trưa nào cao tiếng sáo
Trâu bò nằm nghỉ lắng tai nghe
(Làng - Đoàn Văn Cừ)
Cội nguồn của văn hóa Việt Nam là văn hóa nông nghiệp. Ngày trước cũng có các đô thị nhưng số lượng ít, mà là đô thị của xã hội nông nghiệp nên được quần bọc bởi văn hóa làng quê, khác hẳn kiểu đô thị phương Tây sau này. Do vậy, từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, mỗi người đều có một làng quê trong tâm thức. Những nét ruột thịt của làng quê như trên đều là những bản sắc riêng mang giá trị cố hữu của nền nông nghiệp lúa nước, nó gắn với kỉ niệm tuổi thơ, hình thành và nuôi dưỡng nhân cách, tâm hồn, tạo nên sự hiền hòa, nhân hậu trong ứng xử và đức tính của con người Việt Nam.
Tự lúc nào, trong mỗi làng quê, những lễ hội được tổ chức, tồn tại lâu năm đã ăn sâu trong trí nhớ, tâm hồn mỗi người, trong nếp sống, nếp nghĩ của họ. Hồ hởi đón lấy những luồng gió mới của văn hóa phương Tây, những thanh niên trí thức Việt Nam ra sức thành thật trải bày những cảm xúc mới trong thời đại mới, nhưng họ vẫn không quên lễ hội xưa, chú tâm bày tỏ nó trong những trang Thơ mới như đến ngày, đến mùa lễ hội thì về dự, chẳng cần ai mời mọc:
Nhịp đời định sẵn từ xưa
Ươm tơ tháng sáu lên chùa tháng giêng
(Lũy tre xanh - Hồ DZếnh)
Thơ Nguyễn Bính như một bảo tàng của nhiều lễ hội làng quê vậy! Đọc thơ ông, chúng ta được sống với không khí những đêm hát, những hội chèo, những hội bên sông, những hội Chùa Hương, hội Đền Hùng... đầy quyến rũ:
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm.
Em mãi tìm anh chẳng thiết xem
(Mưa xuân)
Khóa hội chùa Hương đã đóng rồi.
Hội đền Hùng nữa đám thôn tôi.
Thôn tôi vào đám hai ngày chẵn.
Chỉ có chèo không nhưng cũng vui.
(Cuối tháng ba)
Ở đây, có cả sự bâng khuâng, nhớ tiếc khi những ngày hội đi qua. Đó chính là những “chút hồn quê ẩn náu” (Hoài Thanh) trong lòng các nhà Thơ mới.
Quả là trong Thơ mới, quá khứ và những nét văn hóa truyền thống hiện về rõ mồn một. Sự thực thì trong guồng quay nhốn nháo của xã hội buổi giao thời, cái tôi cô đơn, chơi vơi đã quay về nương tựa nơi những bức tranh quê. Ở đó có cả một thời - một trời quá khứ, có con đường làng, tiếng sáo - cánh diều, cây đa - sân đình, lễ hội làng quê... Họ lắng tìm trong đó sự bình yên trong lành của cuộc sống và những góc hồn quê linh thiêng nuôi dưỡng tinh thần sống!
Có thể nói, đến giai đoạn này cái tôi trữ tình trong Thơ mới đã đạt đến đỉnh cao, ở độ tròn đầy nhất. Cái tôi nhà thơ đã ý thức được sâu sắc về chính mình, mạnh dạn bày tỏ niềm ước vọng hưởng thụ cuộc sống một cách tuôn trào nhất. Ý thức nghệ thuật về cá nhân sâu sắc đó đã tạo ra được một thành tựu thơ lớn với nhiều phong cách riêng nổi bật.
3.3. Sự phân hóa của cái tôi
Nếu Tản Đà là gạch nối giữa "cái Ta thơ cũ" và "cái Tôi Thơ mới” thì Xuân Diệu là bản lề khép, mở hai chặng đường của "cái Tôi Thơ mới": Ở đỉnh cao nhất đồng thời bước sang thời kì phân hóa.
Âm hưởng chính của Thơ mới là sầu, buồn, cô đơn. Nếu ở giai đoạn trước, cái tôi trữ tình Thơ mới còn sầu lâng lâng, buồn man mác, cô đơn vì cảm thấy mình trống vắng thì đến giai đoạn này sầu đã lên tột đỉnh, buồn đã chạm đến nỗi buồn thảm và cô đơn đã thành cô quạnh. Nỗi "buồn tênh" trong thơ Lưu Trọng Lư ("Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh") đã trở thành cảm giác cô đơn của nhục thể, rất trực tiếp trong thơ Xuân Diệu ("Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo - Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da"). Huy Cận trong Vũ trụ ca xuất hiện một cái tôi trữ tình bàng hoàng "Ngồi xe nhật nguyệt cùng thiên nhiên - Làm bạn đi đường về vô định" và "Ta đi về đâu ta chẳng biết - Chỉ biết trời xanh là ta say". Chế Lan Viên ở Vàng sao xem kiếp người ta "Như những dạ tràng không dấu vết, đem mình đọ với hư vô, chết đi chưa kịp thấy hư vô". Hàn Mặc Tử lại hướng về hồn điên trên thượng giới, đi vào cõi "Trắng không gian", "Cõi thiên không", hóa thân vào vầng trăng siêu thoát vừa bệnh hoạn vừa thanh khiết.
Cái tôi trữ tình trong thế giới Điêu tàn của Chế Lan Viên luôn khóc cho một dĩ vãng vàng son và bi tráng đã lùi xa để gửi thông điệp về sự hủy hoại của con người, sự tàn vong của một thời đại như dấu nhấn lay thức khi xã hội Việt Nam thời kì này vẫn còn trong màn đêm nô lệ. Quá khứ đó được nhà thơ trải bày với những xương khô, máu huyết, xác chết, tủy tanh nồng, sọ người, thịt nát...:
- Hơi người chết tỏa đầy trong cỏ lướt
Tiếng máu kêu, rung chuyển cỏ xanh non
- Và xương khô, và sọ dừa, và thịt nát
Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh
Loài người đã mang đi qua mộ khác
Để lòng ta trống trải khí thiêng linh
Cái tôi Điêu tàn không chấp nhận sự thật đã mất, xem thực tại chỉ là cái vỏ để tìm về quá khứ nên sống trong ảo vọng giữa cuộc đời trần trụi và chuốc lấy thất vọng. Càng thất vọng càng khát khao đến điên cuồng được yêu, được sống, được nắm giữ quá khứ dẫu đó là cõi u minh của thần chết:
Hãy về đây, về bên ta mi hỡi!
Đem cho ta những phút rỡn kinh hồn
Những phút mộng, điên cuồng mơ dữ dội!
Ta sẽ vui giao trả khớp xương tàn.
Sống với thế giới siêu hình, kì bí, huyền diệu là cách để thoát khỏi thực tại đau buồn chăng? “Kêu gào”, “rít” đến “xương vỡ sợ”, “máu sôi trào” là “đỡ được phút u sầu” cho phần hồn tuyệt vọng:
Sọ dừa ơi hãy nghe ta truyền phán
Hãy ngả nghiêng, hãy lặn lội, hãy kêu gào
Hãy rít lên những điệu xương vỡ rạn
Hãy tuôn ra những tiếng máu sôi trào!...
Hồn giải phóng tinh thần, đưa phận người bé nhỏ được sống trong ước mơ của cõi mộng, trong thế giới hư ảo: “Cho hồn ta vụt bay lên vời vợi/ Trong bóng đêm u ám của hàng mi”. Thực ra thì thế giới hư ảo đó chỉ là cách thể hiện, cách nói của một ước nguyện. Chế Lan Viên là người lạ mặt trong thế giới Điêu tàn nhưng là người quen của chúng ta vì vậy!
Cái tôi trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê là cái tôi khao khát tìm hiểu, khám phá và phát hiện ra những bí ẩn nằm trong chiều sâu, những chiều kích khác nhau của con người. Ở đó, thế giới tiềm thức, vô thức, siêu thức của con người tâm linh được đề cao. Thời kì đầu, cái tôi trữ tình cá nhân trong thơ Hàn Mặc Tử cũng là cái tôi cá nhân mang màu sắc lãng mạn. Ở đó, vẫn là tiếng yêu thương, khao khát tình yêu, hạnh phúc và sự gắn bó với tình yêu mộc mạc, đôn hậu:
Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự
Tôi đều nhận thấy trên môi em
Làn môi mong mỏng tươi như máu
Đã khiến môi tôi mấp máy thèm
(Tình quê)
Cái tôi lãng mạn trong tập thơ Gái quê là cái tôi chung của lớp trí thức Tây học trẻ tuổi với các cung bậc phức tạp của tình yêu. Nó nói rõ “ta khao khát tình yêu đương” với lòng khao khát “dào dạt như làn sóng”, có cả lúc “vừa cười vừa khóc” hay “phát điên cuồng” ngây dại. Từ tập thơ Đau thương, cõi vô thức vốn đã có từ trước đậm nét dần. Con người tâm linh phân thân dữ dội để viễn du vào cõi tinh thần. Nỗi đau thể xác lớn dần, ranh giới giữa sinh và tử, thực tại và chiêm bao luôn chập chờn bất định. Vì vậy, Hàn Mặc Tử thường rơi vào tình trạng cô đơn với những biểu hiện kinh loạn của một thế giới khác. Kể cả vẻ đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử cũng là vẻ đẹp kinh dị trong thế giới âm u, mông lung, hư ảo, huyễn hoặc:
...Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn.
Đấy là tất cả người anh tiêu tán
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ,
Cùng tình em tha thiết như văn thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế
(Trường tương tư)
Cái tôi trữ tình trong thơ Bích Khê cũng là cái tôi phức hợp chứa vẻ huyền diệu, kì ảo, quái đản. Bích Khê thường tròng trành giữa mộng và thực, chập chờn giữa mê và tỉnh, con người có phân li giữa thực tại và linh hồn. Thực tại sống với thể xác, một thể xác quằn quại trong sự tan rữa cảm giác; Còn cõi siêu thoát ôm ấp linh hồn, một linh hồn phiêu diêu hư ảo. Thể xác và linh hồn có khi là hai: “Mình ta trước cửa thưởng hoa xuân”, “Hồn bay! Hồn bay! Hồn bay”, có khi hòa nhập là một: “Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu/ Bắt gặp nàng thơ diện yêu kiều/ Man mác cho nên nhớ chị Hằng/ Hai tôi nhịp nhàng lên cung trăng”. Bích Khê có hồn đau đê mê, lảo đảo: “Hồn đê mê trong kho lòng giận dữ... Có phải hồn cô buồn lảo đảo”, có hồn dịu êm trong cõi huyền diệu man mác, phiêu diêu: “Chàng ơi! Hồn say trong mơ màng/ - Hồn ta? Hay là hồn tình lang?/ - Non Yên tên bay ngang muôn đầu...”, có hồn siêu thoát trong cõi nhạc: “Hồn bay, hồn bay! ngửa nghiêng tắm mát vàng lay nhạc hường”. Cùng với hồn là Máu. Máu ẩn dụ cho sự chết chóc, cho những tiếng than mê tơi, cuồng điên: “Máu cuồng run khắp trong thân thể”, “Máu cuồng vẫn chảy điệu mê tơi”. Hồ Thế Hà lí giải: “...trong thơ Bích Khê, khi Máu, Hồn đã đi hết ngưỡng đau khổ và kinh hãi trong cảm giác, thì như một cân bằng mới, cái tôi trữ tình lại chuyển thành Hồn và Giai nhân” (Tham luận tại Hội thảo thơ Bích Khê: Tư duy thơ Bích Khê - nhìn từ các dạng thức của cái tôi trữ tình)[97]. Giai nhân là biểu tượng của cái đẹp chiết xuất từ thế giới rùng rợn, nhơ nhuốc, kì quái của xác chết, huyệt mộ, xương tủy, đầu lâu, sọ người. Thế giới ma quái này được nhìn ngắm, khám phá trong hành trình đi tìm cái đẹp để xoa dịu nỗi đau khổ khôn cùng. Sọ người được xem là phần còn lại của một nhan sắc xưa: là “buồng xuân hơ hớ cánh đào sương”, là “bình vàng”, “chén ngọc đầy hương”, là “khối mộng của hồn thơ chếnh choáng”.... Giống Hàn Mặc tử, Bích Khê chịu ảnh hưởng nhiều của trăng. Trăng được nhân hóa thành người bạn: "Ánh trăng nhòm sấp ngã”, “Trăng ôm niềm tóc bạc”..., thành người tình: “Lò mò đường lên mây/ Chén trăng vừa tầm với/ Chàng ơi vàng ròng đây/ Kề môi say ân ái”. Không gian trăng ôm trùm, an ủi cái tôi phân li, kì ảo: “Ôi nắng vàng thơm rung rinh điệu ngọc/ Những cánh hồng đơm những cánh hồng đơm/ Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương/ Màu trăng không gian như gờn gợn sóng”. Vầng sáng của trăng có khi như ánh ngọc tỏa phát: “Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành/ Nhung mây tê ngời sao kim cương”, nhưng cũng không thiếu vẻ lung linh ma quái bí ẩn: “Trăng dệt gấm và sao thêu kim tuyến/ Cả không gian ngời kết ngọc kim cương”, “Trăng gây vàng, gây vàng lên sắc trắng/ Của hồn thu đi lạc ở trong mơ”.
Hàn Mặc Tử tìm đến với Chúa thì Bích Khê lại tìm đường về cõi Phật. Cõi Phật từ bi ngự trị, an ủi, tạo niềm tin tích cực:
Phật Như Lai thoạt hiện
Trên bảy sắc cầu vồng.
Quái thay hòn Non Nước
Nghe giảng đủ mười tông!
Muôn năm dòng đá rắn
Nhuần thấm giọt từ bi
(Ngũ Hành Sơn (hậu))
Cõi Phật đã kéo Bích Khê về với cuộc sống trần thế dạt dào, gắn bó chất đời:
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
(Tỳ Bà)
Bích Khê tin rằng, ngày mình qua đời Phật sẽ đến dẫn đi: “Ta trên đài vọng hải/ Chỉ nhượng Phật Như Lai”. Nhưng dẫu lòng theo cõi Phật, siêu thoát trên đài sen, ở một xứ xa xôi nào đó, Bích Khê vẫn không quên trần thế, chàng vẫn mượn bóng trăng để tìm về: “Sau nghìn thu nữa trên trần thế/ Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi”. Cái tôi cô đơn bị phân hóa đã tạo ra nhiều dị biệt, kì ảo. Trong thơ Thế Lữ có cái bơ vơ của kẻ phiêu lãng nhưng chưa có hồn, máu, xương, nấm mồ. Giai đoạn này, nỗi buồn chán đã tạo nên nhiều gương mặt khác lạ với những cảm giác rùng rợn của cuồng, điên, máu ứa, xương tàn, mồ lạnh... Trong Lửa thiêng Huy Cận bộc bạch:
Tôi sẽ đến trước mặt Người, Thượng đế!
Để kêu than, khi tôi đã lìa đời;
Khi lá rụng, và hồn tôi đã xế
Sang bên kia thế giới của loài người.
(Trình bày - Huy Cận)
Huy Cận thường tạo ra một vũ trụ mênh mông buồn lạnh, một thiên nhiên lẻ loi, chia lìa, ngăn cách.
Hàn Mặc Tử, Bích Khê đã hóa giải nỗi đau trần thế, con người của “loài thi sĩ” đã tìm sự thăng hoa trong thế giới huyền ảo của cõi tâm linh để xoa dịu nỗi đau khổ của cõi người bé nhỏ. Sự thăng hoa qúy giá này của họ đã để lại những giá trị tinh thần bất hủ. Cái tôi cá nhân với những đối cực và phân li quái đản theo quan niệm của chủ nghĩa tượng trưng đã tạo sự lóe sáng lạ lùng làm nên giá trị, thi pháp thơ theo hướng hiện đại.
Đặc biệt ở Vũ Hoàng Chương, ông đã đào sâu vào tận cùng bản thể thấm thía nỗi cô đơn, trống lạnh. Nhà thơ đã tự cắt đứt mọi đường dây "thông cảm" với cuộc đời, chọn lối "Đưa hồn say về tận cuối trời quên", trôi ra "biển vô tận sá gì phương hướng nữa" bằng đôi cánh của Nàng tiên nâu, Nàng men và đê mê trong khoái lạc trần tục. Xuân Diệu khát khao cảm nhận hết mọi cung bậc tuôn trào bằng cắn, ôm, quấn, riết nhưng vẫn là tình yêu, đến Vũ Hoàng Chương đã là cảm giác đê mê trong nhục dục:
Say đi em. Say đi em.
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt.
Rượu. Rượu nữa. Và quên. Quên hết.
(Thơ say - Vũ Hoàng Chương)
Hiện tượng cái tôi cô đơn trong văn học lãng mạn là một sản phẩm có tính lịch sử. Đến Thơ mới, sự bơ vơ của con người cá nhân trước thời đại đã thế chỗ cho cái tôi an nhiên, tự tại của các bậc thi nhân xưa trong thơ trung đại. Chán nản với thực tại, cái tôi trữ tình cá nhân tìm cách thoát li. Song “trốn” vào đâu cũng không xa lánh được hiện thực đang trải bày ra trước mắt, nên đành phải trở về đối mặt với thực tại. Càng đối mặt với thực tại phũ phàng, ý thức về sự sầu đau của mình càng được khoét sâu.
Ở Hàn Mặc Tử nỗi sầu đau đã biến thành những giọt lệ tái tê, vang lên câu hỏi xoáy sâu cảm giác đau đớn, lẻ loi
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
(Những giọt lệ - Hàn Mặc Tử)
Trong các thi phẩm của Vũ Hoàng Chương và Trường thơ Loạn như đã phân tích ở trên, âm điệu buồn chán luôn bủa vây dày đặc. Bên cạnh cơn say dài của Vũ Hoàng Chương là tiếng gọi hồn thao thiết của Hàn Mặc Tử, đến mức: "Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc" (Hồn là ai); Thế giới Điêu tàn của Chế lan Viên lại là một thế giới với "Tiếng cười ghê rợn dậy vang mồ"; Bích Khê gần với Baudelaire ở phần trụy lạc và nỗi đau đớn tuyệt mệnh:
Hơn một bận ta đi vào cõi chết
Cạy nắp hòm tìm thi vị cao sang
Ôi mắt người! Mắt người ! Hiện rõ rệt
Ta gào lên... chấn động cả vòng tang
(Cặp mắt - Bích Khê)
Giai đoạn cuối, các nhóm Xuân thu nhã tập, Dạ đài đã có những bước đi qua những bến bờ bất thường, quái lạ, hư vô: "Đi giữa bến U Huyền và Hiện Thực, chúng tôi sẽ nói thay cho tiếng nói những loài ma. Chúng tôi sẽ khóc lên cho những nỗi oán hờn chưa giải. Chúng tôi sẽ bắt hiện lên những đường lối U Minh. Chúng tôi sẽ kể lại những cuộc viễn du trong những thế giới âm thầm sự vật…" (Bản tuyên ngôn tượng trưng) [98, 1237].
Trong Thơ mới, chúng ta còn bắt gặp sắc thái biểu hiện của cái tôi trữ tình nhiều dự cảm, thích “ra đi”. Khác với tầng lớp tư sản, tiểu tư sản Tây Âu cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XIX mang nặng ý thức chống lại cuộc cách mạng Pháp và phong trào khai sáng, tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản nước ta nói chung luôn mang nặng tư tưởng yêu nước, tinh thần dân tộc. Giai cấp tư sản nước ta vốn nhỏ bé, lại bị đế quốc chèn ép; giai cấp tiểu tư sản có bộ phận đã từng tham gia các phong trào cách mạng dân chủ, chịu ảnh hưởng phong trào vô sản trong nước và trên thế giới nên dẫu khi thoát li đấu tranh xã hội, trong nỗi buồn và cô đơn của họ vẫn phảng phất tâm sự của người dân mất nước, mang nhiều dự cảm của những cuộc “ra đi” vì nghĩa lớn. Song, sự biểu hiện nhiều khi chưa rõ, lại chứa đựng mâu thuẫn, Hoài Thanh cho là “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” [138,275].
Trong thơ Thế Lữ, đó là hình ảnh khách “chinh phu” “Ghét lũ vô nhân, giận nỗi hờn”, biết gác lại tình riêng “Trong lúc non sông mờ cát bụi/ Phải đâu là hội kết uyên ương” để “Bấy lâu non nước mải xông pha/ Chưa phút dừng chân, chưa lúc nghỉ” (Tiếng gọi bên sông). Vị “khách chinh phu” đang “Ta đi theo đuổi bước tương lai”, nhưng tương lai là gì thì chưa thấy biểu hiện. Đó phải chăng là tâm trạng của lớp thanh niên chán đời, thoát li, muốn “ra đi” nhưng đi đâu, làm gì thì “gió bốn phương” vẫn còn “thẩn thờ..” (Giây phút chạnh lòng).. Điều đáng qúy là họ bơ vơ trong lí tưởng nhưng không là những kẻ phản động, không sống hèn, sống nhục.
Trong thơ Huy Thông, niềm say mê thiên nhiên, say mê tình yêu luôn mâu thuẫn với chí hướng, sự nghiệp của người anh hùng. Ở Tiếng địch sông Ô, mối tình đẹp đẽ giữa Hạng Vũ và Ngu Cơ không giúp ích gì cho Hạng Vũ. Nhà thơ ca ngợi Kinh Kha, ca ngợi sự nghiệp anh hùng của Hạng Vũ nhưng lại chủ yếu đi tìm cái đẹp trong sự thất bại.
Trong thơ Trần Huyền Trân, cái tôi đau buồn chứa đầy khát vọng tự do được thể hiện rõ hơn qua Độc hành ca, Lòng chiến sĩ. Độc hành ca là nỗi nhớ một người bạn ở chiến khu được thể hiện qua sắc thái giọng thơ hô hào như thơ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh:
...Chẳng hoài thóc giống vất vương,
Giếng khô lấp mặt cây vườn rụi hoa.
Trách nào trái rụng hương xa,
Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao...
Đặc biệt, trong giai đoạn cuối của Thơ mới, cái tôi trữ tình dự cảm, mang tính dự báo xã hội được biểu hiện đậm nét trong sáng tác của Thâm Tâm. Trước hết, cái tôi trữ tình trong thơ Thâm Tâm cũng là một cái tôi đau buồn với những cảnh đời đen bạc, u uất. Nhưng, nỗi buồn không dẫn nhà thơ vào sự bế tắc, đóng kín trong “miếu nguyệt”, “vườn hoang”, “gác xép” như Vũ Hoàng Chương hay tìm sự cứu rỗi nơi tôn giáo, cõi hư vô giống Hàn Mặc Tử, Bích Khê,... mà Thâm Tâm chọn con đường nhất quyết ra đi. Thơ Thâm Tâm có 18 bài thì 13 bài nói đến sự ra đi. Nhưng, cũng như các nhà thơ khác, đi đâu và làm gì, nhà thơ không nói rõ ra. Song, đọc những vần thơ như:
- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không...
(Tống biệt hành)
- Chữ nhân sáng rực sao trời
Đường xe mở rộng chân người bước xa...
(Tráng ca)
- Uống dăm chén rượu quăng tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men
Thú với hào hùng chí thiếu niên,
Vỗ vai sang sảng giọng Bình Nguyên...
(Can trường hành)
- Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một hội quần anh
(Vọng nhân hành)
chúng ta sẽ phần nào hiểu thấu được nỗi niềm của họ. Chính vì lẽ đó mà ngay khi Cách mạng tháng Tám về, họ đi theo cách mạng, tham gia kháng chiến, và nhiều người trong số họ đã anh dũng ngã xuống cho nền độc lập của dân tộc.
(còn tiếp)
Nguồn: Thơ Mới 1930-1945 – Nhìn từ sự vận động thể loại. Khảo luận của Hoàng Sỹ Nguyên. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info
|